Chuyên mục
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 1
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 2
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 3
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 4
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 5
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 5
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 6
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 6
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 7
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 10
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 12
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 16
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Phần 21
Phần 22
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 17
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 18
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 19
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Sách kỷ niệm
Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Kỷ Niệm Về Nhạc Sĩ Anh Bằng
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Kỷ niệm về thi sỹ Hà Thượng Nhân, Dòng thơ bất tử
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Sách Kỷ Niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ
Phần 1
Phần 2
Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Văn học
Văn
Thơ
Nghệ thuật
3 videos clips của buổi TalkShow trên đài truyền hình BYN
Âm nhạc
Âm nhạc
Archive
Music Online

There seems to be an error with the player !

Hình ảnh
Video Clip
TTVDDT 18 - Phần 16
Chủ nhật, 05 Tháng 10 2014 15:04

BỘ MÔN THƠ

Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định. Học Petrus Ký và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn . Cấp bậc Thiếu Tá trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Vợ là nhà văn nữ Thụy Vũ. Ở tù gần 13 năm từ sau 1975 Ông sang Mỹ theo diện cựu tù nhân chính trị. Một trong những cây bút nòng cốt của nhóm Sáng Tạo. Tô Thùy Yên, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, cùng với các họa sĩ Duy Thanh, Ngọc Dũng, là những người nòng cốt của nhóm Sáng tạo, một nhóm sáng tác đã từng được biết đến với phong trào khai sinh “Thơ Tự Do” trên văn đàn Miền Nam vào thập niên 1960. Cả hai tập thơ Tuyển tập thơ Thùy Yên (1995) và Thắp Tạ (2004) đều được xuất bản ở Mỹ sau khi ông đến định cư ở quốc gia này vào năm 1993.
Thơ đăng rải rác trên các tạp chí Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Văn, Hợp Lưu ... Thơ Thùy Yên xuất bản ở Hoa Kỳ năm 1995. Các bài thơ thành công nhất của Ông có cái hoàn hảo của những tác phẩm cổ điển.


Tô Thuỳ Yên

Ta Về

Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay

Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ

Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay

Chỉ có thế. Trời câm đất nín
Đời im lìm đóng váng xanh xao
Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi, đất bạc màu

Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió cuối mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ

Một đời được mấy điều mong ước
Núi lở sông bồi đã mấy khi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi

Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng

Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này

Ta khóc tạ ơn đời máu chảy
Ruột mềm như đá dưới chân ta
Mười năm chớp bể mưa nguồn đó
Người thức mong buồn tận cõi xa

Ta về như hạt sương trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời
Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt
Tội tình chi lắm nữa người ơi

Quán dốc hơi thu lùa nỗi nhớ
Mười năm người tỏ mặt nhau đây
Nước non ngàn dặm bèo mây hỡi
Đành uống lưng thôi bát nước mời

Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh
Ai gọi ai đi ngoài cõi vắng
Dừng chân nghe quặn thắt tâm can

Lời thề buổi ấy còn mang nặng
Nên mắc tình đời cởi chẳng ra
Ta nhớ người xa ngoài nỗi nhớ
Mười năm ta vẫn cứ là ta

Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên
Nhà cũ mừng còn nguyên mái, vách
Nhện giăng, khói ám, mối xông nền

Mọi thứ không còn ngăn nắp cũ
Nhà thương-khó quá sống thờ ơ
Giậu nghiêng cổng đổ, thềm um cỏ
Khách cũ không còn, khách mới thưa

Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi
Hãy kể lại mười năm chuyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi

Chiều nay ta sẽ đi thơ thẩn
Thăm hỏi từng cây, những nỗi nhà
Hoa bưởi, hoa tầm xuân có nở?
Mười năm, cây có nhớ người xa?

Ta về như đứa con phung phá
Khánh kiệt đời trong cuộc biển dâu
Mười năm, con đã già trông thấy
Huống mẹ cha đèn sắp cạn dầu

Con gẫm lại đời con thất bát
Hứa trăm điều một chẳng làm nên
Đời qua, lớp lớp tàn hư huyễn
Giọt lệ sương thầm khóc biến thiên

Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng
Chờ anh như biển vẫn chờ sông

Ta gọi thời gian sau cánh cửa
Nỗi mừng giàn giụa mắt ai sâu
Ta nghe như máu ân tình chảy
Tự kiếp xưa nào tưởng lạc nhau

Ta về dẫu phải đi chân đất
Khắp thế gian này để gặp em
Đau khổ riêng gì nơi gió cát
Thềm nhà bụi chuối thức thâu đêm

Cây bưởi xưa còn nhớ, trắng hoa
Đêm chưa khuya quá hỡi trăng tà
Tình xưa như tuổi già không ngủ
Thức trọn, khua từng nỗi xót xa

Ta về như giấc mơ thần bí
Tuổi nhỏ đi tìm một tối vui
Trăng sáng soi hồn ta vết phỏng
Trọn đời nỗi nhớ sáng khôn nguôi

Bé ơi, này những vui buồn cũ
Hãy sống, đương đầu với lãng quên
Con dế vẫn là con dế ấy
Hát rong bờ cỏ giọng thân quen

Ta về như nước Tào Khê chảy
Tinh đẩu mười năm luống nhạt mờ
Thân thích những ai giờ đã khuất
Cõi đời nghe trống trải hơn xưa

Người chết đưa ta cùng xuống mộ
Đâu còn ai nữa đứng bờ ao
Khóc người ta khóc ta rơi rụng
Tuổi hạc ôi ngày một một hao

Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh

Ngồi đây nền cũ nhà hương hỏa
Đọc lại bài thơ thủa thiếu thời
Ai đó trong hồn ta thổn thức
Vầng trăng còn tiếc cuộc rong chơi

Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thủa trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta.

 

Đọc thơ TTY

Thơ Tô Thùy Yên,
Chênh Vênh Siêu Hình, Hiện Thực

- Trần Hữu Thục -

Gặp lại nhau, nhìn sững chẳng ra
Em thay đổi quá, tựa sơn hà
Thơ làm không kịp theo dâu biển
Mắt dẫu khô mà nhớ lại hoa
(Tô Thùy Yên)
***
Tô Thùy Yên (TTY) 1 làm thơ từ hồi còn rất nhỏ. Bài thơ đầu tiên đưa đăng báo được in ở tạp chí Đời Mới do nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh chủ trương, vào lúc ông 16 tuổi. Theo ông, bài thơ đó, "chắc chắn không phải là một bài thơ hay và ngày nay tôi chẳng còn nhớ nó như thế nào nữa"2. Năm 1956, một bài thơ khác in ở trên Sáng Tạo – tạp chí mở ra một thời kỳ mới của văn học nghệ thuật Việt Nam: Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu. Đó là một bài thơ mà những ai yêu mến văn học nghệ thuật không thể quên. Nó là dấu mốc của một chuyển biến sâu xa trong nền văn học miền Nam mà cũng là trong nền văn học VN. Gần 40 năm sau, tập thơ đầu tay mới ra đời: Thơ Tuyển Tô Thùy Yên, xuất bản ở Hải Ngoại năm 1995, lúc nhà thơ đã… 56 tuổi đầu. Thêm chín năm nữa, tháng 8/2004, tập thơ thứ hai ra đời: Thắp Tạ. Bìa trước của tập thơ mới này ghi:

thức cho xong bài thơ
mai sớm ra đi
cài hờ lên cửa tặng

Đây là bài thơ ngắn nhất của tác giả (trong lịch sử thi ca, chắc cũng không có mấy bài thơ ngắn hơn), Tặng phẩm. Lời thơ nghe như có ý nói rằng "Thắp tạ" là tập thơ cuối cùng trong đời ông? Mong rằng tôi hiểu sai.
Cảm giác đầu tiên của tôi khi đọc thơ TTY là ngạc nhiên vì một số điểm có vẻ như "tương phản" trong thơ ông.
- Bài thơ (được xem) như đầu tay, "Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu" làm lúc còn là một thiếu niên - không phải là một bài thơ tình học trò với những rạo rực yêu đương, mộng tưởng, nhớ nhung vớ vẩn - mà lại là một bài thơ đẫm triết lý; không phải là một thứ triết lý vớ vẩn, mà là chứa chất một cái nhìn rất bao quát, được tiếp tục được triển khai qua nhiều bài thơ về sau này, dưới những cách diễn đạt khác nhau về hữu hạn/vô hạn. Suốt mười lăm câu, tuyệt không có một từ ngữ triết lý nào, cũng không ám chỉ một ý niệm triết lý nào. Toàn bài là một bức tranh sinh động, rất đẹp, rất hoành tráng và chấm dứt bằng một bi kịch đầy ấn tượng: tàu chạy mất và con ngựa thì gục ngã. Một gục ngã êm đềm, thẩm mỹ! Một ẩn dụ triết lý tuyệt vời!
- Thơ TTY rất nhiều khái niệm hoặc hình tượng triết lý – lời thơ đôi khi bí hiểm, khó hiểu – thì đồng thời lại không thiếu những hình ảnh hiện thực, có thể nói còn hiện thực hơn cả những nhà thơ hiện thực nhất.
- Thơ Tô Thùy Yên rất hiện đại, rất cách tân, trong lúc lại không thiếu gì những bài, những đoạn, những câu thơ rất cổ điển, rất tiền chiến, rất thơ mới. Bên cạnh "Tôi chạy cắm đầu trên sợi kinh hoàng/Giăng qua đôi bờ vực lạnh hư vô", chẳng hạn, ta lại đọc thấy "Có gã hề cuồng ra giữa chợ/Hát ngao những đoạn sấm truyền xưa/Bao giờ gió thổi cơn nồm lớn/Minh chúa giong thuyền ra cố đô" (Mùa Hạn) phảng phất không khí cổ điển hoặc "Bao giờ cho đến bao giờ nữa/Em gánh vui về họp chợ đông/Lòng ngát như hoa còn kịp buổi/Áo chưa người giữõ để xin buông" nghe như thơ tiền chiến. Lại có đoạn rất Kiều: "Đêm nằm, lệ chảy mòn tay/Nghe chừng đá nát vàng phai đến điều/Mịt mùng gió lửa liu hiu/Bóng nào khóc, bóng nào kêu, não nùng" (Hái rau)
Về điểm này, Nguyễn Hưng Quốc nhận xét "Có thể dễ dàng tìm thấy trong thơ Tô Thùy Yên vô số những dấu vết của truyền thống bên cạnh vô số những điểm cách tân độc đáo: cả hai hài hòa với nhau làm cho thơ ông, ở những bài thành công nhất, có cái hoàn hảo của những tác phẩm cổ điển"3.
Lúc đầu đời, loại thơ xuôi của ông đầy những cách tân, cả về cấu trúc lẫn cách sử dụng từ ngữ và hình ảnh. Hãy đọc thử:

"Với thân thể lân tinh, em sáng lên trong bóng tối, hạt kim cương rạng ngời trong mỏ than đêm, anh trông thấy em không nhầm lẫn được. Với thịt da gỗ quý, giọt mật tinh khôi nằm giữa đài hoa thơm nức, em dâng hương anh, gã du mục lạc loài trong nhớp nhúa. Em là chiếc thuyền đời thượng cổ chở đến anh hoa trái tốt tươi ngọt ngào của miền đất anh đã biết qua thần thoại"
(Lễ Tấn Phong Tình Yêu)

Dù cách diễn tả rất mới, rất tới, nhưng bài thơ suôn sẻ, tình tứ như thế có cái gì như làm dáng và sáo, thậm chí ngoa ngôn. Tôi đồng ý với một nhận định của Bùi Vĩnh Phúc khi cho rằng, qua "Lễ tấn phong tình yêu", "Ngôn ngữ và hình ảnh trong thơ Tô Thùy Yên đã có những nét khác lạ so với hình ảnh và ngôn ngữ của những người thơ cùng thời. Nhưng cho dù có thế đi nữa, hình ảnh thơ của Tô Thùy Yên trong giai đoạn này vẫn còn tính chất nạm bạc, đặc biệt nếu ta đọc toàn bài. (…) Đọc kỹ, chúng ta thấy TTY đã có nỗ lực làm mới hình ảnh, làm mới cách nhìn trong thơ mình. Trong nỗ lực đó, ông viết được những câu thơ có vóc dáng lạ. Nhưng dù sao, như đã nói, đó vẫn là một sự dát vàng cẩn bạc của TTY trong giai đoạn này. (…) Hình ảnh và ngôn ngữ thơ vẫn chưa hoàn toàn đạt được sự ung dung tự tại"4.
Một vài bài khác, cũng làm trong giai đoạn này, chứa một hơi thơ khác hẳn bài trên, ít nhiều nhiễm không khí triết lý:

Tôi châm điếu thuốc nữa
Đốt tàn thêm tháng năm
Chiếc bắc xa dần bến
Đời xa dần tuổi xanh
(Đêm Qua Bắc Vàm Cống)

TTY cảm nhận đau thương, cảm nhận cô đơn, nhưng không phải cái đau thương, hay cô đơn xuất phát từ bất hạnh cá nhân – mà là thứ cô đơn, đau thương có tính nhân quần. Và có tính khái niệm. Mấy câu sau này lại càng có vẻ "khái niệm" hơn nữa:

Có đọc thuộc thánh thư
Linh hồn tôi vẫn vậy
Tôi vẫn không thể lạy
Dù đứng trước hư vô
Đầu tôi cứng và trơn
Thượng Đế làm sao ngự
Tôi đành trốn chủ nợ
Định mệnh đòi linh hồn
(Thân Phận Của Thi Sĩ)

Hai bài thơ có những trích đoạn trên cũng như một vài bài thơ khác như "Thi sĩ", "Tội nghiệp", ta thấy ông đưa vào các thuật ngữ triết lý. Từ ngữ và ý thơ mang tính cách khai phá, rõ ràng phần nào chịu ảnh hưởng của trào lưu hiện sinh đang từng bước chinh phục không khí văn học miền Nam thời đó. Nhưng giờ đọc lại, tôi thấy chúng - hay thì có hay, tất nhiên - nhưng vẫn có vẻ gượng gạo. Cái chất TTY đặc thù chưa thấy xuất hiện. Phải đến những bài như "Đãng tử", "Mòn gót chân sương nắng tháng năm" hay "Bất tận nỗi đời hung hãn đó", vân vân, ta mới thấy định hình một Tô Thùy Yên thực sự, một TTY như ta biết hiện nay.

Thuận tay, ta ngắt một cành sậy
Làm cây sáo thổi cạn hồn sầu
Bay tản khắp vô cùng trống trải
Âm thừa tưởng lạc đến muôn sau
(Đãng tử)

Hơi thơ mềm mại, ý thơ lãng đãng, mông lung y như chẳng nói lên điều gì rõ rệt, khác hẳn với mấy đoạn thơ trên. Đọc thử một đoạn trong một bài thơ khác:

Tàu đi, những chấn động hung hãn
Sắt thép kinh hoàng va đập nhau
Ta tưởng chừng như thời đại động
Xô đi ầm ĩ một cơn đau
(Tàu đêm)

Nghe ghê! hung hãn, kinh hoàng, va đập, thời đại động, ầm ĩ. Đoạn thơ này cũng cho ta cảm giác ngoa ngôn vì từ dùng rất kêu, nhưng ngôn ngữ chắc, khỏe, vừa để diễn tả chuyến tàu chở tù thời kỳ đó (tàu thì cũ, đường sắt thì quá cổ lỗ sĩ, vừa mới phục hồi) vừa diễn tả tâm trạng hoang mang, dao động, tuyệt vọng của những người tù đang trên đường bị đi đày biệt xứ. Cả hai đoạn trích trên khác hẳn nhau về hơi thơ, ý thơ, thi ảnh, khác nhau cả về cấu trúc lẫn ngôn ngữ, nhưng lại có một điểm giống nhau: lạ. Ấy, Tô Thùy Yên! Tôi sẽ cố gắng trình bày cái "lạ" đó qua suốt bài này. Trong khả năng cho phép.

Chữ nghĩa TTY
TTY làm nhiều thể loại thơ: thơ năm chữ, thơ bảy chữ, thơ xuôi, thơ tự do, thơ lục bát, thơ phá thể. Ngắn có (bài "Tặng phẩm" chỉ có 14 chữ), dài và rất dài có (bài "Mùa hạn" thơ bảy chữ, gồm đến 188 câu, 1326 chữ). Như đã nhận xét từ đầu bài, chữ nghĩa TTY pha trộn giữa truyền thống và cách tân. Bên cạnh những từ và cụm từ hiện đại như hư vô, ý thức, Thượng Đế, sự can trường của hiện hữu, thám hiểm tương lai…ông tận dụng các từ ngữ với ý nghĩa rất cổ điển như : vạn cổ, bí lục, thiên thu, phù du, quan san, kinh thiên, dương thế, gậy trúc, tào khê, trăm họ, thánh đế, sấm truyền; các đặc ngữ dân gian: chớp bể mưa nguồn, hạc vàng thương nhớ, chờ anh như biển vẫn chờ sông, vàng đá nhắn quan san, ngựa đá đã qua sông, nước non ngàn dặm, núi lở sông bồi, đá nát vàng phai, chút phận long đong, bóng xế đường dài…
Đồng thời, ông sáng tạo nhiều và nhiều cụm từ rất lạ: ngổn ngang câm, bất an già, khoảng cách đặc, án tử hình treo, lãng quên xanh, nỗi sầu vô dạng, u hoài mốc, gió hao đuối, rợp hải hà, rớt nắng, nắm níu, nhớ hư hoặc, một phía mê tưởng, lưu cữu gió, vũng vướng mắc, ráo gió, úng máu, thiu hồn, muối muộn, đuối kiệt, ngất tạnh khuya, réo đuối… Ở điểm này, ta có thể so sánh TTY với Trịnh Công Sơn. Cả hai đều là những người "đẻ" ra nhiều từ mới hoặc sử dụng từ cũ với một ý nghĩa mới. Ở TCS, ta có nào là tuổi đá buồn, vết lăn trầm, lời buồn thánh, nắng khuya, hạ trắng, bồn gió hoang... nào là dài tay em mấy, cồn đá… Nhưng ta ghi nhận một khác biệt: chữ nghĩa TCS dường như thoát thai từ trực giác, còn chữ nghĩa TTY thì là một dụng công đầy ý thức (như sẽ đề cập ở đoạn sau); một điểm khác, TCS do vướng trong việc phổ nhạc nên tương đối bị giới hạn trong lúc TTY tự do hơn nhiều, nhất là khi ông không còn xem trọng chuyện vần điệu trong thơ.
Có một nỗ lực rất lớn của TTY trong việc sử dụng từ ngữ để diễn đạt sự vật ngoại giới và tâm cảnh của mình. Ông tìm cách bóc tất cả những lớp vỏ bọc quanh hiện thực bằng cách huy động đủ loại từ ngữ, phối trí chúng trong một cấu trúc theo kiểu riêng của ông5. Dường như ông muốn đi đến tận cùng bản thân chúng để tìm thấy cái gì còn ẩn dấu đàng sau hoặc nằm bên trong sự vật. Từ cũ dùng đúng nơi đúng chỗ. Từ mới gây ra ấn tượng mạnh. Đồng thời tận dụng các đặc ngữ, quán ngữ vừa để làm "mềm" câu thơ hoặc làm dịu đi những cách diễn đạt quá mới vừa là một cách điều hòa tinh tế nhằm tạo hiệu quả cao nhất nơi người đọc. Thơ ông không quá tối tăm, khó hiểu, nhưng để hiểu được, đòi hỏi người đọc phải vận dụng tri thức, kiến thức và óc quan sát tinh nhạy. Đọc thơ TTY không thể chỉ đọc bằng trực giác vì chúng không gây nên xúc động lập tức nới người đọc. Chúng đã không cho những thi ảnh trơn tru, thuận tai, gợi hình, gợi tình; đã thế, lại đưa ta vào một không khí đầy trầm tư mặc tưởng, đôi lúc khá ngột ngạt.
Ông có lối diễn đạt sự vật, cảnh vật chung quanh rất sống động bằng cách sử dụng những tính từ, động từ một cách khá bất ngờ. Xin dẫn ra đây một số:
- Động vật: chim "giục giã" hay "hớt hãi kêu van", con ngựa "cuồng bão táp", chó "tru thăm thẳm", di điểu "xẻ luống sầu", con quạ "kêu ran", con còng "ẩn nhẫn bò".
- Thực vật: cây "nứt nở vỏ", "bật gốc" hoặc "sưng vết chặt lồi"; rong thì như những "tầng buồn"; hàng cây dương thì "bất an già"; rễ cây "bung" hay "gượng"; cỏ tranh "khom mỏi"; tàu chuối "reo ngất ngất"; cây xương rồng "gắng gượng".
- Sự vật: con rạch "đen nồng", chiếu chăn "bức bối"; con đường "duỗi sáng" hay "rọc điếng"; hàng rào chà cản nước "nỗ lực lao đao"; nước ao "lền đặc"; gềnh đá "nhọn rách tơi"; bãi biển "trơ trẽn"; tàu chạy "khoan xoáy" hay "rú"; máu "bung".
- Những hiện tượng tự nhiên: gió "khốc liệt" hay gió "sửa soạn"; thủy triều "sôi"; mùa hè "cọ xát" hay "xô xát reo vang" hay "nhức rát"; biển "nhẫn nại", "tang chế"; nắng "nứt ran ran", mặt trời "rã"; khuya "rụng rời"; đêm "tối lền".
- Những ý niệm, trạng thái hay cơ cấu: lịch sử khi thì "ngất lả", khi thì "thịnh nộ", khi thì "mài thê thiết"; tứ thơ thì "xiêu tán"; kỷ niệm "buông", "rú", "chìm"; (cái) bất-khả-tư-nghì "đá chởm"
Có những câu, mới đọc, ta tưởng nhà thơ đang nói đến một điều "bất khả tư nghì"6 nào đó. Không. Ông tả chân, rất tả chân. Chẳng hạn:
- rền hoa: tim đèn dầu thắp lâu ngày, phía trên cháy thành than xòe ra như một bông hoa nở.
- Mái ngói nghiêng triền trái rụng lăn. Một cách đảo ngữ khá thú vị. Nó khiến cho một chi tiết thực dường như biến thành hư. Đó chỉ là tiếng trái cây rụng và âm thầm lăn trên mái nhà nghiêng. Để ý, nhà thơ dùng những động từ kế tiếp nhau để diễn tả chuyển động: rụng, lăn.
Thủ pháp này được ông dùng rất nhiều để gom ý, cô đọng ý và tạo cảm giác lạ:
- Thả/trôi hồn một tấu khúc chừng quen
Dềnh/giạt về những quá khứ bỗng ngoi nổi
Thả, trôi, dềnh, giạt, ngoi, nổi đều là những động từ.
Một câu khác:
- Kỷ niệm buông tay rú - ngất- chìm
Buông, rú, ngất, chìm là những động từ.
Cũng một thủ pháp như thế, nhưng là tính từ, là danh từ hay là một kết hợp giữa các loại từ:
- Phòng biệt giam tối mốc thấp hẹp (tính từ)
- Tốc độ cao gài cố định mặc (cố định, mặc kệ cho nó chạy)
- Trời sao có hồi cũng đuối kiệt (đuối sức, kiệt lực)
- Và trong những khoảnh đèn khoét đọng lẻ quạnh (khoét ra, đọng lại, lẻ loi, quạnh quẽ)
Từ Hán-Việt cũng được sử dụng trong một vài trường hợp bất ngờ:
- Hàng tre cổ chĩu đầu lưu cữu gió (tre trĩu ngọn xuống để lưu cữu - cố giữ - gió lại)
- Ta ngồi bên đống lửa man rợ - Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế - Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi
- Hừng đông hùng vĩ và thanh thản
Nói chung, chữ nghĩa ông rất chọn lọc, nghe lạ tai mà chính xác, khiến câu thơ mang ngay một vóc dáng khác thường, tăng cường thêm ý nghĩa cho chính nó:
- Mưa lâu trời mốc, buồn hôi xưa (Qua sông)
- Rêu mốc mờ thêm những đã mờ (Huế oán)
- Trăng thiếp, sao meâ, sông ráo gió
Buồn lan sóng nối, tản không tan (Nhớ có lần, trên bến bắc khuya, nghe một ông lão đàn hát)
Kết cấu tinh xảo:
- Thăm thẳm trưa, thời gian chết xanh (Vườn hạ)
- Quán chật xanh lên rừng lính ướt (Qua sông)
- Nghi ngút khuya thiên cổ dặm mù (Thao thức)
Ngoài ra, ta nhận thấy TTY khoái sử dụng từ trắc ở chữ thứ năm trong câu thơ bảy chữ khiến câu thơ có một nhịp điệu riêng biệt, hình thành một phong cách khá đặc thù của thơ TTY:

- Bốn trăm hải lý nhờ không tới
- Mùa gió xoay chiều, giờ khốc liệt
- Sông hồ nẻ đáy giếng vô vọng

Loại câu trên nằm lai rai ở nhiều bài. Có bài, như "Đêm quan ngoại", kỹ thuật đó được sử dụng hầu như toàn bài, đại loại như: Tạt vào, giũ phủi bóng đêm bám/Gối đầu lên một chỗ không lý/Giờ này đã khuya khoắt thiên cổ… Ta biết, những từ thứ năm trong những câu thơ cước vận trắc, nếu gieo vằn bằng, thì đọc lên nghe trơn tru, thuận mồm hơn. Dùng các từ trắc ở đây khiến câu thơ nghe như có cái gì chẹn, nghẹn lại, gây nên cảm giác bế tắc, lúng búng. Quả thật vậy, đọc chúng, ta thấy ngay tác giả muốn diễn tả những cảm giác day dứt, bất an.
Những bài thơ làm thời gian sau này (trong Thắp Tạ), TTY đều sử dụng nhiều từ và cụm từ trắc để diễn tả tâm tình đặc biệt của mình: những nỗi niềm khuất tất, trạng thái ngơ ngẩn cuối đời khi "quỹ thời gian" đang mỗi ngày mỗi cạn (như Soi mệnh, Tỵ khách, Nỗi lần mình giở). Chẳng hạn:

Giấc mộc đè cứng nghẹn dẫy la
Gà nửa khuya gáy xộ trăng muộn
Sòng phẳng án khổ hình vắt đá lấy máu viết
Viết, viết như chép phạt những điều thừa
Về một kỳ tích tối cổ mãi hư bại.
(Soi mệnh)

Đoạn thơ trên mà so với những câu, cũng của ông, như: "Thấy gì chăng, chẳng thấy gì/Nước rào, trăng rạt, ta thì mỏi mê/Chầy khuya, nước ủ trăng ê/Uổng công, bãi ấy đi về một ta…" (Đi Về) thì quả là khác nhau một trời một vực. Nói chung, chúng không khó hiểu lắm nhưng lại rất khó đọc. Chữ nghĩa ngổn ngang. Hơi thơ u uất. Vẫn là những ám ảnh siêu hình về thời gian, vô hạn, biến dịch. Ở đây, tôi ghi nhận một khác biệt. Thuở đầu đời, nhà thơ nghênh ngang đối đầu với/và có vẻ "thưởng thức" cái hữu hạn của con người, ném hữu hạn trước vô hạn như một thách đố, thậm chí không giấu nỗi hân hoan:

- Giá ta được lên cao, lên cao
Để ngắm nhìn một lần thấu suốt Định Mệnh ta
Trước ngày từ biệt nó
(…) Ta cố gắng làm người. Con người vô ích sáng choang như món hàng đeo lên Hư Vô đen ngời bóng lộn
(Bất tận nỗi đời hung hãn đó)

Hay:

Hoàng hôn xô bóng ta trên cát
Ta lớn lao và ta cô đơn

Vào lúc sau này, tuổi xế bóng, cái nhìn có khác, nghe ra rất ngậm ngùi:

Quá một hạn tuổi nào,
Sống nữa hầu như để giữ sống
Qua ngày một trí nhớ lâm chung.
Đâu rồi gã trẻ người bạt mạng lao đầu
Vào những bất khả tư nghì đá chởm
(Soi mệnh)

Tính siêu hình
Nhà thơ TTY không đến với sự vật như những kẻ thân thiện để ngắm nghía, chia sẻ, thông cảm, tìm hứng hay tìm cái đẹp, mà là để nghi hoặc, liên miên tra vấn và như thể tìm cách đẩy chúng vào cuộc chơi. Dường như ông hóa thân vào sự vật, đánh thức chúng dậy. Trong thơ TTY, dấu vết cảm hứng khá mờ nhạt, đúng như nhận định của Nguyễn Hưng Quốc, theo đó, TTY "trước hết là một nhà thơ trí thức (…) có thể thấy một đặc điểm lớn trong phong cách TTY: ông bắt đầu sự nghiệp làm thơ một cách đầy tự giác. Ông không cậy vào cảm hứng, vào năng khiếu, như hầu hết những nhà làm thơ khác"7. Ông vận dụng cả ý thức, lẫn kiến thức và óc quan sát tinh tế để làm thơ. Nếu chú ý, ta sẽ thấy ông luôn luôn chủ động kiềm chế chữ nghĩa, không bị chi phối bởi thói quen và ngẫu hứng8. Rõ ràng là ông làm thơ không chỉ để diễn tả những xúc động cá nhân trước thiên nhiên, trước thân phận hay những cảnh đời ngang trái. Ông triển khai giòng thơ xa hơn, sâu hơn9, tiến vào lãnh vực vô thể, tức là lãnh vực của thế giới ý niệm. Do vậy, tính chất siêu hình bàng bạc trong hầu hết những bài thơ của ông10. Trả lời cho câu hỏi "Triết học và thi ca là những phạm trù khác nhau. Nhưng có nhiều người làm thơ triết học. Theo anh, có biên giới nào giữa thi ca và triết học không" của Nguyễn Mạnh Trinh, TTY hỏi lại "Có thật có một loại thơ gọi là thơ triết học sao?"11. Rõ ràng là nhà thơ không mấy mặn mà với khái niệm về một loại thơ riêng biệt gọi là thơ triết lý, tất nhiên trong đó có thơ ông. Thơ là thơ. Nhưng là một người đọc yêu mến thơ ông, tôi thích gọi thơ TTY là thơ triết lý. Ta có thơ tình, thơ chiến đấu, thơ thiền, thì nếu thêm từ thơ triết lý, đâu có sao. Cũng chỉ là một cách gọi. Tạm gọi. Cho có cái cớ đi trọn bài này. Rồi thôi.
Mà không phải thơ triết lý sao được. Này nhé:

Nên ta phó mặc cho trời đất
Trời đất vô ngôn lại bất nhân
Nên ta lẳng lặng đi đi khuất
Trong lãng quên xanh hút thời gian

Cái gì vậy? Yêu? Nhớ? Mong chờ? Nuối tiếc? Thiền? Không có cái nào là đúng hết. Chỉ còn một cách: đó là thơ… triết lý! Còn gì nữa đây:

Bìm bịp chiều chiều kêu nước lớn
Đi, đi đâu, chèo chống mỏi mê?
Đến ngả ba, đành theo một lối
Tiếc ngẩn không cùng theo lối kia
(Đãng tử)

Dạ, một diễn tả "rất thơ" về song quan luận (dilemma), thuộc lãnh vực luận lý học.
Rõ là thơ triết thì khác với triết lý. Các triết gia dùng khái niệm để diễn đạt tư tưởng triết học, đi tìm chân lý, và khi tìm ra cái gọi là chân lý rồi, họ yên tâm núp trong pháo đài của mình. Tưởng thế là xong! Nhà thơ không hề đi tìm chân lý, nên suốt đời lang thang, là một "gã hề cuồng", không nơi ẩn nấp: không có gì gọi là hoàn tất trong cuộc đời này. Mọi thứ đều dang dở, bất toàn. Bởi thế, nếu đọc triết cho ta cảm giác an toàn vì mọi câu hỏi dường như đều đã có lời giải, thì đọc thơ bao giờ cũng cho ta cảm giác chênh vênh, bất định. TTY gọi triết gia hay nhữõng nhà tư tưởng lớn là "các vương tôn miền trí tuệ/Mưu đồ đo đạc cả Vô Biên". Còn nhà thơ thì:

Ta ngắm gốc cây nứt nở vỏ
Gốc cây to đến mấy người ôm
Nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn
Trí ta không đủ lực đo lường
Vì khác với các triết gia, tâm thức của một nhà thơ:
Câu hỏi vạn niên, lời đáp nhất thời
Chữ nghĩa rối bời gai góc loạn
Con đường suy tưởng thật lang thang
Ngày một xa thêm chân lý lớn
(Chim bay biển Bắc)

Đoạn này "thơ hóa" một trong những vấn nạn lớn của triết học cổ kim: có thể tìm thấy chân lý bằng chữ nghĩa và suy tưởng không? Nhà thơ dứt khoát: càng chữ nghĩa, càng suy tưởng, nghĩa là càng tìm cách đạt đến chân lý thì người ta càng xa chân lý. Vả lại, làm gì mà có chân lý cơ chứ! Nói TTY làm thơ triết lý có nghĩa là nhà thơ "thơ hóa" các suy tư thuần lý, thêm da thêm thịt cho chúng, ban cho chúng đời sống. Cũng là một cách phá vỡ các ảo tưởng duy lý. Hay mượn một hình ảnh "đắt giá" của TTY: Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ/Chấm giữa nền nhung một vết nâu trong bài thơ đầu đời "Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu". Có lẽ không có mô tả nỗ lực thất bại của con người nào nên thơ bằng hình ảnh tuyệt đẹp của con ngựa TTY. Thơ TTY, hiểu theo một cách nào đó, là sự khai thác hình ảnh này qua hàng hàng lớp lớp chữ nghĩa sau này, theo tôi.
Những đề tài triết lý trong thơ TTY không có gì mới lạ. Vẫn là những ý niệm và hình ảnh quen thuộc ta thường tìm thấy trong triết lý Đông Phương cũng như Tây Phương (thường gọi là các phạm trù) qua mấy ngàn năm nhân loại suy tưởng: tuyệt đối, hữu hạn, vô hạn, vũ trụ, biến dịch, vô thường, thời gian, không gian, lịch sử…Hầu hết những đề tài đó được nhà thơ nhấn mạnh trong một số bài bằng cách viết chữ hoa như Chân Lý, Thiêng Liêng, Cõi Tạm, Hiu Quạnh, Vô Biên, Tương Lai, Định Mệnh, Hư Vô, Nhân Thế, Vĩnh Cửu, Lịch Sử. Chẳng hạn như:

- Có thể mai kia Thời Đại Lớn
Sáng rền trên cõi sống tinh anh
(Mòn gót chân sương nắng tháng năm)
- Dưới nét phác nụ cười thầm mê man của Định Mệnh
Để ngày ngày ta đến điều trần lặng lẽ trước Vô Cùng
Về một Hữu Hạn tuyệt vời đang phóng dụng
(Bất tận nỗi đời hung hãn đó)

Những ý niệm triết lý được nhà thơ trở đi trở lại nhiều lần bằng những cách diễn đạt khác nhau: khi thì là những suy tưởng trông rất thuần túy, khi thì là những ẩn dụ, biểu tượng, khi thì là những hình ảnh từ ngoại giới: người, sự vật, sinh vật.
Đề tài thời gian có lẽ là đề tài lớn nhất và bao trùm nhất trong cõi thơ của ông, được triển khai rộng rãi trong nhiều bài thơ khác nhau. Bài thơ đầu tiên "Cánh đồng con ngựa chuyến tàu" là một diễn tả sống động về tính bất trắc của thời gian và sự bất lực của con người. Tàu tượng trưng cho thời gian vô hạn, con ngựa tượng trưng cho kiếp người hữu hạn. Hãy xem sự rượt đuổi quyết liệt biểu lộ cho một quyết tâm của ý chí:

Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau
Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu
Càng rượt, thời gian càng chạy gia tốc:
Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau (…) Tàu chạy mau, càng mau, càng mau
Con ngựa vẫn mê mải rượt tàu, rượt tàu để cuối cùng:
Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ/Chấm giữa nền nhung một vết nâu.

Thật hào hùng và bi tráng! Một kết thúc buồn, đẹp và rất thơ. Y như một hoạt cảnh. Sau này, trong "Thắp tạ", ông diễn tả sự rượt đuổi đó một cách khác, ngắn gọn hơn (nhưng lại buồn thảm hơn):

Cố gắng
Cố gắng theo cho kịp
Cái bóng mình như có đi nhanh hơn
(Nhanh hơn)

Trong nhiều bài về sau, ông không cần dùng đến ẩn dụ mà gọi đích danh hoặc hình tượng hóa thời gian qua hình ảnh của một sự vật, một chủ thể. Đó là một cái dốc dài: Trên dốc thời gian, hòn đá tuột/Lăn dài kinh động cả hư vô; là một chiếc xe: Thời gian gia tốc, thảm thê thay; là một nhân vật khuất lấp nào đó: Ta gọi thời gian sau cánh cửa/Nỗi mừng ràn rụa mắt ai sâu; là một ngăn kéo hay một kho chứa: Ta về như bóng ma hờn tủi/Lục lại thời gian kiếm chính mình; là sợi dây:Thời gian đứt quãng dài vô định/ Như sợi dây diều băng mất tăm; vô hình vô dáng: Biển Bắc mịt mù con nhạn lạc/Thời gian mất trí trắng vô âm . Hầu hết những gì liên hệ đến thời gian xuất phát từ những ý niệm về một cái gì trôi chảy mãi, vô cùng vô tận: Trăm năm rồi lại trăm năm khác; Dòng ngày tháng trắng chảy lơ mơ; U minh ngày tháng bóng lao đao.
Ám ảnh về thời gian, trong bản chất, chính là ám ảnh về quá khứ. Quá khứ bao giờ cũng cho ta cảm giác đó là một cái gì thuộc về nguồn gốc, là bản chất của cuộc tồn sinh. Một ảo tưởng của con người: dường như càng xưa, càng cổ, càng đi về thời đại hồng hoang, nguyên thủy thì lại càng gần với "lý sơ nguyên", gần với sự Sáng Tạo vũ trụ. Khổ thay, trước quá khứ, con người hoàn toàn bất lực. Quá khứ, cũng như người chết, là mênh mang, khó hiểu. Đó là "những người thuở trước". Là người, như anh như tôi. Hỉ nộ ái ố ai bi lạc dục. "Giương cung bắn", "đi tìm mộng", "say vô hạn", "tham chung đỉnh", "diễm tuyệt dung nhan thảo mộc sầu"… Bây giờ họ đi đâu, về đâu?:

Những người thuở trước bây giờ lạc
Trong dã sử nào như bóng mây
(Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai)

Trong "Mòn gót chân sương nắng tháng năm", nhà thơ diễn tả cảm thức triết lý về nỗ lực của con người trên đường đi tìm chân lý vĩnh cửu bằng cách thực hiện một chuyến hành trình siêu hình về quá khứ, phá vỡ bức trường thành dằng dặc vô hình của thời gian:

Ta gắng về sâu lòng quá vãng
Truy tầm mê mỏi lý sơ nguyên
Hỡi ôi, dọc dọc thấy câm cứng
Mặt trợn trừng chưa dứt ngạc nhiên
(Mòn gót chân sương nắng tháng năm)

Tìm gì? Tìm cái "lý sơ nguyên", tức là cái khởi đầu, cái chân lý. Tìm thấy gì? Tuyệt không có gì. Tất cả đều "câm cứng". Câm. Cứng. Một khép chặt miên viễn. Ngạc nhiên, đau đớn, thất vọng:

Ta lại trồi lên dương thế rộn
Ngày ngày ra bãi vắng vời trông
Bóng chim, tăm cá, cành trôi dạt…
Bất luận điều chi giữa mịt mùng
(Mòn gót…)

Dương thế không thiếu chi người như thuở trước, cũng "giương cung", cũng "đi tìm mộng", cũng "say vô hạn", "tham chung đỉnh", tóm lại, cũng chừng ấy chuyện. Với nhà thơ, đó là một "dương thế rộn" nghĩa là lắm chuyện, loay hoay, tưởng chừng như bận bịu cho một mục đích cao cả nào đó. Thực ra, chẳng có gì. Cho nên ông chỉ biết ra bãi vắng vời trông. Cũng chỉ là để vời trông! Bài thơ là một diễn đạt tuyệt vời về khát vọng tinh thần của con người từ xưa đến nay, luôn luôn muốn vượt thời gian, đi tìm bản thể của mình. Hình ảnh con người trần trụi ngày ngày ra bãi vắng mà vời trông vào cõi mịt mùng, quả là bức tranh sinh động tượng trưng cho nỗi đau siêu hình muôn thuở của những "con vật biết suy tư"
Một trong những hình tượng và cũng là khái niệm thời gian được TTY sử dụng nhiều - hàng chục lần trong nhiều bài khác nhau - là "thiên thu" hay "nghìn thu" hay "thiên cổ": Thiên thu lóe tắt vệt phù du/Phất phơ chéo áo đường thiên cổ/Nghi ngút khuya thiên cổ dặm mù/Tiếng kêu đá lở long thiên coå/Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế/Chốn rừng thiêng ỉm tiếng nghìn thu/Ngọn đèn như nỗi đợi thiên thu/Chung thân, thiên cổ bị cầm giữ/Giờ này đã khuya khoắt thiên cổ. Cả ba từ - khi thì dùng như danh từ, khi thì như tính từ hay trạng từ - đều chỉ một cái gì xa xưa, lâu lắc, không đo lường được. Tóm lại, vô hạn, vô cùng.
Ám ảnh thời gian tất yếu đưa đến ám ảnh về lịch sử. Khác với thời gian là một khái niệm mông lung, lịch sử - đối với nhà thơ – trông có vẻ cụ thể hơn, có da có thịt hơn. Nó tác động trực tiếp đến bản thân, đến cuộc sống hiện đương. Có lẽ để nhấn mạnh điều này, tác giả nhiều lần viết hoa hai chữ "Lịch Sử" trong thơ. Lịch sử tựa hồ như một nhân vật, hay ít ra cũng tựa như một thẩm quyền: Tử tội mừng ơn lịch sử tha; Đã trăm năm lịch sử làm thinh; Những âm thanh lịch sử thịnh nộ.
Là một thẩm quyền, lịch sử biểu lộ thái độ khác nhau tùy theo hoàn cảnh, khi thì "dường như rất vội vã", khi thì "mài thê thiết", khi thì "ngơi đi nhiều tiếng động", "đổi phiên người gác ngục" và có lúc kiệt lực "ngất lả", lại có lúc:

Như tên phù thủy già điên loạn
Lịch sử lên cơn dữ bất thường
(Mùa hạn)

Ở đây, lịch sử gắn liền với chế độ chính trị của mỗi thời, tác động cụ thể lên thân phận từng người, trong đó có bản thân tác giả. Đây là một trong những cảnh lịch sử "lên cơn dữ":

Đám chủ mới, y trang xúng xính,
Súng nghênh ngang, tiếng hét phàm phu
Xua trăm họ sá chi thân mạng
Lăn địa cầu ra khỏi lối xưa
(Mùa hạn)

Lăn địa cầu ra khỏi lối xưa! Một mô tả cực kỳ hình tượng về tham vọng của chế độ Cộng sản.
Thời gian và lịch sử bao hàm tính chất biến dịch. Thơ TTY, ở một nghĩa nào đó, là cảm thức sâu sắc về lẽ biến dịch, về sự tuần hoàn, về ý nghĩa "không ai tắm hai lần trong cùng một dòng sông":

- Đời hoài công đứt nối miên man (Mòn gót)
- Dòng sông u hiển trôi vô lượng (Hề, ta)
- Các mùa chuyển động trong trời trống
Di điểu qua sông xẻ luống sầu.. (Tưởng tượng)
- Bởi tất cả vô thường
Nên tất cả miên viễn (Soi mệnh)
- Đời qua lớp lớp tàn hư huyễn/Giọt lệ sương thầm khóc biến thiên
(Ta về)
Thời gian - biến dịch đưa đến cảm thức về vô hạn/hữu hạn:
Vũ trụ miên man chuyển động đều
Mà trong vô hạn có chi đâu
(Đãng tử)

Vô hạn - hữu hạn là nghịch lý lớn nhất đối với ý thức con người:
Làm sao ta biết được
Niềm vô lượng không gian cuốn hút
Cõi trăm năm tiếp tiếp miệt mài,
Cuộc phiêu lưu tinh thần bi liệt…
Nùi lộ trình rối chẳng phăng ra.
(…) Loài sinh vật loay hoay quên khuấy nỗi kinh hoàng bé mọn
Trong vô tận quang niên và vô tận thời gian
(Bất tận nỗi đời hung hãn đó)

Một diễn đạt tuyệt vời khác về nỗ lực vô vọng của con người qua thời gian và không gian! Vẫn biết là phiêu lưu vô ích, là lập lại cái cảm thức tồn tại từ khi con người biết tư duy, nhưng cái quái đản là con người vẫn không ngừng suy tư về nó. Vận dụng tối đa chữ nghĩa để phiêu lưu vào chính cái cõi phiêu lưu. Biết là "trí ta không đủ lực đo lường" mà vẫn "nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn", vẫn "mưu đồ đo đạc cả Vô Biên". Quả là một cuộc "phiêu lưu tinh thần bi liệt"!
Thời gian vô hạn, không gian lại càng vô hạn. TTY gọi đó là cõi "vô cùng tận", là cõi "ngoài muôn dặm": Mỏi chìm đóm lửa ngoài muôn dặm. Không gian là những đám mây vô sử; vũ trụ thì cứ thế, miên man chuyển động đều; là Bóng chim tăm cá cành trôi giạt/Bất luận điều chi giữa mịt mùng, con người trong vũ trụ chỉ dạo men bờ sóng tuyệt mù. Một trong những hình ảnh về không gian vô tận là hình ảnh con đường. Nó không có cùng đích: Con đường đi mỏi mà không tận và không có khởi đầu:

Ôi những con đường đến tự đâu
Một lần gặp gỡ ngả tư nào
Mà trong vô hạn chia lìa miết
Có cuốn theo mình bụi của nhau
Là cái gì cách ngăn, chia lìa:
- Em nhỏ, làm chi chim biển Bắc
Để anh lầm mãi bãi Đông mù

Không-thời là một kết hợp có tính biện chứng, khiến cho cái vô hạn càng thêm vô hạn:
- Biển Bắc mịt mù con nhạn lạc (không)
Thời gian mất trí trắng vô âm (thời)
- Trăm năm, rồi lại trăm năm khác
Tên đóa hoa này, ngươi nhớ chăng?
Con ngựa bất kham cuồng bão táp
Cõi hồng trần lôi nỗi kinh tâm

Con người chỉ là một hạt lệ trong cuộc biến thiên vô hạn:
Đời qua, lớp lớp tàn hư huyễn
Hạt lệ sương thầm khóc biến thiên

Tính hiện thực
Siêu hình, như ta đã biết, thuộc về lãnh vực của ý niệm, của những hình tượng, biểu tượng. Chúng vô hình vô dáng. Hiện thực, ngược lại, là thế giới hữu hình chung quanh chúng ta, có thể tiếp nhận bằng giác quan. Khi nói thơ TTY là thơ triết lý thì không có nghĩa rằng thơ ông thuần là những suy tưởng cao xa, khó hiểu và "siêu" hình. Trong thơ ông, hiện thực cũng xuất hiện đầy dẫy, dồi dào. Ông để lòng mình phơi mở, đưa tầm nhìn ra khắp ngoại giới, từ trăng sao, các hiện tượng tự nhiên cho đến những sự vật nhỏ nhoi, tầm thường như mầm cỏ, gốc cây, hàng cây đứng bóng, con sâu, vết chặt hay san hô, vân vân.

- Mầm cỏ ngoi ngoi lên rạo rực
Con chim chèo bẻo hót lanh chanh
- Ta ngắm gốc cây nứt nở vỏ
Gốc cây to đến mấy người ôm
- Ngày. Ngày nắng chói chang như giũa
Ánh sáng vang lừng điệu múa điên
- Trời cao mỏi mắt, chòm mây bạc
Thăm thẳm trưa, thời gian chết xanh
- Hàng cây đứng bóng ôm tròn gốc
Đất ẩm vương hương, cỏ trở màu
- San hô mọc tủa thêm cành nhánh
- Cây cỗi càng sưng vết chặt lồi
- Cây rách sâu thân chắt giọt lòng

Hiện thực là những sự vật cụ thể xuất phát từ trong kinh nghiệm tiếp cận sâu xa với ngoại giới của chính tác giả. Không phải là thứ kinh nghiệm đầy sáo ngôn của mùa thu thì "lá vàng", mùa xuân thì "hoa bướm" mà là những kinh nghiệm đầy ấn tượng. "Trường Sa hành", chẳng hạn, là một thí dụ. Đó là kinh nghiệm sâu xa về sự cô độc khi sống ở một hoang đảo. Hoang đảo thì hiu quạnh, hiu quạnh lớn đến nỗi vắng cả hồn ma quỷ. Đó là nơi gió khốc liệt miên man thổi, ban ngày thì nắng chói chang như giũa khiến phỏng khắp châu thân, buổi chiều mặt trời chiếu xuống biển raõ ra theo sóng khiến biển rưng rưng trong lúc trên trời đầy những chim đen thảng thốt quần; quanh đảo, đám cây gầy ven bãi sụp thì rễ bung, dưới nước thì những cụm rong óng ả trông như những tầng buồn. Đêm, ngồi bên đống lửa man rợ, hong tóc râu chờ chín miếng mồi. Những cảnh ấy, vật ấy có một tác động ghê gớm lên tâm trạng những người lính thú xa nhà. Họ nhớ nhà, nhưng xa quá nhớ không tới, đành khóc cười như tự bạo hành, khòm lưng nhẫn nhục; họ buồn đến nỗi tóc bị nung từng sợi đỏ và kêu dòn như tiếng nứt hoa niên. Tâm trạng của những kẻ bị đẩy ra làm lính thú ở hoang đảo vô cùng bức xúc, ngột ngạt:

Đất liền, ta gọi, nghe ta không?
Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc
Con chim động giấc gào cô đơn.

Khoảng cách đặc, một sáng tạo chữ nghĩa rất tô-thùy-yên!
"Góa phụ" là một kinh nghiệm đầy ấn tượng khác. Ở đây, thực cảnh và tâm trạng người góa phụ đan quyện lẫn nhau. Nó diễn tả một khoảng trống không cùng giữa cái chết và cái sống, giữa thực tế phũ phàng và nỗi khát khao vô cùng tận của người phụ nữ vừa mất chồng trong lúc tuổi còn hoa niên. Nhà thơ ví cái chết như cánh cửa đóng tự ngàn năm bặt âm, và nàng tìm kiếm vô vọng như tìm ở cõi gió vì cát loạn muôn trùng đã xóa cả dấu chôn trên mộ. Đêm đầu tiên người góa phụ ở nhà một mình sau khi chôn chồng cho ta một hình ảnh bi thiết. Tâm và cảnh đan xen lẫn nhau tạo nên một nỗi đau mênh mông, sâu thẳm. Người góa phụ ngẩn ngơ đứng trước bàn thờ, thức cho đến lúc trăng lu, khuya mỏi nén nhang tàn với ngọn đèn hư ảo thắp trắng mái tóc. Ở xa, có tiếng chó tru thăm thẳm, tru đến trời đất phải sững sờ, ngây ngất. Tất cả lặng im, đến nghe cả tiếng trái cây rụng rồi âm thầm lăn trên mái ngói.

Em độc thoại lời kinh ánh xanh
Trăng lu, khuya mỏi, nén nhang tàn
Chó tru thăm thẳm ngây thiên địa
Mái ngói nghiêng triền trái rụng lăn
(…) Ngọn đèn hư ảo chong linh vị
Thắp trắng thời gian mái tóc em

Hiện thực đến thế thì thôi! Còn nàng thì:

Tim đập duỗi ngoài thân nỗi lạnh/Hồn xa con đóm lạc sâu đêm
Hãy lưu ý cách dùng chữ nghĩa tinh xảo: cõi gió, lạc sâu đêm (không phải thâu đêm), duỗi ngoài thân, ngây thiên địa.

Trong bài thơ tình "Trưa nay, ta còn đi bên nhau", TTY mô tả thành phố dưới cái nắng buổi trưa gay gắt, nơi hai người đi với nhau lần cuối trước khi chia tay mãi mãi:

- Thành phố lũng hoa mê
Duỗi phơi xa những triền mái lóa.
Gió luông tuồng.
Anh nghe rõ nắng lao xao trên giàn hoa giấy rộ.
Trưa đứng sững giữa lòng đường
Cây cùng thu vén bóng.

Chữ nghĩa dùng cực kỳ ấn tượng: lũng hoa mê, duỗi phơi xa, triền mái lóa, gió luông tuồng, trưa đứng sững. Một kết hợp ngôn ngữ tân kỳ và chính xác. Dưới tác động của cách dùng chữ cùng cấu trúc câu, cảnh vật hiện ra vừa thân quen lại vừa mới lạ. Đồng thời nó cho ta cái cảm giác lạ lùng y như thể ông đang dùng ẩn dụ. Cũng buổi trưa, nhưng trong bài "Vườn hạ", ông diễn tả một cách khác, cũng không kém ấn tượng:

Thăm thẳm trưa, thời gian chết xanh.

Gì vậy? Nhà thơ chơi chữ? Không đâu! Đây là một buổi trưa ở vùng thôn dã. Có sống ở miền quê những buổi trưa hè nắng gắt, trời đứng bóng, nhìn lên bầu trời xanh, trông xa thăm thẳm, mọi vật mệt mỏi nằm yên y như thời gian ngừng trôi, ta mới hiểu hết ý nghĩa của cái gọi là "thăm thẳm trưa" và thời gian "chết xanh". Hãy đọc một đoạn thơ khác, cũng với một cách diễn tả tân kỳ:

Biển tù hãm dẫy, vô phương thoát
Quẳng bờ những xác sóng mưu toan
Để đổi lấy một hạn kỳ tạm ngụ
(Hành giả âu sầu)

Có lẽ chưa ai nhìn biển và sóng bằng cái nhìn khác lạ như thế. Tiếng Hán-Việt (tù hãm, mưu toan, hạn kỳ tạm ngụ) chen với tiếng Việt ròng (dẫy, thoát, quẳng, xác sóng) nghe rất lạ tai. Nhưng nào có gì sai! Thú thật, tôi khoái. Rõ ràng là chữ nghĩa có thể làm thay đổi thực cảnh. Đúng hơn, nó làm ta thay đổi cách nhìn về thực cảnh. Người ta thường nhìn biển như là một cái gì mênh mông, to rộng, sâu thẳm (biển cả, biển tình…), nhà thơ nhìn biển như một vũng ao tù nhỏ bé, hạn hẹp nhốt những con sóng khiến phải quẳng chúng lên bờ như một "mưu toan". Cách nhìn mới mẻ đó cho thấy lòng nhà thơ luôn luôn bức bối trước cái hữu hạn của hiện thực. Nó "lạ hóa" (defamiliarize)12 hiện thực. Có thể xem "lạ hóa" là một trong những chức năng đặc thù cùa văn chương, nhất là trong thơ. Và đặc biệt, thơ Tô Thùy Yên. Nhà thơ "lạ hóa" cảnh vật chung quanh chúng ta, "lạ hóa" luôn cả những ý tưởng siêu hình vốn đã được bao nhiêu nhà tư tưởng và triết gia bào đi bào lại đến mòn nhẵn cả ý nghĩa. Cao hứng, tôi xin trích dẫn thêm một đoạn thơ nữa, để xem TTY "lạ hóa" hiện thực đến mức nào. Đây là cảnh một bãi rừng hoang:

Dưới lũng, trên triền, nắng xếp nhỏ
Nước ròng sâu, sông lảng lảng xa
(…) Mông quạnh bãi phơi, vũng vướng mắc
Con cò lặng ngẩng lắng hơi thu
Xác cây gục hỗn mang cành rễ
Rừng đứng quanh đây, rừng tận đâu?
(…) Chiều bóc, bóc dần những rớt nắng
Loi ngoi nắm níu lũng triền xa
(Chim kêu bãi quạnh)

Ấy: nắng xếp nhỏ, vũng vướng mắc, chiều bóc, bóc dần, loi ngoi nắm níu. Nghe thú vị có thua gì đọc một đoạn thơ tình! Còn nhiều, nhiều nữa. Cứ mỗi lần đọc lại thơ TTY, tôi lại khám phá ra một cái lạ khác. Tại sao? Có lẽ là vì chúng… lạ! Cũng có lẽ là vì nhà thơ quan sát kỹ, chế biến kỹ các chất liệu tiếp nhận và không dễ dãi với chính mình.
Trên đây là nói về tả vật, tả cảnh, tả người, những hiện thực bình thường. Sau đây, ta sẽ bàn về những tình thế (situations), về các biến cố (events). Cũng như mọi người thuộc lứa tuổi từ 50 trở lên, TTY sống qua 4 biến cố lớn: chiến tranh, chế độ Cộng Sản, những tháng ngày tù tội và đời sống lưu vong. Cuộc biển dâu đó (thơ TT nhắc nhiều lần về biển dâu, bằng nhiều cách diễn tả khác nhau) kéo hẳn nhà thơ ra khỏi không khí siêu hình thuần túy mà ông đắm chìm trong những tháng ngày tuổi trẻ khi đất nước đang tạm hưởng thái bình. Cũng là lẽ thường. Làm sao có thể đắm đuối trong cõi siêu hình khi thực cảnh chung quanh ta đảo lộn, ảnh hưởng đến từng bữa ăn, giấc ngủ, đến chuyện sinh tử của cả đời người. Từ chỗ đang rong chơi trên mây, con người bỗng rớt hẳn xuống đất, đụng chạm với muôn ngàn thực tế phũ phàng. Hàng ngày, hàng giờ. Dù có để tâm hồn mình bay bổng đến đâu, con người cũng bị buộc phải đối diện với hiện thực, đối phó với nó và giải quyết những vấn đề do nó gây ra. Nỗi đau, nỗi cô đơn siêu hình biến thành nỗi đau hiện thực. Hiện thực bây giờ không còn là thứ hiện thực dửng dưng mà có tính cách cưỡng bức. Cưỡng bức cuộc sống và cưỡng bức ý thức. Sau này, ta không hề thấy ông làm những bài thơ thuần suy tưởng như "Đãng tử" hay "Mòn gót chân sương nắng tháng năm". Tất nhiên, không khí siêu hình vẫn lãng vãng đâu đó, nhưng hiện thực chế ngự hẳn thơ TTY.

* Nói về cuộc chiến đã qua trên đất nước, TTY tóm tắt:
Nhớ xưa thiên địa làm ly tán
Anh em nhà không ngó mặt nhau
Người chạy về thành, kẻ nhảy núi
Dốc đời cho một cuộc chiêm bao

Trong tập "Thơ tuyển", ông chọn đưa vào ba bài thơ chiến tranh, là "Qua sông", "Anh hùng tận" và "Chiều trên Phá Tam Giang". Bài "Chiều trên Phá Tam Giang" tuy cũng nói về chiến tranh, nhưng đề tài được mở ra trên một hướng rộng lớn hơn, sẽ được đề cập vào phần cuối. Hai bài kia giới hạn trong việc mô tả chiến tranh. Khác với hầu hết thơ của ông, trong hai bài này, các ý tưởng siêu hình hầu như biến mất. Ta không thấy những suy tưởng lang man về thời gian, trăm năm, cõi thiên thu, hữu hạn, vô hạn mà là "chật ních" những hình ảnh đặc thù của cuộc chiến. "Qua sông" vẽ nên một bức tranh thê thảm của chiến trường, "Anh hùng tận" cho ta một khung cảnh khác đậm đặc không khí Nam bộ (thấp thoáng hình ảnh anh hùng Lương Sơn Bạc) trong lúc "Chiều trên Phá Tam Giang" có tính chính luận, mang đậm nét miền Trung (và miền Bắc).

"Qua sông" tả lại cảnh chuyển quân tiếp viện qua một con sông vào một ngày mưa buồn. Người đông, đò thiếu, trời lại mưa, lính tập trung bên bờ hút thuốc, chuyện vãn. Mỗi người góp một chuyện dựng nên một bức tranh chắp vá sinh động về cuộc chiến mà từng người đã và sẽ phải tích cực (nhưng miễn cưỡng) dự phần. Đây là khung cảnh chiến trường nơi mà đồng đội của họ hy sinh:

Tiếp tế khó - đôi lần phải lục
Trên người bạn gục đạn mươi viên
Di tản khó - sâu dòi lúc nhúc
Trong vết thương người bạn nín rên
Người chết mấy ngày chưa lấy xác
Thây sình, mặt nát, lạch mương tanh
(Qua sông)13

Xác nào may mắn lấy được thì:
Áo quan phong quốc kỳ anh liệt
Niềm thiên thu đầm cỗ xe tang
Quê xa không tiện đường đưa tiễn/Nghĩa tận sơ sài đám lạnh tanh
(Qua sông)

Họ say sưa kể chuyện về cái chết của đồng đội trong lúc mường tượng bóng mình trong số đó, nên khi theo đơn vị qua sông đến nơi trấn nhậm (cũng là chiến trường):

Xuống đò, đời đã bỏ quên…
Một sông nước lớn trào lên mắt ngời.

"Anh hùng tận" dựng một khung cảnh hoàn toàn khác: một buổi dừng quân. TTY mô tả một cách chi ly một buổi dừng quân điển hình trên sông nước miền Tây Nam Bộ:

Dựng súng trường, cởi nón sắt
Đơn vị dừng quân trọn buổi chiều
Trọn buổi chiều, ta nhậu nhẹt
Mồi chẳng bao nhiêu, rượu rất nhiều
Đây ngã ba sông, làng sát nước
Xuồng ba lá đậu kế chân bàn
Trời mới tạnh mưa còn thấp ướt
Lục bình mây mỏi chuyến lang thang                                                         
(Anh hùng tận)

Những người lính nhậu nhẹt tưng bừng, vui vẻ y như bất cứ một buổi nhậu bình thường nào:

Tiếng hò mời dzô, dzô tở mở
Muỗi thủy triều chừng cũng dạt ra
(…) Ta chắt cho nhau giọt rượu sót
Tưởng đời sót chút thiếu niên đây

Nhưng chính cái bình thường đó lại để chuẩn bị và chờ đợi những gì không bình thường nhất của chiến tranh:

Giờ cất quân, đưa tay bắt
Ước cõi âm còn gặp để say

Bên kia cái bắt tay, chỉ còn một điều khả dĩ: cái chết. Một ước mơ lạ lùng, phi lý mà lại không kém phần hiện thực: tiếp tục cuộc nhậu ở chốn tuyền đài. Khôi hài và bi tráng đến thế thì thôi!
Gẫm lại về chiến tranh, nhà thơ tự hỏi:

Sao để xô vào một chương hồi lịch sử hỗn mang?
Đáng xé vứt?
Sao chịu bịt mù hồn, chơi sinh tử quái đản
Nam quân, Bắc quân trời sai tru diệt nhau?
Tàn trận, ngồi sảng hoàng giữa bãi xác bạn thù
Khóc loạn trí
Chính nghĩa nào thay được mạng người đây?
(Hành giả âu sầu)

* Sau năm 1975, khi Cộng Sản chiếm được miền Nam, với một chính sách chuyên chế khắc nghiệt, đất nước trải qua những tháng năm dài bi thiết. Nhất là đối với những người thuộc phe thất trận. Họ gánh chịu hết mọi thứ oan khiên của cuộc sống. Đói, nghèo, áp bức, tù tội, trả thù, giết chóc. Kẻ lên voi, người xuống chó, người ở tù, kẻ tìm đường vượt biên. Đã thế, lại còn thiên tai dịch bệnh liên tiếp đổ xuống. Cả một miền Nam chừng như tan vỡ. Hiện thực đó được TTY ghi nhận một cách sắc nét qua nhiều bài thơ, trong đó có bài rất dài: "Mùa hạn". Thơ đề cập từ khung cảnh chung đến riêng, từ nỗi đau của toàn thể dân tộc đến nỗi đau riêng của từng cá nhân. Dù thỉnh thoảng tác giả chen vào một số ẩn dụ, hoặc hình ảnh cổ điển, nói chung, toàn bài là một bức tranh vô cùng hiện thực, qua cái nhìn của một người thuộc phe thất trận.

Sông hồ nẻ đáy, giếng vô vọng
Muông thú điên lầm lũi bỏ đàn
Dân làng lũ lượt kéo lên rú
Lùng sục đào khoai củ đã khan
Côn trùng kiệt sức lìa hang ổ
Lên chết thiêu trên mặt đất hừng
(…) Người mẹ trẻ buồn đôi mắt trũng
Thân gầy nhom, tóc cháy, da cằn…
Địu con, một dúm thịt nhăn nhúm
Ra ruộng khê tìm mót cái ăn
Thân phận người thắng, kẻ thua:
Kẻ mới tới bày tòa giữa chợ
Giải người ra, sỉ mạ ba đời
Cho đeo bảng, dong đi khắp phố
Bắn bỏ bên đường, cấm nhận thây
Chĩa súng đuổi người ra khỏi đất
Đày đi biền biệt miệt thiên thu
Đuổi cả người chết ra khỏi mộ
Cày nghĩa trang, trả vói thâm thù
(Nỗi đợi)

Trả vói thâm thù! Chữ "vói" hay quá, như trùm cả đoạn thơ.
*Là kẻ thua, tác giả - một thiếu tá trong quân đội VNCH - phải đi ở tù. Chuyến tàu chở tù đi đày ra miền Bắc, trong đó có tác giả, được mô tả một cách sắc nét qua bài "Tàu đêm". Khác hẳn với khái niệm và hình tượng của những chuyến tàu mà ta có từ xưa đến nay, "Tàu đêm" không có cái nhẹ nhàng của những tiễn đưa, không có cái buồn lãng đãng của những chia xa và gặp gỡ, không có cái bâng khuâng, nao nức gợi nên từ tiếng còi tàu. Cũng như "Mùa hạn", đó là một bức tranh sống động về khung cảnh hòa trong tâm trạng vô cùng đặc biệt của những kẻ bị đi đày, hoàn toàn không biết sinh mệnh sẽ về đâu:

Tàu đi. Lúc đó, đêm vừa mỏi
(…) Tàu rú. Sao ơi, hãy thức dậy

Vâng, tàu ruù. Tàu chạy như một cơn giông lửa, như một cơn điên đảo, nó khoan xoáy sâu đêm thép với tiếng nghiến ghê người thác lửa sa. Còn trong tàu là gì?

- Toa nêm lúc nhúc hồn oan khốc
Đèn bão mờ soi chẳng rõ ai
- Ngồi đây giữa những phân cùng bụi
Trong chuyển dời xung xát bạo tàn
Ta trở thành than thành súc vật
Tiếng người e cũng đã quên ngang
Khách đi tàu là:
…gã tù lưu xứ
Xí xóa đời ta với đất trời

Trong hoàn cảnh đó, cảm giác của tác giả là:

Ta nghe rêm nhói thân tàn rạc
Các thỏi xương lìa đụng chỏi nhau
(…) Dường như ta chợt khóc đau đớn
Lệ nóng cường toan cháy ruột gan

Trong trại tù (cải tạo):

Buổi trời đất bất minh
Người chưa đủ sáng thành người
Những đồi nổng khai hoang dăm tháng trước
Qua mùa đông, đã nổi chật mồ tù.
Chiều bầm máu thảm thiết/Bãi ao tối nghịt rừng nhân dạng trần truồng
(Hành giả âu sầu)

Tất cả những nhọc nhằn, đau đớn của thân phận tù đày được tác giả trút hết trong bài thơ lục bát "Hái rau", nghe không khác gì truyện Kiều:

Núi vây, trời hẹp, ngày mau
Liều đau đến điếng, nguôi đau ít nhiều
Hái nhanh cho kịp trời chiều
Ấy mê, ấy tỉnh, cỏ nhiều hơn rau
(…) Cám ơn rau của đất trời
Hẩm hiu chưa cả được đời đặt tên

Và dẫu vô cùng đau xót, uất hận, tác giả cũng nhiều lúc lắng lòng mình lại, phơi mở với tương lai bằng một ước mơ thuần hậu:

Ta nhặt từng trang sách rách toang
Đứa ngu đã xé vứt ra đường
Ta gom từng hạt cây luân lạc
Mong mỏi gầy lên một địa đàng                                                  
(Mùa hạn)

*Nhưng rốt cuộc, mơ ước cũng chỉ là mơ ước. Ra khỏi tù, lại phải bỏ nước ra đi:

Khuya đó, anh lên đường
Từ bỏ căn nhà
Từ bỏ quê hương…
(…) Anh đếm từng ngày còn ở lại quê hương
Tim bóp thắt
(…) Anh ra đi/Bứt ruột mà đi
(Giã biệt)

Lưu vong.
Tâm hồn lại thêm một lần tan nát.                                                       
Sống như cái sống của một người xa lạ.
Nước Mỹ này quá rộng và quá buồn
Anh không còn muốn tự định liệu
Tốc độ cao gài cố định mặc
Đường trường lái băng đêm
(…) Ghé lại một trạm xăng, một hàng fast food hay một rest area
Đây là đâu?/Đây cũng là đâu đó vậy
Dấp nước đầu, cổ, mặt. Tỉnh tỉnh lại với đời…
Và trong những khoảnh đèn khoét đọng lẻ quạnh
Nhìn chút đỉnh những con người
(…) Chạy rề qua những cổng toll way
Ném dúm đồng tiền vào rổ đợi
Nghe lăn nhanh chuỗi âm thanh mơ hồ va bạt hoang mang (…)
…nhìn vẻ mặt người thu tiền uể oải
Hờ hững tiếng cám ơn
Chừng nỗi đời quá nhạt nhẽo                                                          
(Đường trường đêm)

Khác với hơi thơ da diết trong "Ta về", toàn bài "Đường trường đêm" là một cố gắng diễn tả cái nhạt nhẽo khi sống ở Hoa Kỳ một cách rất nhạt nhẽo, qua hình ảnh và tâm trạng cũng… nhạt nhẽo khi lái xe trên xa lộ ban đêm.
Trên đây, với đầu óc phân tích, tôi đã cố xẻ thơ của TTY thành những phần khác nhau. Y như thể chúng vốn dĩ như thế. Và phải như thế. Thực ra, một bài thơ – hay ngay cả một câu thơ – là một cái gì hoàn chỉnh tự nó. Dù hay dù dở, nó là một chỉnh thể. Không siêu hình. Cũng chẳng hiện thực. Nói cho đúng, không khí thơ TTY thấm đẫm những khắc khoải siêu hình trong khi vẫn không tách khỏi thế giới tục lụy của hiện thực cuộc sống. Nhà thơ đứng dạng chân giữa hai thế giới (có vẻ như) khác biệt hay như thể đối nghịch nhau. Khi ông nhìn, ông nghe, ông chứng kiến sự vật chung quanh, thì đồng thời tâm hồn ông cũng bay bổng tới một thế giới khác siêu vượt lên trên hiện thực. Thế giới quanh ông hiện diện như những dấu hỏi muôn thuở. Ông tìm thấy trong mỗi một hiện tượng, mỗi sự vật đều cưu mang khắc khoải của chính mình. Nói như Nguyễn Hưng Quốc, "Hình ảnh của Tô Thùy Yên hiện ra trong thơ bao giờ cũng là hình ảnh một người đầy ưu tư, đầy khắc khoải. Có thể nói thơ Tô Thùy Yên là một chuỗi đối thoại lặng lẽ và triền miên giữa ông và lịch sử, giữa ông và thiên nhiên" .14 Mọi xuất hiện của một hiện tượng hay sự vật đều không tự nhiên, không dửng dưng mà trái lại đều biểu hiện cho những "thái độ". Mô tả những rễ cây, ông viết:

Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh

Rễ bung là một hiện tượng, còn gượng ngầm chứa một thái độ:
chống chỏi với định mệnh, chống chỏi để tồn sinh.

Mô tả cây xương rồng:

Ngưỡng mộ cây xương rồng gắng gượng
Thân trần đứng lẻ giữa đồng trơn

Cây xương rồng là một hiện hữu, một nỗ lực. Nó kiêu hãnh y như nỗi kiêu hãnh nghịch lý của con người:

Ta lớn lao và ta cô đơn.

Hay:

Những cánh hoa trên đồng chói lọi
Cũng xui phù thế ngậm ngùi thân.

Những cánh hoa chói lọi mà cũng "ngậm ngùi". Chính cái chói lọi ấy lại chứa đựng nỗi ngậm ngùi! Khi nhìn biển ở vùng hải phận:

Anh sống làm quen cùng cái chết
Liếm lấy mặn mà trên đau thương
Chìm mãi xuống em và mất tích
Như mặt trời rã trong nước loang

Cảnh vật, sự vật hóa thân thành người. Như thế, càng tiếp cận với hiện thực chừng nào, thì nỗi xao xuyến siêu hình càng tràn trề trong ông. Nhà thơ nhìn, nhà thơ ngó thấy và rồi nhà thơ suy gẫm về những điều trông …xa lắc, có vẻ như chẳng dính líu gì đến thực cảnh:

- Ta nhìn ngọn cỏ, lòng mê mẩn
Nghĩ tới đời ràn rụa thâm ân
- Nước mắt ta tuôn khi nghĩ tới
Những người đã chết, chết như rơm
- Ta ngắm gốc cây nứt nở vỏ
Gốc cây to đến mấy người ôm
Nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn
Trí ta không đủ lực đo lường.
- Trăng, bạn hiền xưa giờ tái ngộ
Ta thức đêm nay chơi với trăng
Nghĩ tội thương sau này, mãi mãi
Quanh mồ ta, trăng phải lang thang
- Ta ngó thấy thùy dương gẫy rũ
Từng cây như nỗi bất an già
Ta ngó thấy rào chà cản nước
Từng hàng như nỗ lực lao đao

Trong những bài thơ thuần triết lý thuở đầu như "Đãng tử", "Mòn gót chân sương nắng tháng năm", "Hề, ta trở lại gian nhà cỏ", vân vân, TTY dùng các hình ảnh hiện thực để triển khai những ý niệm siêu hình: Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu, gió sửa soạn, gió thật xưa, mây vô sử, mây già nua, Thuận tay ta ngắt một cành sậy, làm cây sáo thổi cạn hồn sầu/Các "vương tôn miền trí tuệ" (triết gia)/Con chim thoát xác thành cơn mộng, bay liệng dài trên trí nhớ không, vân vân. Nói một cách khác, chim chóc, mây, mưa, ngày tháng…chỉ là những ẩn dụ. Ông mượn tạm chúng để mô tả cái thế giới nằm bên ngoài thực tại, thế giới của những ý niệm.
Sau này, ông rời bỏ hẳn thế giới ý niệm để tìm về hiện thực, dùng kinh nghiệm tiếp cận hiện thực để phóng rọi đến thế giới siêu hình. Bởi thế, ta không ngạc nhiên, trong bất cứ hoàn cảnh nào (khi bình thường cũng như khi chiến tranh, khi bị đi tù, khi tuyệt vọng, khi hy vọng, khi cô đơn, khi đi với người tình, khi trở về sau những ngày ở tù), nhà thơ cũng nhảy phóc từ thế giới bình thường đến thế giới siêu hình. Ông đưa hai thế giới đó tiếp cận nhau. Có lẽ đó là đặc điểm nổi trội trong thế giới thi ca TTY. Một sự tiếp cận như thế rất ít chỗ cho cảm hứng, rất ít chỗ cho "bảy bước làm thơ". Bước nhảy phóc đó, thực ra, chính là sự nối dài của một ý thức đậm đà chất thơ. Đọc thơ TTY, ta vừa cảm thấy ông đưa ta đi sâu vào thế giới ý niệm cùng những liên tưởng, lại vừa cảm thấy đắm mình trong thế giới thơ chứ không phải thế giới của luận lý.
Xuyên suốt cõi thơ TTY, ta luôn luôn bắt gặp một con người loay hoay nhìn sự vật, cảnh vật chung quanh cũng như lặn sâu tận cùng tâm thức con người (thao thức, băn khoăn, ước mơ, phẫn hận, mộng tưởng…) bằng một cái nhìn kinh ngạc về bản chất của chúng. Thân xác ông ở đó (nhìn, nghe, cảm) nhưng tâm thức như bay vút mênh mang trong cõi trần thế mênh mông và chập chùng trong thời gian hư ảo. Ông đi sâu vào quá vãng để chẳng tìm thấy gì; rồi ngày ngày ra bãi vắng vời trông chỉ để thấy bất cứ điều chi cũng mất hút giữa mịt mùng; ông nhìn ngọn cỏ lòng lại mê mẩn, nhớ tới đời ràn rụa thâm ân; ông ngắm gốc cây mà đầu thì nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn; đi với người yêu, em nhón chân lên hôn, ông lại thấy đang ở giữa cõi thực hư và bàng hoàng vì hai người chẳng khác gì hai hạt cát/Từng rời xa trôi dạt những thiên thu; ông giã biệt quê hương ra đi (thay vì chỉ mong thoát khỏi chế độ CS) thì lại cầu sao cho thoát được bộ da đó của mình/Đánh lạc hướng truy tầm của định mệnh; giữa chiến trường, ông thấp thỏm nhớ người yêu ở Sài Gòn (không nhớ như bình thường) mà yêu nuối tuổi hai mươi, thấy tình yêu như vận hội tàn đời vì nó là bằng chứng huy hoàng của thất bại (Chiều trên Phá Tam Giang); ông thích đi tới (không phải để tới đích nào đó) mà tới rồi đi, miết miết…/Lòng không cùng, chốn tới biết là đâu (Ánh tàn dư); đất nước tao loạn, nhiễu nhương, cũng như mọi người, ông đợi, một nỗi đợi: Ta đợi nghe chừng thiên cổ mỏi/Hàng hàng thân trụ đứng hư hao; được thả từ về trại tù, (thay vì hân hoan, sung sướng vì được gặp lại gia đình) ông cảm thấy "như bóng ma hờn tủi/Lục lại thời gian kiếm chính mình (Ta về); chú ý đến chi tiết rất vụn vặt như ngấn nước đục khoen lem cỏ sậy, ông thắc mắc: Lưu mà chi chỉ dấu phù hư?; nhìn sóng biển, ông chỉ thấy sóng thì khóc mà biển thì tang chế vì hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi; về thăm lại vườn xưa, nằm nghe tiếng thủy triều rút xuống bậc bậc sầu, tiếng mõ chùa thì khô khốc khốc để rồi gẫm ra tất cả chỉ là u minh ngày tháng bóng lao đao; trên chuyến chở tù đi đày biệt xứ, khi nghe con tàu rù như một cơn điên đảo, khoan xoáy sâu đêm thép, ông lại tưởng chừng nghe thời đại động và lịch sử dường như rất vội vã khiến cho thời đại đang đi từng mảng lớn; nhìn hòn đá, nhà thơ cho là đá giú mộng trong lòng và thắc mắc Đá rõ điều ta muốn rõ không?
Hơi thơ ông chênh vênh, mấp mé ở bờ thực-hư: Trong từng cái thực, ông luôn luôn tìm thấy vô số những điều hư, trong từng sự kiện, ông luôn luôn tìm thấy bóng dáng của thân phận, của số mệnh, mỗi hữu hạn, ông tìm thấy cái vô cùng. Mỗi một hiện hữu y như thể đều phản ảnh một thế giới ảo nào đó mà ông không thể nào hình dung rõ ràng:

- Thoáng nhớ có lần ta đọc trộm
Lược sử ta trong bí lục nào
Văn nghĩa mơ hồ không hiểu trọn
Thiên thu lóe tắt vệt phù du (Đãng tử)
- Ta mò đoán nghĩa dòng hư tự
Mòn nét trong thiên địa ngập ngừng
(Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai)

Tính chất pha trộn đó hầu như trải đều trong tất cả các bài thơ của ông. Ở đâu, ta cũng thấy ông nỗ lực tối đa vận dụng ngôn ngữ để vừa giữ tính chất suy tưởng mà vẫn không làm đánh mất chất thơ và không xa rời hiện thực. Chúng lang bang, khơi mở, tự tại. Đặc biệt ở một vài bài, tôi nhận thấy thơ TTY có một cấu trúc hoàn chỉnh, mang tính luận đề, trong đó nhà thơ đặt vấn đề. Với thế giới. Với chính mình. Cũng là để đặt vấn đề thôi.
Chẳng hạn như trong bài "Hung hãn nỗi đời bất tận đó", nhà thơ đặt vấn đề về nền văn minh. Nếu "Ta về" cho ta cái ngậm ngùi thê thiết, "Tàu đêm" cho ta cảm giác nặng nề, bức xúc, "Mòn gót chân sương nắng tháng năm" cho ta những suy tưởng triết lý mênh mang thì bài thơ này chứa đựng cái sôi nổi, thống thiết của một cuồng nộ siêu hình. Chữ rượt đuổi, xô đẩy chữ, câu rượt đuổi câu, trượt từ hiện thực đến siêu hình với vô số hình ảnh, ý niệm và biểu tượng đan xen nhau. Đó là một tiếng kêu thống thiết về hậu quả tàn phá của nền văn minh, về ảo vọng của con người muốn thiết kế thiên nhiên theo dự tính chủ quan của mình. Con người đã tàn phá rừng cây xanh để trồng cao su với những con đường thẳng lối ngay hàng:

Ôi những rặng cao su thẳng lối ngay hàng
Ngang dọc cắt nhau ùa về vô cực điểm
(…) những con đường phân định mỗi lô cây
Những con đường đất máu

Những con đường, nườm nượp những con đường
và xây những khu chung cư:

Ta đã nhìn thấy nơi cửa rừng bảng sơ đồ thiết kế
Hứa biến khu vực này thành một kiểu mẫu chung cư
Như bản tuyên cáo bi hùng của Tương Lai dõng dạc:
Nơi đây loài người sẽ tiến bộ, sẽ đi lên

Cứ như thế, vì tiến bộ và văn minh, hết khu rừng này đến khu rừng khác sẽ biến mất. Nhà thơ tưởng tượng rồi ra tất cả những ngôi thiền viện thâm u sẽ được biến thành những căn nhà điện sáng trưng cùng với "toàn bộ giáo lý sắc không" sẽ được viết lại; những ngôi mộ đá lâu đời sẽ được sắp xếp thành "một nghĩa trang tân thời", không còn cây xanh, không còn thiên nhiên nguyên thủy:
Chúng ta sẽ gia giáo hóa thiên nhiên/ Chúng ta sẽ đồng loạt hóa Định Mệnh.

Đó là một cố gắng vô vọng, vì con người chỉ là vết lóe của Thiên Thu/Con số không bao trùm vũ trụ. Hắn khổ đọa chung thân vì đã ngông cuồng, liều lĩnh muốn vô hạn hóa hạnh phúc vốn là cái bất định. Bài thơ được kết thúc bằng cách lập lại một lời than thống thiết đưa vào từ đầu bài :
Ôi những rặng cây mang án tử hình treo!

Có thể xem nhà thơ là một thành viên tích cực của Đảng Xanh (Green Party)15 chăng? Những lời tiên tri của nhà thơ đều đã trở thành hiện thực hết. Cứ nhìn những tòa cao ốc, những con xa lộ dài vô tận, những ngôi chùa, ngôi đền thờ hiện đại, đèn điện sáng choang, những nghĩa trang tân thời, những…vân vân trên khắp thế giới, thì biết. Bao nhiêu rặng cây không còn được mang án tử hình treo nữa. Chúng đều đã lên ghế điện hết cả từ hồi nảo hồi nao! Riêng tôi, mỗi lần nhìn một ngôi chùa đẹp đẽ mới mọc lên với đầy đủ những tiện nghi văn minh cần thiết, mắt nhìn rất thích nhưng lòng cứ thấy… ngậm ngùi, nghĩ tới những rặng cây đã bị kết án tử hình oan uổng! Và nhìn những khu rừng xanh, là thấy chúng đang mang án tử hình treo.
Một bài khác, "Chiều trên Phá Tam Giang", đặt vấn đề về chiến tranh, tình yêu và thân phận con người trong dòng trôi nghiệt ngã của lịch sử. Từ một trận chiến, nhà thơ liên tưởng đến bản chất của chiến tranh. "Nghĩ cho cùng", tác giả tự hỏi, những nỗ lực chiến đấu của cả hai phe, dù nhân danh gì đi nữa, cùng gom góp lại/Mặt đất này đổi khác được bao nhiêu?, và rồi tự trả lời: cả hai cùng cam phận quay cuồng và cùng mắc đường Lịch Sử. Nó khiến cho tình yêu trở thành yêu nuối tuổi hai mươi, thứ tuổi mà những giấc mộng đua đòi rồi ra sẽ rơi rụng dọc đường lên dốc tuổi. Nó khiến cho những con người tham gia trong bộ máy chiến tranh phải lỡ độ đường/Trên mịt mùng nghi hoặc và tuổi thanh xuân thì mất tích. Buồn, đau, giận mà thực ra tất cả chỉ là:

Gió muôn năm thổi lẽ tuần hoàn
Cho cỏ cây thay đời đổi kiếp
Một trò ảo hóa, trong đó con người rút cục, chỉ là một "gã hề cuồng":
Như gã hề cuồng mưu sinh giữa chốn đông người
Với từng ấy tấn tuồng bần tiện
Rút ra từ lịch sử u mê
Bài thơ kết thúc một cách rất tôthùyyên:
Chiều trên Phá Tam Giang
Có gã hề cuồng buông tiếng cười lạnh rợn
Khiến bầy ác thú mà lịch sử sanh cầm cũng chợt hãi hùng
Dớn dác ngó.

Dớn dác ngó. Có lẽ chưa có bài thơ nào kết thúc một cách lạ lùng như thế: ba từ trắc, rất nôm na, rất không thơ tí nào! Nghe hụt hẫng. Thì thế, chiến tranh và lịch sử làm sao mà thơ cho được! Chiến tranh là bước hụt hẫng của con người. Bước vào chỗ vô nghĩa.
"Thức giấc trong phòng biệt giam" đặt vấn đề con người trong lịch sử qua hình ảnh một tù nhân (là chính tác giả) trong một nhà tù biệt giam:

Phòng biệt giam tối mốc thấp hẹp
(Ta ở đây. Hơn bảy tháng rồi)
Cánh cửa sắt nặng nề sừng sững.
Sáu diện tích xi măng khuôn áp hãm đè.
Trong sự cô lập, người tù TTY:
Ước lượng thời gian
Như mò tìm một khe hở bất ngờ
Trên trường thành dằng dặc những thiên thu.
Ông suy gẫm về bản chất của lịch sử:
Lịch sử dường như đã ngất lả
Sau những liên hồi vật vã điên cuồng
(…) Lịch Sử đổi phiên người gác ngục
Lúc giày đinh, lúc dép râu.
Nhìn những dòng chữ ghi lại trong xà lim viết bằng chữ, bằng than và hình như bằng cả máu của bao nhiêu người tù đi trước, ông đẩy suy gẫm đi xa hơn nữa, đó là:
những nỗ lực tuyệt cùng lưu hậu bản thân
Đang khốc liệt đương đầu những bất trắc dập xóa
Như những mưu toan vô vọng ra khỏi chính mình
Trốn chạy dày vò
Của những người ở trước.
Một diễn đạt cực kỳ bi thiết về thân phận của tù nhân, ăm ắp hiện thực mà rất sâu, rất xa trong cõi suy tưởng thâm trầm. Nhìn từ bên ngoài, hình ảnh tù nhân, nhất là những tù nhân bị biệt giam hay tử hình hay chung thân hay không có án, là hình ảnh của thân xác tiều tụy, mặt mày lờ đờ thiếu đói, tuyệt vọng, bi thương. Nhưng bên trong mỗi người là một thế giới sôi động, sôi động ngày đêm, là những "nỗ lực tuyệt cùng", là "khốc liệt đương đầu", là những "mưu toan". Một cuộc chiến đấu liên lỉ. Để làm gì? Để tồn tại. Ít ra là tồn tại với chính mình. Nhà thơ, từ đó, liên tưởng tới bao người đi trước, trong đó có bà con dòng họ mình, đã từng ở tù như thế. Ở tù, rốt cuộc, cũng là bước tiếp nối. Một tiếp nối nghiệt ngã. Anh ta:
Đi tới đi lui
Trăm lượt nghìn lần
Như một hồn ma cổ đại
Trong hầm mộ muôn đời
Rồi nằm xuống:
Dỗ mình hãy cố ngủ
Tập quen dần với giấc thiên thu.
Lại thiên thu, một khái niệm về thời gian bất định.
Cả ba đều là những bài thơ xuôi - đầy hiện thực và nặng những suy gẫm siêu hình – là một cách diễn đạt khác rút ra từ những "Đãng tử", "Tưởng tượng ta về nơi bản trạch", hay nói khác đi, hiện thực hóa "Đãng tử", "Tưởng tượng ta về nơi bản trạch", vân vân. Với một giọng thơ hết sức đặc thù, khi thì xôn xao, sôi động với thứ ngôn ngữ (có vẻ) rất chính luận, khi thì lắng xuống thâm trầm, khi lại nhuốm đầy vẻ "u mặc", trửng giỡn, trào lộng – theo tôi – là biểu hiệu cao nhất của tài năng TTY.16
Chữ nghĩa và tri thức đã tổng hợp nên Tô Thùy Yên. Với cách sử dụng chữ nghĩa độc đáo, tân kỳ và sáng tạo17, TTY đã mở ra nhiều cánh cửa của hiện thực. Cũng con sông đó, cũng biển đó, cũng trời đất đó, nói chung là cũng những sự vật đó, TTY đã cho ta thấy nhiều hình dáng khác của chúng, lạ lùng và thú vị. Đồng thời ông mở ra nhiều cánh cửa từ những ý niệm triết học vốn đã bị đào xới mòn nhẵn nghe đến chán chường qua hàng ngàn năm nhân loại suy tưởng. Ai mà chẳng biết vô hạn, hữu hạn, biến dịch, tuyệt đối, chân lý … TTY cũng lập lại chúng, nhưng lập lại một cách khác, choàng lên chúng những khuôn mặt mới, dịu dàng và thơ trẻ hơn. Kiến thức ông chín và sâu, được tiêu hóa đàng hoàng để hóa thành những thi-triết ảnh tươi mươi, sống động. Nhiễm chất thơ, nên thay vì đẻ ra những luận chứng siêu hình ngột ngạt đưa đến những tranh cãi hoài hoài không dứt - kéo dài cả mấy ngàn năm và vẫn còn tiếp tục - thì chúng mang lại cho ta những tuyệt vọng ngọt ngào của cuộc nhân sinh, khiến cho nỗi tuyệt vọng đôi khi cũng lấp lánh, tinh anh như niềm hy vọng.
Phải chăng, đó cũng chính là cùng đích của nghệ thuật?

Trần Hữu Thục

Chú thích:
1. Để cho gọn, trừ trường hợp đặc biệt cần nhấn mạnh một điều gì đó, tôi sẽ dùng chữ tắt "TTY" thay thế cho "Tô Thùy Yên" trong toàn bài viết này.
2. Nguyễn Mạnh Trinh, Phỏng vấn Tô Thùy Yên, tạp chí Hợp Lưu số 24, tháng 8&9/1995, tr. 162. Đây là một bài phỏng vấn rất hay, qua đó, NMT và TTY đã trao đổi rất nhiều điều về thơ: quan niệm của TTY về thơ, cách làm thơ, yếu tố vần điệu, chữ nghĩa, kiến thức… Bài phỏng vấn cũng đưa ra nhiều thông tin về tạp chí Sáng Tạo mà TTY là một trong những thành viên trong ban chủ trương. Theo tôi, những ai muốn tìm hiểu về thơ TTY, không thể không đọc thêm bài phỏng vấn này.
3. Nguyễn Hưng Quốc, "Thơ, V.V… Và V.V...", nxb Văn Nghệ (California) 1996, tr. 192
4. Bùi Vĩnh Phúc, "Lý luận và Phê Bình - Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước 1975-1995", phần "Tô Thùy Yên: Thơ, như một vinh dự lầm than của kiếp người", nxb Văn Nghệ (California) 1996, tr. 395-396
5. Về cách phối trí từ ngữ, tức là chọn lựa và kết hợp, tác giả Bùi Vĩnh Phúc phân tích khá kỹ. Xem Bùi Vĩnh Phúc, sách và bài đã dẫn, tr. 378,379,380
6. Ngôn ngữ Phật Giáo, có nghĩa là: điều-không-thể-nghĩ-bàn
7. Nguyễn Hưng Quốc, sđd, tr. 192
8. Để hiểu rõ hơn quan điểm của TTY về vấn đề cảm hứng, xin trích lại đây ý kiến của ông phát biểu trong bài phỏng vấn "Làm thơ, cũng như làm bất cứ thể loại nghệ thuật nào khác đương nhiên đòi hỏi trước tiên phải có cảm hứng… (…) Tuy nhiên, nghĩ cho cùng, cảm hứng đó do đâu mà phát sinh, nếu chẳng phải từ những nung nấu trường kỳ đến mức đã trở thành những ám ảnh một đời của tác giả. Bản thân tôi không tin là có thể có những cảm hứng ngẫu sinh. Dĩ nhiên bài thơ thành hình không chỉ thuần với cái cảm hứng đầu tiên khai ngộ đó. Từ cái cảm hứng đầu tiên khai ngộ đó đến cuối bài thơ được hoàn thành, với tôi, luôn luôn là một con đường xa vợi, nhọc nhằn lắm khi tuyệt vọng ê chề vì lực bất tòng tâm", dẫn theo "Phỏng vấn Tô Thùy Yên", Nguyễn Mạnh Trinh, bđd, tr. 164
9. Có lần TTY nói với tôi: người sáng tác, theo tôi, phải có cái vision (tầm nhìn) lớn
10. Hai từ triết lý và siêu hình dùng trong bài này có thể làm cho một số người đọc phân vân. Xin được giải thích như sau: Triết lý, tiếng Anh là philosophy, nguyên gốc từ tiếng Hy Lạp (philo và sofia), có nghĩa là "yêu sự khôn ngoan" (love of wisdom). Sau này, từ triết lý được sử dụng rộng rãi để chỉ sự theo đuổi các nghiên cứu có tính chất lý thuyết về những vấn đề liên quan đến cuộc nhân sinh như cái sống, cái chết, bản chất của sự vật, vấn đề chân lý, vấn đề khoa học, hiện sinh và từ đó phát sinh ra nhiều phạm trù khác nhau như: thời gian, không gian, các giá trị, vấn đề tuyệt đối, vân vân. Siêu hình học, metaphysics, nguyên gốc tiếng Hy Lạp là "ta meta ta physika", có nghĩa là "những tác phẩm xuất hiện sau các tác phẩm viết về vật lý (physics) của triết gia Aristotle. Như thế, meta-physics chỉ có nghĩa đơn thuần là "sau-physics". Nhưng về sau, các học giả phương Tây sử dụng nó với ý nghĩa mở rộng, có nghĩa là nghiên cứu những vấn đề siêu vật lý (trans-physical), tức là vượt lên trên những gì quan sát được. Trong trường ốc, người ta thường phân loại triết lý ra thành tâm lý học, luận lý học, đạo đức học, siêu hình học, vân vân. Như thế, siêu hình học là một bộ môn của triết lý. Trong bài này, do phạm vi giới hạn của đề tài, tôi sử dụng cả hai từ triết lý và siêu hình lẫn lộn nhau, đều ám chỉ một số ý niệm (cũng như niềm tin) căn bản về bản chất của sự vật như vấn đề tồn tại, hiện sinh, không gian, thời gian, lịch sử, chân lý…, tóm lại, là những gì không thể kiểm chứng được bằng thực nghiệm. Do đó, chúng khác biệt hay đối lập với hiện thực là những gì xảy ra trong thực tế, có thể nhận biết được bằng các giác quan. Tuy nhiên, từ siêu hình dùng ở đây không liên quan gì đến phong trào siêu thực (surrealism), là một lý thuyết sáng tác nghệ thuật dựa trên vô thức, do André Breton (Pháp) sáng lập vào đầu thế kỷ thứ 20.
11. Nguyễn Mạnh Trinh, Hợp Lưu số 24, bài đã dẫn, tr. 167
12. Dẫn lại theo Nguyễn Hưng Quốc, sđd, tr. 85
13. Nguyễn Hưng Quốc phân tích bài "Qua sông" một cách khá thú vị. Xem NHQ, sđd, tr. 143-147
14. Nguyễn Hưng Quốc, sđd, tr. 192
15. Một phong trào chủ trương bảo vệ môi trường thiên nhiên, chống lại các dự tính làm ô nhiễm môi trường, xuất phát từ các nước kỹ nghệ phương Tây, hiện nay có mặt trên hầu hết các nước trên thế giới
16. Thường người ta chỉ nhớ "Qua sông", "Mùa hạn", và đặc biệt "Ta về". Ngay cả bài "Chiều trên Phá Tam Giang", người ta cũng thích nhớ vài đoạn, mà không lưu ý đến bài thơ như một tổng thể. Trần Thiện Thanh phổ nhạc, chỉ đưa vào một đoạn nói về tình yêu, biến bài thơ thành một bài tình ca. Đáng tiếc! Nhưng cũng đành chịu thôi, vì không thể phổ một bài thơ dài và đa dạng như vậy trong một bản nhạc giới hạn. Vả lại, dường như những gì khác cũng không mấy phù hợp với sở thích của nhà nhạc sĩ này chăng? Riêng tôi, tôi thú vị nghe nhà thơ quá cố Cao Đông Khánh và nữ nghệ sĩ Phan Dụy diễn ngâm bài thơ này (trong nhiều bài khác, cũng của TTY, băng Cassette "Thơ Tô Thùy Yên", Cao Đông Khánh và Phan Dụy diễn đọc, diễn ngâm) Đặc biệt, giọng Cao Đông Khánh rất thích hợp với không khí và tư tưởng của "Chiều trên Phá Tam Giang". Nhất là đoạn kết thúc, nghe rất đã, khi anh chấm dứt ba chữ: dớn dác ngó. Rất dớn dác!
17. TTY phát biểu: "Tôi cũng tâm niệm lời hứa của Đỗ Phủ: Ngữ bất kinh nhân, tử bất an. Nói không làm người sợ, chết không yên. Dường như chẳng bao giờ tôi ngừng nghỉ kiếm tìm cho dù có khổ công đến đâu một chữ đắc, cái chữ độc nhất mà không một chữ nào khác cho là tương đương hòng thay thế được. Nói cách khác, tôi chỉ chịu đi qua một câu thơ, một đoạn thơ khi nào tôi hoàn toàn kiệt quệ khả năng thể hiện hay hơn, gần hơn, sống hơn điều tôi ao ước thể hiện. (…) Câu thơ hay nhất mà thi sĩ nào cũng mong mỏi làm được có lẽ là câu thơ gần gũi nhất với lối nói thông thường mà mới thoạt nghe ai cũng nhận ra ngay là thơ, không giải thích được, không diễn dịch được", Nguyễn Mạnh Trinh, bài đã dẫn, tr.165-166

Thơ                                        Cù Hoà Phong

 

DƯ ÂM

Tiếng kẻng vang nhanh buổi tựu trường
Hoà cùng điệp khúc hiệu đoàn thương
Mỗi lời vang vọng trong tìm thức
Nổi nhớ reo vui tận đáy lòng
Tuổi trẻ hồn nhiên trong cuộc sống
Học đường mẫu mực chả khoa trương
Giờ đây nghĩ lại tình lưu luyến
Một chút dư âm để nhớ trường.

Cù Hoà Phong

 

CUNG XƯA

An Thành* gió thoảng mây đưa,
Nhớ về trận tuyến vẫn chưa xoá mờ.
Bến sông Trường Cửu ơ hờ,
Luỹ dài xuôi dốc bên bờ nước trong.
Nền thành trơ chởm đá ong,
Ngày xưa Quan Phủ, chờ mong nàng hầu.
Cây đa xóm chợ dãi dầu,
Bao trăm năm đã úa màu gió sương.
Nơi đây rộn rã đấu trường,
Đèn hoa kết nối tiếm đường đầy vơi.
Trang lầu tiếng hát ai ơi!
Bát âm cung nguyệt chào mời khách quan.
Giờ nầy cảnh đã hoang tàn,
Tìm trong dĩ vãng muôn ngàn tiếc thương.

 

Cù Hoà Phong
*An Thành: Thuộc thôn An Thành, xã Nhơn Lộc, Quận An Nhơn, B Đ.

 

Thơ                                    Phan Thanh Sơn
Song Anh (Sonny Phan)

Sonny Phan, tên thật Phan Thanh Sơn, cựu học sinh trường Nam Tiểu học và Trung học Phan Châu Trinh Đà nẵng. Yêu thích văn nghệ & báo chí từ thuở  bé.  Viết tình ca và làm thơ là niềm vui trong cuộc sống. Đã sáng tác và tự thực hiện, phát hành nhiều dĩa CD Nhạc chủ đề, và có đăng trên trang nhà : www.sonnyphanmusic.com
Thành viên The Music Club (TMC) và Văn Đàn Đồng Tâm (VĐĐT)

Chén Rượu Thân Tình 

Tao với Mày, lầm lì ngồi uống rượu
Một đĩa mồi, hai râu mực loe ngoe
Phía sau lưng, bợm nhậu hát lè nhè
Bài ca cũ, một thời thơ ấu cũ…
 
Mày với Tao, hai thằng ngồi ủ rũ
Nhìn ra đường, xe cộ nối đuôi nhau
Cuộc sống bon chen, người ngượm nát nhàu
Như cỏ úa nhuộm một màu u tối
 
Thiên hạ sống ganh đua và nóng vội
Chớp lấy thời cơ, giành giật miếng mồi
Kẻ giàu sang khoe của, chễm chệ ngồi
Người đói rách, tìm miếng ăn trong đống rác
 
Nốc chén rượu cay, khóc đời đen bạc
Bạn với bè! còn mấy kẻ tương thân?
Đời chúng ta rách nát tựa tương bần
Khát vọng huyễn, ủ ê buồn tím ngắt!
 
Lầm lũi sống cúi đầu tăm tối mặt
Ưu sầu mang buồn thất chí đa đoan
Chấp nhận đi thôi! mưu sự, cơ hàn
Dép có số! đời con nguời có số!
 
Tao với Mày, ngày mai đi viếng mộ
Thăm thằng bạn hiền đã bỏ cuộc chơi!     
Hắn ra đi, sớm thoát nợ đời
Chào vĩnh biệt, good-bye cuộc sống!
 
Mày với Tao, hai thằng ngồi bất động
Nói làm gì! liếc mắt đã hiểu nhau
Bao chuyện buồn vui, tâm sự thuộc làu
Những chứng tích của tình người dâu bể
 
Trời đỗ cơn mưa, trút ngàn giọt lệ
Giọt lệ nào cho hai đứa mình đây?
Thôi! ráng vui lên, còn đuợc phút này
Nhìn cho rõ, khuôn mặt buồn vô hạn
 
Chỉ còn Mày với Tao, hai thằng bạn
Ngồi bên nhau, cạn chén rượu thân tình…
Song Anh

Buồn!

Buồn trôi theo vạt nắng vàng
Buồn trên con mắt có hàng lệ rưng
Buồn trong lời nói ngập ngừng
Buồn thiên thu tựa núi rừng im hơi

Người đi! tình đã xa rồi
Nỗi buồn ở lại cùng tôi một đời…
Song Anh

 

Thơ                               Mạc Phương Đình

Mạc Phương Đình tên thật là Lê tuấn Ngô, quê quán Cẩm An, Tam Kỳ, Quảng Nam, cựu học sinh trường Trần Cao Vân, Tam kỳ và Quốc Học, Huế. Viết văn xuôi với bút danh Cẩm An Sơn, bạn có thể đọc thêm truyện ngắn tại địa chỉ :
http://leuvanamanson.blogspot.com/

 

[MPD2.jpg]

Vì Sao Lạ Lùng : Em

Trong bầu trời trong trẻo của đêm ấy, một đêm rất xa trong trí nhớ, em chợt đến như một vì sao lạ, một vì sao lấp lánh, không rực rỡ mà dịu dàng, không cao xa mà gần gũi, không kiêu sang mà hiền hoà, như một chiều chuộng ngọt ngào anh vẫn đợi chờ từ rất lâu,
Cánh cửa tâm hồn anh cũng vừa mở ra, oà vỡ đón ánh sáng em, ánh sáng chiếu rọi thật sâu vào những ngõ ngách trái tim anh, một trái tim già cỗi lạnh lùng khép kín tưỏng chừng sẽ lặng lẽ đi vào giấc ngủ thiên thu miên viễn, Ánh sáng em, thứ ánh sáng thơm phức mùi khoan dung, mùi giản dị, mùi thơ ngây của hương đồng cỏ nội, có thoang thoảng một chút hương vị của gió nhẹ, của sương đêm, của ánh trăng bàng bạc, thứ ánh sáng lạ lùng ấy đã nhẹ nhàng đốt lên ngọn lửa nhỏ, ngọn lửa vừa đủ ấm để đánh thức trái tim anh .
Và như một hẹn hò từ tiền kiếp, trái tim anh đã sống lại từ những dịu dàng em, trái tim anh đã gõ lại những nhịp đập từ ánh mắt em, như những lời ru của mẹ ngày xưa ru anh vào tuổi thơ, ru anh chập chững vào đời,
Ôi, ánh mắt em sao có long lanh giọt lệ, giọt lệ buồn tủi hay giọt lệ mừng vui trong hạnh ngộ ? giọt lệ đánh thức nỗi bâng khuâng trong tim anh, một chút xót xa nào đó xa lạ hay thân quen, ngập ngừng không bày tỏ .
Với anh, anh đã đi quá nửa đời mình trong lầm lũi kiếm tìm một nương tựa, sự nương tựa hẹp hòi cho lòng ích kỷ một yêu đương tuyệt vời chưa một lần tìm thấy, Có lẽ đời anh sống với quá nhiều mơ ước, những ước mơ mà anh nghĩ nó rất tầm thường, nhưng đã hoài công trên những chặng đường đời dài không có được, đó là sự chân thật, Anh đã yêu, yêu trên đầu môi chót lưỡi, yêu trên những gian dối, lọc lừa, để rồi mang những niềm đau đó giấu kín vào đáy tim, trái tim vô tội dại khờ lặng lẽ trốn vào giấc ngủ, mệt mỏi .
Để bây giờ anh mới bắt gặp một vì sao lạ lùng : Em,

Mạc Phương Đình

 

Bạn  Cũ

quán cà phê buổi sáng
Nghĩa, Thọ, Khanh và tôi
cả bốn thằng bạn cũ
chia giọt hương ngậm ngùi

nhắc tên kẻ đã khuất
hỏi người ở phương xa
ai người còn người mất
gọi nhau còn mặn mà 

câu thơ xưa đọc lại
kỷ niệm thuở học đường
bóng mờ ngày thơ ấu
ngọt ngào những yêu thương

nhắc gì ngày gian khó
bao nhiêu lần chia tay
gặp nhau chia giọt lệ
buồn vui trên tháng ngày

người đi, người ngồi lại
khắc khoải trong vũng buồn
xa xôi không nói được
bao giờ là mùa xuân

thời gian khua lấp lánh
sợi tóc trắng trên đầu
tóc trắng lòng chưa bạc
bạn bè vẫn ngàn câu 

mạc phương đình

 

Thơ                                               Như  Phong

Tên thật là Nguyễn Phụng
Bút hiệu, Như Phong   (văn, thơ) Nguyên Phong (thư pháp). Thường trú nhân Dallas từ năm 1985. Đã và đang cộng tác với các tờ báo Người Việt Dallas ,Á Châu Thời Báo … Là thành viên Văn Đàn Đồng Tâm, Nam Phong Cali, Cụm Hoa Tình Yêu, Thi Văn Đàn Trầm Hương. Đã xuất bản thi tập : Lạc Nguồn tháng 6 /2006 (thơ và thư pháp). Sẽ xuất bản: Dấu Chân Du Tử .

 

THÁNG TƯ TANG TÓC

Tháng Tư giặc về
một giải non sông nhuốm máu
xác người trôi biển cả bềnh bồng
có xác Mẹ già
xác người em vừa tròn tuổi mộng
xác em thơ
lót đường cho làn xích xe tăng
tháng Tư giặc về
người rừng xuống phố
đất trời than thở
núi giận sông hờn quấn lên đỉnh non xanh
vành mây trắng tang thương
người chiến binh bỏ súng quăng gươm
người lính già lên rừng tù ngục
bỏ lại sau lưng
những chiến tích hào hùng
tháng Tư giặc về
hằng triệu dân lành dìu dắt lên non
người đi gỡ mìn người đi phá núi
“Lao Động Vinh Quang” phải học thuộc lòng
Tháng Tư giặc về
trẻ thơ gầy còm người già vàng vọt
triệu người bỏ xứ tha hương
tìm Tự Do máu đổ ngập đường
hỡi những oan hồn gục xuống đau thương
tháng Tư bây giờ
trở trăn tháng ngày niềm đau đất Mẹ
xa xăm đôi bờ cách biệt trùng dương
ác mộng về qua những đêm trường
kẻ thù ta ơi
mai ta về
cõi gió đông phong
giành lại non sông cho vạn dân lành
dựng lại quê hương
Tự Do, tình người, và hạnh phúc.

Như Phong
Một tháng tư buồn 2k8

Thơ Trào Phúng                   H P -  TNT
                                      Trương Ngọc Thạch

 

HP-TNT
Tên thật là Trương Ngọc Thạch. Sinh năm 1943.  Năm 1954, đã theo mẹ di cư vào Nam lánh nạn cộng sản. Cựu học sinh Hồ Ngọc Cẩn. Quân y sĩ từ năm 1970 – sau 1975 bị bắt làm tù nhân cải tạo. Năm 1978 được tha về phục vụ tại bệnh viện An Bình,  năm đó đi vượt biên nhưng không thành công,  năm sau 1979 vượt biên lần thứ 2 thoát được qua Nam Dương nhưng đã mục kích nạn cướp biển Thái Lan, tới Mỹ năm 1980, hiện định cư tại San Bernardino CA.
Làm thơ trào phúng là nghiệp dư trong một dịp tình cờ, đã sáng tác nhiều thơ đăng trên vài tạp chí và giai phẩm tại Hoa Kỳ, nhưng vẫn còn nhiều bài thơ chờ trình làng. Nay tình cờ gia nhập VĐĐT nên coi đây là mối duyên văn nghệ. Thật vui.

 

MẤT CHỒNG

Ông chồng nọ bỗng đâu biệt tích,
Bà vợ ông mải miết săn tin,
Đến đồn cảnh sát, bà trình:
Chồng tôi biến mất, ông tìm giúp cho.

Công an hỏi: chồng cao hay thấp?
Bà thưa rằng: chẳng biết chiều cao.
Công an: béo mập thế nào?
Bà rằng: không nhớ, làm sao hở thày?

Công an tiếp: có hay màu mắt?
Bà đáp rằng: màu cũng quen quen.
Công an: mái tóc ông đen?
Bà rằng: tóc nhuộm khi đen khi vàng.

Công an hỏi: ông mang gì chót?
Bà thưa rằng: tôi rất rõ ràng:
Một con chó Fox thật ngoan,
Cổ đeo dây xích, lon ton, màu vàng.

Fox nhỏ thó, dễ thương, lông mượt,
Mắt xanh lam, móng xước một chân.
Nó hiền, rất dễ làm thân,
Chẳng hề sủa bậy khi gần người ta.

Công an nói: ta tìm con chó.

Hp-TnT 2/18/2012

 

Thơ                          Nguyễn Tùng Sơn

James Phúc Nguyễn, bút hiệu Nguyễn Tùng Sơn. Sinh quán làng Tùng Sơn, huyện Hòa Vang,  Quảng Nam. Vì giặc CS, nên đành bỏ làng quê theo cha mẹ xuống sinh sống ở Đà Nẵng và Hội An. Du học Âu Châu 1973. Trước năm 1973, dạy môn Anh Văn tại  Tiêủ Chủng Viện Thánh Gioan và Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng. Đã từng cọng tác với báo Thế Giới, tuần báo Đẹp ở Houston…Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ nhiều năm, nhiều đặc san tại Hoa Kỳ . Sở thích gồm chơi chim, cá, cây cảnh…
Ngoài bút hiệu chính còn có: Nguyễn Sơn Hòa Vang, Đà Giang, Lý Phi, Hồng Giấc Mộng, Thúc Phong dùng tùy hoàn cảnh và thể theo văn thơ.

BUỒN TRÔNG

Thoảng qua một giấc mơ màng
Ai ngờ con tạo khéo đa đoan
Trời đất xoay tròn xa thăm thẳm
Biển rộng mênh mông mỏi mắt chờ
Thuyền buồm vắng lạnh không cập bến
Mong ngày gặp lại chốn cố hương!

 

NHẮN GỞI VỀ QUÊ

Chúc cho cô bác quê nhà
Thảnh thơi gặt hái mùa và bông hoa
Mai ngày tốt đẹp chan hòa
Ra đi đất khách quê ta quê người
Nước non ngàn dặm biển khơi
Khó khăn thử thách cuộc đời cô đơn
Thương nhà nhớ nước mỏi mòn
Mong ngày gặp lại tâm hồn xót xa
Bà con cô bác vui hòa
Kính lời thăm hỏi gởi qua nghìn trùng
Chúc cho làng xóm vui cùng
Nhớ nhau tôi có mấy hàng làm tin
Chúa Trời ở khắp tôi tin
Sống đời bác ái là tìm nước Cha

Nguyễn  Sơn Hoà Vang
14  Feb.  1999

 
Gửi góp ý
Tiêu đề
Nội dung

Những tin mới hơn

  • TTVDDT 19 - Phần 18
    TTVDDT 19 - Phần 18

     

    Liêu Trai Chí Dị

     

    Giáo sư Đàm Quang Hưng: Giáo sư Trung học Trưng Vương, Hồ Ngọc Cẩn của các trường tư như Phan Sào Nam, Văn Học, Hưng Đạo, Trường Sơn và nhiều trường khác. Nguyên là Trưởng khoa Toán trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.

    GS Đàm Quang Hưng còn là một học giả bậc nhất về môn Hán Nôm nên chính là một dịch giả tuyệt vời đã dịch tác phẩm LIÊU TRAI CHÍ DỊ.

    Bộ sách này : Gồm 8 quyển trên 4000 trang.

    Tuy tuổi đời GS đã cao, nhưng sức khoẻ của giáo sư vẫn còn tráng kiện nên hiện nay Giáo Sư Hưng vẫn còn là Giáo Sư Toán học, giảng dạy tại Đại Học Cộng Đồng tại Houston Texas.

     

    Văn Đàn Đồng Tâm đã xin được phép chính thức đăng lại một số bài viết trích trong pho sách LIÊU TRAI CHÍ DỊ quý giá này.

     

    Trân trọng giới thiệu với đọc giả xa gần khắp nơi trên thế giới. Và cũng xin chân thành cám ơn GS Đàm Quang Hưng đã có nhã ý và ưu ái đối với Văn Đàn Đồng Tâm.

     

    Doãn Quốc Sỹ

     

    LIÊU TRAI CHÍ DỊ  - Gs Đàm Quang Hưng -

     

    KÝ SINH

     

    Phụ ký chung tình, tử cánh si

    Mộng hồn điên đảo hệ tương tư

    Họa bình khai xứ song điêu xạ

    Đắc ý ngâm thành khước phiến thi

     

     

                                    

     

    Vương Ký Sinh         

    Huyện Đại Danh, tỉnh Hà Bắc, có nho sinh Vương Ký Sinh, tên chữ Vương Tôn, là con trai Vương Quế Am với Mạnh Vân Nương.

    Trước kia, khi Vân Nương hoài thai, ngỡ một câu chuyện chồng đặt ra để  nói đùa mình là thực, đã nhảy xuống sông tự tử, nhưng thoát chết vì được ông lão họ Mạc vớt lên, đem về nhà nuôi. Trong khi Quế Am tin là vợ mình đã chết thì Vân Nương sanh con, đặt tên là Ký Sinh.

    Năm sau, Quế Am tình cờ gặp Ký Sinh nhưng không biết là con mình. Vì Ký Sinh có linh tính nhận ra cha nên gia đình được đoàn tụ và Ký Sinh được cha mẹ nuông chiều. Càng lớn, Ký Sinh càng đẹp trai, thông tuệ. Được cha cho đi học, Ký Sinh được thầy khen là thông minh xuất chúng. Năm lên 8, Ký Sinh đã biết làm văn. Năm 14 tuổi, Ký Sinh được nhận vào học ở trường huyện, nổi tiếng danh sĩ trong vùng. Tuy nhiên, Ký Sinh lại có tính quá đa nghi.

    Quế Am có người em gái, tên Nhị Nương, lấy chồng là nho sĩ Trịnh Tử Kiều, tính rất nghiêm cẩn, sanh một gái, đặt tên là Khuê Tú, rất mực kiều di­ễm và thông tuệ. Tuy là anh em cô cậu, lại ở gần nhà nhau, nhưng Ký Sinh với Khuê Tú chưa được gặp nhau lần nào.

    Năm ấy, nhân dịp tết Nguyên Đán, Ký Sinh được cha mẹ cho theo sang nhà Cô chơi. Gặp Khuê Tú lần đầu, Ký Sinh đã thầm yêu trộm nhớ, bỏ ăn bỏ ngủ, rồi ốm tương tư. Không hiểu tại sao con mình lại tiều tụy như thế, vợ chồng Quế Am hỏi thẳng con. Ký Sinh cứ tình thực mà thưa. Quế Am bèn nhờ bà mối họ Quách, tới nhà Tử Kiều hỏi Khuê Tú cho con.

    Quách bà tới thưa chuyện với Tử Kiều. Tử Kiều từ chối, nói rằng con cô con cậu không được lấy nhau. Nghe tin, Ký Sinh thất vọng lắm, bệnh tình càng trầm  trọng. Vân Nương rất lo cho con, nhưng không biết làm thế nào, chỉ sai bà vú tới xin với Nhị Nương cho Khuê Tú sang thăm Ký Sinh một lần. Nhị Nương nói với chồng, Tử Kiều nổi giận, mắng chửi Ký Sinh ầm ĩ, trách móc vợ chồng Quế Am không biết dạy con, rồi tuyệt giao với gia đình Quế Am. Nghe chuyện, vợ chồng Quế Am cũng đành im lặng, chỉ biết khuyên giải, chăm sóc thuốc thang cho con.

    Ba tháng sau, nhân tiết Thanh Minh, Ký Sinh thấy trong người sảng khoái, bệnh tình thuyên giảm, bèn xin cha mẹ cho đi dự hội Đạp Thanh. Cha mẹ thuận cho đi.

    Trong huyện, có gia đình họ Trương, dòng dõi vọng tộc. Ông bà Trương có 5 con gái, đặt tên theo thứ tự trước sau, từ Nhất Khả tới Ngũ Khả, người nào cũng đẹp, mỗi người một vẻ, nhưng ai cũng công nhận Ngũ Khả có nhan sắc phi thường, đẹp hơn cả 4 chị. Vương tôn công tử trong vùng đua nhau nhờ người mối lái, xin cưới Ngũ Khả, nhưng khi ông bà Trương hỏi ý thì Ngũ Khả đều từ chối, không ưng đám nào.

    Hôm ấy, nhân tiết Thanh Minh, ông bà Trương sai gia nhân giong xe cho Ngũ Khả đi dự hội Đạp Thanh, cho bà vú theo hầu. Dọc đường, thấy một nho sinh đẹp trai, cũng đi dự hội, Ngũ Khả vén rèm lên coi. Thấy thế, bà vú nói cho Ngũ Khả biết rằng nho sinh ấy là danh sĩ Vương Ký Sinh. Về nhà, bà vú thuật lại với Truơng Bà chuyện Ngũ Khả chăm chú nhìn Ký Sinh. Trương bà bèn dò ý con. Thấy Ngũ Khả lặng im, Trương bà hiểu con đã thuận, liền nói với chồng. Nghe xong, Trương ông bèn nhờ bà mối họ Vu, tới nhà Quế Am làm mối cho con.

    Hôm sau, Vu bà tới nhà Quế Am, xin được gặp chủ nhân. Thấy gia nhân canh cổng vào trình, Vân Nương vội sai ra mời khách vào sảnh đường.

    Gặp Vân Nương, Vu bà niềm nở chào kính. Vân Nương cũng niềm nở đáp lễ. Trong lúc trò chuyện, Vu bà chợt hỏi:”Công tử nhà ta vẫn mạnh khỏe chứ?” Vân Nương đáp:”Cháu bị bệnh đã từ lâu, gia đình chăm sóc thuốc thang, nhưng bệnh tình chỉ thuyên giảm chứ chưa khỏi hẳn, hiện vẫn còn nằm dưỡng bệnh trong phòng!” Vu bà cười, nói:”Lão thân biết một thầy thuốc có thể chữa được bệnh cho công tử!” Vân Nương hỏi:”Ai thế?” Vu bà cười, đáp:”Một tiểu thư!” Rồi Vu bà thuật cho Vân Nương nghe chuyện họ Trương nhờ mình tới làm mối Ngũ Khả cho Ký Sinh. Vân Nương hỏi:”Trương Ngũ tiểu thư có đẹp lắm không?” Vu bà ngạc nhiên đáp:”Ủa! Thế ra phu nhân chưa nghe thấy ai ca tụng nhan sắc Trương Ngũ tiểu thư hay sao?” Rồi Vu bà giơ chân múa tay để mô tả nhan sắc Ngũ Khả. Nghe xong, Vân Nương mừng lắm, mời Vu bà vào phòng Ký Sinh nói chuyện.

    Gặp Ký Sinh, Vu bà hỏi thăm sức khỏe rồi nói:”Lão thân nghe nói công tử bị bệnh và gia đình đã mời một thầy thuốc tới nhà chữa bệnh cho công tử, nhưng thầy thuốc ấy không chịu tới! Nay lão thân biết một thầy thuốc khác, giỏi hơn thầy thuốc của công tử nhiều, nên lão thân tới đây để giới thiệu với công tử!” Ký Sinh lắc đầu, nói:”Cháu cám ơn Bà, nhưng thầy thuốc của Bà không thể chữa được bệnh cho cháu thì mời tới làm chi?” Vu bà cười, nói:”Công tử đã biết thầy thuốc của lão thân là ai đâu mà võ đoán như thế? Công tử bị bệnh, mời thầy thuốc tới nhà chữa bệnh cho mình là đúng, nhưng nếu thầy thuốc ấy không chịu tới thì phải mời thầy thuốc khác, chứ cứ nhất định nằm chờ một thầy thuốc cho đến chết thì có phải là u mê quá hay không?” Ký Sinh khóc mà nói:”Thế nhưng trong thiên hạ không có thầy thuốc nào giỏi bằng thầy thuốc của cháu thì biết làm thế nào?” Vu bà nói:”Sao cái nhìn của công tử lại hẹp hòi đến thế?” Rồi miệng nói, tay khua, Vu bà mô tả nhan sắc Ngũ Khả, từ tóc tai, da dẻ tới thần thái, tác phong. Ký Sinh vẫn lắc đầu, nói:”Xin Bà đừng nói nữa! Cháu không dám mơ ước nhiều như thế đâu!” rồi trở mình, quay mặt vào tường mà nằm, tỏ ý không muốn nghe nữa.

    Thấy thế, Vu bà cũng bực mình, liền ra khỏi phòng, lên thuật lại cho vợ chồng Quế Am nghe. Quế Am hứa với Vu bà là sẽ khuyên con và viết thư trả lời Trương ông.

    Sau khi Vu bà cáo biệt, Quế Am vào phòng khuyên con. Thấy con không thuận, Quế Am cũng làm ngơ, không viết thư trả lời Trương ông nữa.

    Hôm sau, bệnh tình của Ký Sinh lại trở nặng.

    Đang nằm mê man, bỗng Ký Sinh thấy một tì nữ chạy vào báo:”Thưa công tử, tiểu thư mà công tử vẫn hằng thương nhớ đã tới sân nhà mình, sắp vào đây thăm công tử!” Ngỡ là Khuê Tú, Ký Sinh mừng quá, vội vàng vùng dậy, chỉnh lại áo quần, xỏ giầy chạy ra đón tiếp.

    Ra tới hành lang, Ký Sinh quả thấy một tiểu thư mặc áo gấm quần thêu, đang từ dưới sân bước lên bậc thềm. Tuy nhiên, khi tiểu thư tới gần, Ký Sinh mới biết không phải là Khuê Tú mà là một giai nhân khác, nhan sắc phi thường, miệng cười chúm chím.

    Xao xuyến trước nhan sắc phi thường ấy, thầm nghĩ chắc giai nhân không phải là người phàm, Ký Sinh vội vòng tay thi l­ễ mà hỏi: ”Phải chăng nương tử là thần tiên giáng thế? Xin cho tiểu sinh được rõ để tiện bề xưng hô!” Giai nhân mỉm cười, cất giọng oanh vàng mà đáp: ”Thiếp là Trương Ngũ Khả, cũng chỉ là một phàm nhân như công tử mà thôi! Hôm nay, thiếp tới đây để nhắc công tử một điều!” Ký Sinh hỏi: ”Xin nương tử cho biết là điều chi?” Giai nhân đáp: ”Công tử là khách đa tình mà lại dồn hết tình cảm của mình vào một người thôi thì tránh sao khỏi sự bất bình của kẻ khác?” Ký Sinh vội nói: ”Cám ơn nương tử đã mở mắt cho tiểu sinh! Vì từ trước tới nay tiểu sinh chưa từng được nhìn thấy nhan sắc nào phi thường như nhan sắc nương tử nên trong con mắt thiển cận của tiểu sinh, Khuê Tú là đệ nhất giai nhân trần thế! Nay thì tiểu sinh đã biết là mình lầm, mong được nương tử tha thứ!” Giai nhân lại mỉm cười. Hai người bèn trò chuyện rồi trở thành bạn thân, cầm tay nhau âu yếm, thề cùng chung thủy.

    Hôm ấy, thấy bệnh tình của con lại trở nặng, Vân Nương đích thân vào phòng xoa bóp cho con.

    Bị mẹ đụng vào mình, Ký Sinh tỉnh giấc mới biết là mình nằm chiêm bao. Tuy nhiên, Ký Sinh vẫn còn tưởng chừng như nhìn thấy nhan sắc giai nhân ở trước mắt, nghe thấy tiếng nói giai nhân ở bên tai.

    Thầm nghĩ nếu quả Ngũ Khả có đủ vẻ đẹp như giai nhân trong mộng thì mình chẳng cần phải đi cầu Khuê Tú làm chi, Ký Sinh bèn thuật lại giấc mộng cho mẹ nghe. Vân Nương mừng lắm, vội sai gia nhân đi mời Vu bà tới nói chuyện.

    Vu bà tới. Vân Nương nhờ Vu bà đến nhà họ Trương hỏi Ngũ Khả cho con. Vu bà nhận lời, nhưng nói phải chờ ít bữa nữa mới có dịp thuận tiện.

    Vu bà về rồi, vốn tính đa nghi, Ký Sinh lại ngờ rằng chưa chắc Ngũ Khả đã đẹp như giai nhân trong mộng! Biết bà hàng xóm phía đông nhà mình là Uông bà có quen với gia đình họ Trương, Ký Sinh vội lò dò sang nhờ Uông bà đến nhà họ Trương xem mặt Ngũ Khả giùm mình. Uông bà nhận lời.

    Hôm sau, Uông bà tới thăm Trương bà, giả như không biết chuyện giữa Ký Sinh với Ngũ Khả. Chuyện trò hồi lâu, Uông bà hỏi:”Ngũ tiểu thư vẫn được mạnh khoẻ chứ?” Trương bà đáp:”Cháu đang bị mệt, phải nằm nghỉ ở trong phòng!” Uông bà xin vào thăm. Trương bà liền dẫn vào.

    Thấy Ngũ Khả có nhan sắc cực kỳ diễm lệ, dáng vẻ cực kỳ yểu điệu, đang ngồi ở án thư, ngoẹo đầu tựa má trên bàn tay ra chiều suy nghĩ, Uông bà liền lên tiếng hỏi:”Bệnh tình tiểu thư ra sao?” Ngũ Khả chưa kịp đáp thì Trương bà đã đỡ lời con:”Cháu có bị bệnh chi đâu! Mấy hôm nay cháu hơi bực mình với cha mẹ nên hơi bị mệt đó thôi!” Uông bà hỏi:”Tiên sinh với phu nhân làm chi mà tiểu thư lại bực mình?” Trương bà đáp:”Có làm chi đâu! Chỉ vì có rất nhiều vương tôn công tử tới dạm hỏi nhưng cháu đều từ chối, chẳng ưng đám nào. Gia đình khuyên nên chọn một đám thì cháu hỏi tại sao lại muốn gả chồng cho cháu gấp thế? Đáp là muốn được nhìn thấy cháu có gia thất sớm thì cháu giận hờn, bỏ ăn bỏ ngủ mấy ngày nay!” Uông bà hỏi:”Thế tiểu thư có tỏ ý ưng ai bao giờ không?” Trương bà gật đầu, đáp:”Có!” Uông bà vội hỏi:”Thưa phu nhân, ai thế?” Trương bà đáp: ”Công tử Ký Sinh, bên tiên sinh Vương Quế Am!” Uông bà nói:”Nếu thế thì thực là đũa ngọc có đôi! Sao bên này không nhờ người tới bắn tiếng với nhà họ Vương?” Trương bà đáp:”Có! Gia đình đã nhờ Vu bà tới bắn tiếng với bên ấy rồi, nhưng công tử Ký Sinh không thuận!” Uông bà nói:”Chắc vì công tử chưa được nhìn thấy dung nhan của tiểu thư đó thôi! Nếu được nhìn thấy rồi thì lão thân dám chắc là công tử sẽ bị mê mẩn tâm hồn mà xin cha mẹ nhờ bà mối tới đây hỏi cưới tiểu thư tức khắc! Lúc đó, nếu tiểu thư mà từ chối thì lão thân dám chắc là công tử sẽ bị thất tình mà chết! Để lão thân về nói với Vương tiên sinh và phu nhân nhờ bà mối tới đây hỏi tiểu thư cho công tử. Chẳng hay gia đình ta có ưng không?” Nghe Uông bà nói, Ngũ Khả vội xua tay:”Xin Bà đừng làm thế! Lỡ ra người ta không thuận thì cháu xấu hổ lắm, rồi sẽ bị thiên hạ cười cho!” Uông bà cười, nói:”Xin tiểu thư đừng lo! Lão thân dám đoan quyết rằng lần này thế nào cả nhà họ Vương cũng đều phải ưng thuận!” Ngũ Khả mỉm cười. Uông bà bèn cáo biệt.

    Về nhà, thấy Ký Sinh đang ngồi chờ mình, Uông bà bèn tả hết vẻ đẹp của Ngũ Khả cho nghe. Tuy thấy Uông bà tả vẻ đẹp của Ngũ Khả giống hệt lời tả của Vu bà, Ký Sinh vẫn chưa tin, hỏi:”Thế Ngũ tiểu thư phục sức ra sao?” Uông bà đáp:”Tiểu thư mặc áo gấm quần thêu!” Thấy Uông bà tả giống hệt cách phục sức của giai nhân trong mộng, Ký Sinh cũng mới chỉ hơi an tâm, chứ vẫn chưa tin hẳn lời Uông bà.

    Mấy hôm sau, thấy bệnh tình của mình đã thuyên giảm, Ký Sinh bèn lén sai gia nhân đi mời Vu bà tới cho mình nhờ một việc. Vu bà tới, hỏi:”Công tử muốn nhờ lão thân việc chi?” Ký Sinh nói:”Cháu muốn nhờ Bà tìm cách cho cháu được nhìn thấy Trương Ngũ tiểu thư một lần!” Vu bà nói:”Việc này khó lắm, lão thân không dám nhận lời đâu! Nhưng thôi, công tử đã nhờ thì để lão thân cố giúp một lần xem sao! Xin công tử chờ cho ít bữa!” Nói xong, Vu bà cáo biệt.

    Ba ngày sau, không thấy Vu bà trở lại, Ký Sinh toan sai gia nhân đi mời thì chợt thấy Vu bà bước vào sân nhà mình, nét mặt tươi cười hớn hở.

    Vào phòng Ký Sinh, Vu bà nói:”Công tử may lắm! Hôm nay nhân dịp tới thăm ông bà Trương, lão thân có ghé thăm Ngũ tiểu thư! Nghe nói mấy hôm trước, tiểu thư bị se mình, nhưng hôm nay đã đỡ. Tình cờ nghe thấy tiểu thư bảo lũ tì nữ sáng mai dìu tiểu thư sang gian nhà đối diện trong sân để đổi gió, nên lão thân vội tới đây đề nghị với công tử là sáng mai, giờ thìn, công tử tới gặp lão thân ở trước cổng nhà họ Trương. Lão thân sẽ dẫn công tử vào nấp ở trong sân mà nhìn! Tiểu thư còn yếu sức, chắc sẽ đi chậm, công tử tha hồ mà ngắm!” Mừng quá, Ký Sinh cứ vâng dạ luôn miệng. Vu bà bèn cáo biệt.

    Sáng sau, Ký Sinh sai gia nhân đem ngựa cho mình cưỡi tới trước cổng nhà họ Trương thì thấy Vu bà đã đứng ở đó.

    Vu bà vội bảo Ký Sinh đem ngựa ra gốc cây đằng xa mà buộc, rồi dẫn Ký Sinh lẻn qua cổng, vào căn nhà ngang ở cạnh sân, bảo đứng nấp sau cánh cửa, rồi Vu bà lên phòng Ngũ Khả.

    Lát sau, Ký Sinh thấy một tiểu thư vịn vai hai tì nữ, từ trong phòng bước ra sân, có Vu bà theo sau. Từ chỗ nấp, Ký Sinh dán mắt nhìn qua khe cửa.

    Trong khi tiểu thư cất bước, Vu bà cứ lấy tay chỉ trời, chỉ đất, cốt để cho tiểu thư nhìn theo tay mình mà chậm bước lại. Thấy tiểu thư giống hệt giai nhân trong mộng, Ký Sinh mừng quá, run rẩy cả người, mơ hồ như mình đang nằm chiêm bao.

    Khi tiểu thư đã vào nhà, Vu bà bèn lẻn tới chỗ Ký Sinh nấp, hỏi:”Công tử thấy thế nào? Tiểu thư Ngũ Khả có thể thay được tiểu thư Khuê Tú chăng?” Ký Sinh vội gật đầu, đáp:”Dạ, thưa Bà được! Cháu xin cám ơn Bà!” Vu bà bèn dẫn Ký Sinh lẻn ra cổng. Ký Sinh vội tới gốc cây, tháo ngựa ra về.              

    Tới nhà, Ký Sinh thưa chuyện với cha mẹ. Vợ chồng Quế Am bèn nhờ bà mối họ Quách đến nhà họ Trương hỏi Ngũ Khả cho con.

    Hôm sau, khi Quách bà đến nhà họ Trương hỏi Ngũ Khả cho Ký Sinh thì Trương ông cho biết là đã nhận lời gả Ngũ Khả cho đám khác rồi. Không biết nói chi thêm, Quách bà xin cáo biệt, tới nhà Quế Am thuật chuyện.

    Nghe chuyện, Ký Sinh thất vọng lắm, bệnh cũ lại phát tác. Vừa buồn cho con, vừa bực vì con, vợ chồng Quế Am lên tiếng trách:”Con trai gì mà hèn quá thế? Sao chẳng có chút nghị lực nào vậy?” Ký Sinh chỉ im lặng.

    Từ hôm ấy, mỗi ngày Ký Sinh chỉ húp một chút nước cháo để cầm hơi.

    Ba tháng sau, thân hình Ký Sinh chỉ còn da bọc xương, trông tiều tụy hơn lần bệnh trước nhiều.

    Một hôm, Vu bà tới thăm vợ chồng Quế Am. Sau khi trò chuyện, Vu bà xin phép vào thăm Ký Sinh. Vân Nương dẫn Vu bà vào phòng Ký Sinh rồi trở ra.

    Thấy Ký Sinh, Vu bà kinh ngạc, hỏi:”Sao công tử lại tiều tụy hốc hác quá thế?” Ký Sinh bèn oà lên khóc rồi thuật lại lý do cho Vu bà nghe. Vu bà cười, nói: ”Công tử si tình quá lắm! Thế nhưng lỗi là lỗi ở công tử chứ đâu có phải là lỗi ỏ người ta? Trước kia người ta chạy theo công tử thì công tử hắt hủi! Bây giờ công tử lại đi cầu người ta thì người ta tự ái, đâu có thể ưng thuận ngay được? Tuy nhiên, lão thân thấy việc này vẫn còn hy vọng!” Ký Sinh vội hỏi:”Thưa Bà, liệu còn chút hy vọng nào không?” Vu bà nói:”Còn! Tại công tử đi nhờ Quách bà chứ nếu công tử nhờ lão thân thì việc này xong từ lâu rồi! Công tử mà nói cho lão thân biết sớm thì dù cho Trương Ngũ tiểu thư đã hứa hôn với hoàng tử con vua, lão thân cũng vẫn giật lại được cho công tử!” Mừng quá, Ký Sinh vội hỏi:”Thế bây giờ cháu phải làm chi?” Vu bà cười, đáp:”Công tử thì làm chi được? Phải có lệnh tôn đứng ra cầu hôn cho thì việc mới thành!” Ký Sinh vội nói:”Thế thì xin Bà làm ơn lên nói với cha cháu giùm! Cháu xin cám ơn Bà!” Vu bà gật đầu.

    Ký Sinh dẫn Vu bà lên gặp cha.

    Gặp Quế Am, Vu bà nói:”Thưa tiên sinh, bây giờ xin tiên sinh viết thư cho Trương ông, xin ngày mai tới gặp để bàn chuyện hôn nhân cho công tử với Ngũ tiểu thư, rồi sai gia nhân đem thư đi ngay cho!” Quế Am nói:”Trương ông đã nhận lời gả Ngũ tiểu thư cho đám khác rồi mà!” Vu bà nói:”Vì không thấy tiên sinh trả lời nên Trương ông mới nhận lời gả Ngũ tiểu thư cho đám khác! Tuy nhiên, lão thân biết Trương ông mới nhận lời suông thôi, chứ chưa viết hôn ước!” Quế Am nói:”Nhưng trước kia bản nhân đã quên không trả lời Trương ông nên e Trương ông vẫn còn giận. Bây giờ nếu lại đường đột xin tới gặp thì e Trương ông càng giận mà từ chối!” Vu bà nói:”Tuy Trương ông có giận tiên sinh thực, nhưng lão thân thấy Trương ông chiều con lắm, thế nào cũng hỏi ý con chứ không tự ý từ chối đâu! Ngạn ngữ có câu Ai nấu trước, ăn trước! Vậy xin tiên sinh cứ thử viết thư xem sao, việc chi mà ngại?” Thấy Vu bà nói có lý, Quế Am bèn nghe lời, lấy giấy bút ra viết một bức thư, rồi sai hai gia nhân đem thư tới nhà Trương ông.

    Trương ông mở thư ra coi, đi hỏi ý Ngũ Khả, rồi phúc thư, đưa cho hai gia nhân cầm về.

    Quế Am mở phúc thư ra coi, thấy Trương ông thuận cho mình hôm sau tới gặp để bàn chuyện hôn nhân cho con thì mừng lắm, thưởng tiền cho Vu bà. Vu bà cũng mừng, nhận tiền rồi xin cáo biệt.

    Hôm sau, Quế Am tới nhà Trương ông xin hỏi Ngũ Khả cho Ký Sinh. Mọi việc đều êm xuôi rồi hai bên cùng ấn định ngày hỏi, ngày cưới. Thấy việc đã thành, Ký Sinh mừng lắm, khỏi hẳn bệnh rồi quên luôn Khuê Tú.           

    Lại nói về gia đình họ Trịnh.

    Khi thấy cha tuyệt giao với gia đình cậu, Khuê Tú buồn lắm, nhưng vẫn nuôi hy vọng là sẽ có ngày mình được làm vợ Ký Sinh. Nay nghe tin Ký Sinh sắp thành hôn với người con gái thứ 5 của gia đình họ Trương, Khuê Tú đâm ra tuyệt vọng. Vì uất ức với cha, Khuê Tú nhuốm bệnh, suốt ngày cứ hoảng hốt như kẻ bị ma làm, thân hình mỗi ngày một tiều tụy. Ông bà Trịnh hỏi lý do thì Khuê Tú không dám nói sự thực, chỉ trả lời là không biết tại sao. Ông bà bèn mời thầy thuốc tới nhà chữa bệnh cho con, nhưng bệnh của Khuê Tú vẫn không thuyên giảm.

    Một hôm, một tì nữ biết tâm sự của Khuê Tú, bèn lên thưa với Nhị Nương. Nhị Nương nói lại với chồng. Tử Kiều giận lắm, nói:”Nếu thế thì đổ thuốc đi, không cho nó uống nữa! Ta sẵn sàng ngồi chờ tin nó chết!” Thấy chồng nói thế, Nhị Nương oán hận lắm, nói:”Ký Sinh là cháu trai bên ngoại! Y cũng chẳng xấu xa gì! Tại sao chàng cứ giữ cái hủ tục là con cô con cậu không được lấy nhau để giết con mình?” Tử Kiều càng giận, nói:”Sanh con như thế thì chỉ tổ để thiên hạ cười cho thôi! Thà để cho nó chết đi còn hơn là để cho nó sống!” Vì thế mà hai vợ chồng cứ  hục hặc với nhau.

    Thương con quá, Nhị Nương nảy ý riêng.

    Một hôm, Nhị Nương vào phòng con, nói dò ý:”Ký Sinh có cưới vợ thì cũng chẳng sao! Mẹ sẽ gả con cho y làm vợ lẽ!” Khuê Tú chỉ im lặng. Nhị Nương bèn hỏi lại:”Con có ưng làm vợ lẽ Ký Sinh không?” Khuê Tú gật đầu. Nhị Nương ra nói lại với chồng. Tử Kiều giận lắm, nói:”Thôi! Bây giờ ta giao hẳn nó cho nàng! Ta coi như nó đã chết rồi, không muốn nghe ai nói tới nó nữa!” Nhị Nương lại đem lời chồng vào thuật cho con nghe. Thấy cha giao mình cho mẹ, Khuê Tú mừng lắm, rồi bệnh khỏi dần.

    Vào sáng ngày cưới của Ký Sinh với Ngũ Khả, Nhị Nương sai hai tráng nô sang thưa với Quế Am rằng mình muốn sang dự đám cưới cháu.

    Vốn quý em gái, nay lại thấy em gái muốn sang dự đám cưới con mình, Quế Am mừng lắm.

    Thấy nhà em gái ở gần nhà mình, mà nhà mình đang có sẵn cỗ xe ngựa đón dâu, Quế Am liền sai gia nhân giong cỗ xe ấy đi đón em gái.

    Khi xe tới, Nhị Nương sai hai tráng nô khiêng một cuốn thảm lớn lên xe, bảo hai bà vú lấy y phục cô dâu mặc cho Khuê Tú, lấy khăn lụa đỏ choàng lên đầu Khuê Tú, phò Khuê Tú theo mình lên xe, rồi bảo gia nhân nhà Quế Am đánh xe về.

    Tới nơi, Nhị Nương sai hai tráng nô trải thảm từ bậc xe tới cửa sảnh đường, rồi bảo hai bà vú dìu Khuê Tú xuống, theo mình bước lên thảm mà vào.

    Thấy trong sảnh đường có sẵn ban nhạc, Nhị Nương liền bảo các nhạc công cử nhạc. Ngỡ là nhà gái đưa dâu tới sớm, các nhạc công nổi trống kèn inh ỏi, vang động khắp nhà.

    Đang ở trong phòng, nghe thấy tiếng trống kèn ngoài sảnh đường, Ký Sinh kinh hãi quá, không hiểu tại sao nhà gái lại đưa dâu tới trước giờ ấn định, bèn chạy ra coi.

    Ra tới nơi, thấy cô dâu đã phục sức lộng lẫy, choàng đầu bằng khăn lụa đỏ, còn mình vẫn ăn mặc lôi thôi, Ký Sinh vội quay vào phòng để thay y phục.

    Nhìn thấy Ký Sinh quay gót, Nhị Nương vội sai hai tráng nô chạy theo, kéo lại. Thấy Cô trong sảnh đường, ngỡ rằng Cô sang sớm để dự l­ễ cưới của mình, Ký Sinh mừng lắm. Bỗng thấy Cô bảo mình phải làm lễ­ giao bái ngay với tân nương, ngỡ rằng Cô đã được cha mẹ nhờ điều khiển buổi lễ, Ký Sinh vội tuân lời mà làm lễ giao bái.

    Lễ xong, Nhị Nương dìu Khuê Tú ngồi xuống chiếc ghế cô dâu, mở khăn choàng đầu ra. Khi nhìn thấy cô dâu là Khuê Tú chứ không phải là Ngũ Khả, Ký Sinh mới vỡ lẽ, sững sờ kinh ngạc.

    Nghe tiếng trống kèn nổi lên quá sớm, mọi người trong nhà đều lấy làm lạ, rủ nhau lên sảnh đường coi.

    Khi biết rõ sự tình, mọi người đều kinh hãi, rối loạn cả lên, không biết phải làm thế nào. Quế Am thì cứ nhìn em gái mà khóc dở mếu dở, muốn vui cũng không được mà muốn giận cũng không xong. Mọi người đua nhau bàn ra tán vào.

    Đến tối, tới giờ đón dâu, Quế Am không dám cho con đi đón dâu nữa, chỉ sai gia nhân tới nhà họ Trương trình bày sự thực.

    Nghe chuyện, Trương ông giận lắm, muốn tuyệt giao với nhà họ Vương. Ngũ Khả không chịu, nói với cha:”Kẻ kia tuy tới trước, nhưng chỉ là cô dâu giả chứ không phải là cô dâu thực! Con mới là cô dâu thực! Vậy tại sao Cha không bảo nhà trai cứ tới đón dâu?” Thấy con gái nói có lý, Trương ông đành vuốt giận làm lành, sai gia nhân tới nói với nhà họ Vương cứ cho xe đến đón dâu. Quế Am gật đầu ưng thuận nhưng khi gia nhân nhà Trương ông về rồi thì Quế Am lại trù trừ, không dám làm theo lời nhà gái. Chờ mãi không thấy nhà trai cho xe đến đón dâu, Ngũ Khả biết rằng nhà trai đã làm ngơ, bèn thưa với cha:”Cha cứ cho xe ngựa nhà mình đưa dâu tới nhà trai!” Nghe lời con gái, Trương ông sai gia nhân giong xe ngựa, đưa con gái tới nhà họ Vương.

    Tới nơi, gia nhân nhà họ Trương tự ý tìm một phòng trống, đưa Ngũ Khả vào ngồi rồi lanh tay lẹ chân biến phòng ấy thành phòng đón dâu. 

    Thấy xe ngựa nhà gái đưa Ngũ Khả tới, Ký Sinh cứ luýnh quýnh chạy ra chạy vào, không biết phải làm thế nào.

    Thấy hoàn cảnh trớ trêu, Vân Nương bèn dắt Khuê Tú vào phòng Ngũ Khả để điều đình cho Ký Sinh được cưới cả hai người, ai lớn tuổi thì làm chính thất. Bị dồn vào thế khó xử, Ngũ Khả đành phải ưng thuận. Thế nhưng, khi so tuổi, thấy Khuê Tú hơn mình một tuổi, Ngũ Khả lại tỏ vẻ khó chịu. Tuy nhiên, vì đã trót ưng thuận Ngũ Khả đành phải làm vợ lẽ.

    Vân Nương lo lắm, nhưng cũng ra bảo Ký Sinh phải vào phòng làm lễ giao bái với Ngũ Khả. L­ễ xong, gia nhân nhà họ Trương đánh xe ra về.

    Thấy Khuê Tú chững chạc, đàng hoàng mà lại hiền lành, thùy mị, Ngũ Khả cũng bắt đầu có cảm tình. Vì thế, mỗi lúc Ngũ Khả một thêm thân thiện với Khuê Tú rồi mọi chuyện đều êm xuôi.

    Ba ngày sau. Tự nghĩ mình có bổn phận phải làm cho hai con dâu hòa thuận với nhau, Vân Nương cho gọi cả Khuê Tú và Ngũ Khả vào phòng mình nói chuyện. Khi thấy hai con dâu rất thân thiện với nhau, Vân Nương hết sức ngạc nhiên. Vân Nương đem chuyện thân thiện giữa hai con dâu ra khoe với chồng, nhưng Quế Am vẫn dè dặt, nói rằng lâu dần rồi thế nào cũng có chuyện xích mích.

    Ba tháng sau, thấy hai con dâu không những không xích mích mà lại quý mến nhau như chị em gái, Quế Am cũng phải ngạc nhiên.

    Một hôm rảnh rỗi, Ký Sinh hỏi riêng Ngũ Khả:”Trước kia, nàng đã biết Quách bà sắp tới hỏi nàng cho ta, sao nàng còn đi nhận lời đám khác?” Ngũ Khả cười, đáp:”Có nhận lời đám nào đâu?” Ký Sinh hỏi:”Thế sao thân phụ nàng lại nói với Quách bà là đã nhận lời đám khác rồi?” Ngũ Khả đáp:”Vì thiếp muốn báo thù chàng!” Ký Sinh hỏi:”Thù chi?” Ngũ Khả đáp:”Thù việc chàng đã từ chối lời đề nghị của bà mối họ Vu! Khi chàng chưa nhìn thấy thiếp thì chàng chỉ mê có một mình Khuê Tú nên thiếp ngờ rằng chàng vẫn mê Khuê Tú hơn thiếp! Vì thế, thiếp muốn cân xem tình cảm của chàng đối với Khuê Tú nặng nhẹ ra sao! Thấy Khuê Tú đã làm cho chàng bị ốm tương tư, thiếp thầm nghĩ nếu mình không làm được như thế thì cũng chẳng nên ép chàng cưới mình! Vì thế, thiếp mới thưa với cha mẹ rằng nếu gia đình chàng có nhờ bà mối tới hỏi thì cứ nói dối là đã nhận lời gả thiếp cho đám khác rồi!” Ký Sinh cười, nói:”Nàng báo thù ác quá! May nhờ có Vu bà giúp đỡ nên ta mới được thấy nhan sắc nàng!” Ngũ Khả nói:”Chẳng phải là Vu bà đã giúp đỡ được chàng đâu! Chính thiếp đã bày ra việc Vu bà dẫn chàng tới nhà thiếp đó! Lúc thiếp vịn vai tì nữ bước qua sân, thiếp đã biết rõ là chàng đang nấp trong nhà ngang dòm trộm!” Lúc đó, Ký Sinh mới vỡ lẽ.

    Ngũ Khả lại hỏi:”Tại sao chàng đã nằm mộng thấy thiếp rồi mà vẫn chưa tin, phải nhờ Vu bà tìm cách cho nhìn thấy thiếp?” Kinh ngạc quá, Ký Sinh hỏi: ”Sao nàng lại biết được chuyện ta nằm mộng thấy nàng?” Ngũ Khả đáp:”Vì khi thiếp bị bệnh, thiếp nằm mộng thấy mình tới nhà chàng để làm vợ lẽ! Sau đó thiếp lại nghe nói chàng cũng nằm mộng thấy thiếp nên thiếp rất ngạc nhiên! Suy đi nghĩ lại, thiếp tin rằng hồn thiếp đã lìa khỏi xác để tới nhà chàng!” Nghe chuyện, Ký Sinh càng kinh ngạc, rồi thuật lại giấc mộng của mình cho Ngũ Khả nghe. Hai người bèn so ngày giờ nằm mộng thì thấy ngày giờ trùng nhau.

    Từ đó, Ký Sinh, Khuê Tú và Ngũ Khả chung sống với nhau cực kỳ tương đắc, cho đến hết cuộc đời.

    Vì cha con Vương Quế Am cùng nhờ giấc mộng mà có được lương duyên nên bản nhân mới lấy làm lạ mà chép chuyện cả hai cha con vào tập truyện này.

     

    Đàm Quang Hưng

    (11/10/2014)
  • TTVDDT 19 - Phần 17
    TTVDDT 19 - Phần 17

     

    Truyện dài

    Doãn Quốc Sỹ

    Dòng Sông Định Mệnh

     

     

     

    Chương 1

     

    Khúc quành của dòng sông

     

    Ô-tô từ Hà Nội đến quãng đầu tĩnh Bắc Ninh thì có một con đường đá rẽ về tay phải: đường 21. Đi sâu vào con đường đó - đi chân, đi xe đạp, đi xích lô hay đi xe hàng nhỏ nhỉnh hơn xe tắc xi một chút - chừng mười hai cây số thì gặp con sông Đuống nước đỏ ửng có bến phà.

    Làng Thiệu được bà Ba giao cho trọng trách trông nom "em Yến" khi đi, khi ở trường, và khi về.

    Khi đi khi về, Thiệu làm đầy đủ bổn phận; nhưng khi ở trường - nghĩa là trong giờ ra chơi - thì không bao giờ Thiệu nhớ đến Yến. Thiệu ham chơi lắm, còn mải đánh khăng, đánh bi, đánh đáo hay đá bóng.

    Con sông Đuống mùa nước cạn trông thật chán phè - Thiệu nghĩ như vậy - nhưng Thiệu cũng không quên rằng nhờ có mùa cạn này Thiệu mới dám xuống nước để tập bơi một mình. Năm lên bảy, một hôm Thày đưa Thiệu ra sông tắm, thấy Thiệu bơi mà ngạc nhiên.

    Khi về Thày nói với Mẹ:

    - Nó bơi giỏi như con nhà thuyền chài ấy mẹ nó ạ.

    Vào mùa nước, Thiệu thích đi dọc theo con đê làng ngắm cảnh sông nước mênh mông. Mỗi khi ngắm như vậy Thiệu thấy quên hết những thứ mà Thiệu vẫn thích: đánh bi, đánh khăng, đánh đáo, đá bóng. Thiệu thấy hình như mình buồn rầu thì phải, nhất là khi ngắm khúc quành của con sông ở tít phía xa, trước khi cả dòng sông mất húy sau một lũy tre mờ mờ, có một cây đa vươn lên cũng mờ mờ. Về nhà hỏi Mẹ, Thiệu mới biết đó là làng Thái Lung-Thượng. Khi nghe Mẹ kể chuyện Thạch Sanh thì Thiệu đồ rằng có lẽ cây đa làng Thái Lung -Thượng là cây đa của Thạch Sanh ngày xưa. Đến khi nghe chuyện Phạm Công Cúc Hoa, Thiệu lại đồ rằng tại bãi tha ma bên kia bến phà hẳn là đêm đêm vẫn có những cảnh mẹ hiện hồn lên cho con bú như Cúc Hoa đã hiện hồn với hai con.

    Thiệu nghĩ bụng: giá sau này Mẹ có chết, rồi chôn ở ngoài đồng, đêm đến Thiệu ra ngồi bên mả khóc thì thế nào Mẹ cũng hiện lên, Mẹ cũng ôm Thiệu, vuốt tóc Thiệu và lúc trời sắp sáng thế nào mà Mẹ chẳng đánh lừa: "Con hãy cúi xuống để Mẹ bắt chất cho con!" Thiệu sẽ không cúi xuống mà nắm lấy vạt áo Mẹ. Không hiểu làm thế Mẹ có sống lại không nhưng nhất định là Mẹ không biến vào mồ được rồi.

    Yến đi học cùng Thiệu được hai tháng thì một buổi sáng chủ nhật kia Yến theo Thiệu ra đê ngắm sông.

    Thiệu lại nói với Yến:

    - Sông mùa cạn trông chán phèo!

    Khúc quành đằng xa nhỏ hẳn đi, Thiệu chỉ cho Yến thấy lũy tre cùng cây đa và bảo: "Đấy là làng Thái Lung-Thượng." Thiệu lõm bõm kể cho Yên nghe chuyện Thạch Sanh và kết luận: "Dưới gốc đa làng Thái Lung-Thượng cố nhiên là ngày xưa có Thạch Sanh."

    Yến hỏi:

    - Thế làng mình cũng có cây đa, sao ngày xưa Thạch Sanh lại không ở?

    Thiệu gạt đi:

    - Mình có phải là người cùng làng với Thạch Sanh đâu. Thạch Sanh ở làng khác chứ, càng xa càng hay, mà làng Thái Lung - Thượng xa nhất lại cách sông nữa thì Thạch Sanh phải ở đấy chứ.

    Lúc bấy giờ Yến mới gật đầu cho là phải. Buổi chiều, Thiệu dạy Yến bơi ở gần bến phà. Thiệu buộc túm hai ống quần và cạp quần để khi dìm xuống nước, cả cái quần phồng lên như bong bóng, Yến nắm lấy quần, úp mặt xuống, hai chân đập tầm phòng trên mặt nước. Một tuần sau Yến đã võ vẽ bơi một mình được.

    Thiệu, Yến chỉ tắm khoả thân trong mùa nước cạn năm đó.

    Hai năm sau, Thiệu, Yến vẫn cùng đi học trường làng. Thiệu học lớp Nhì, mà yến thì theo lớp Ba, cuối năm thi "Sơ học yếu lược." Sáng hôm đó Thiệu mặc quần đùi thâm và chiếc áo trúc bâu mới, lên đê ngắm dòng sông đang mùa nước. Lẽ ra theo ý Thày, Thiệu không được mặc áo mới đi chơi, nhưng Mẹ bảo: "Ông cứ để nó mặc cho nhàu hồ đi rồi tôi giặt."

    Xuống đến bến phà, Thiệu gặp Yến. Yến đương đứng trên cầu nổi, tay cầm que tinh nghịch cời những hoa, những quả, những cành củi trôi lướt theo dòng sát bên cầu nổi. Lúc đó phà đã sang bên kia sông và ở bên này chưa có ai tới đợi.

    Yến hỏi:

    - Thiệu đi đâu đấy?

    Thiệu thò tay vào túi áo trúc bâu mới, vây vo:

    - Đi lên đê ngắm sông.

    Chỉ một thân chuối lớn đương lững thững từ xa trôi lại, Thiệu hỏi:

    - Đố Yến thân chuối kia có trôi vào khoảng hoắm của bến này không nào?

    Yến nghiêng đầu ngắm rồi đáp:

    - Chắc là có, nếu không Yến lấy que cời vào.

    Vừa lúc đó có quả gì như quả bưởi lướt qua gần bên ngoài.

    Yến reo:

    - Để Yến cời quả này vào đã!

    Yến hơi kiễng chân vươn người về phía trước và khom lưng để gạt quả bưởi, bất chợt mất thăng bằng ngã tòm xuống nước. Yến chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi bị cuốn theo dòng ngược chiều chảy sát bờ, chân đạp cuống quít trên mặt nước cố cho thân nổi lên.

    Trong một thoáng rất nhanh, Thiệu nhớ ra rằng khi mức sông lên cao, khoảng hoắm này nước vẫn chảy thành vòng tròn. Nhưng ủa, không thể nghĩ lan man hơn được, Yến đang bơi vụng dại theo dòng sát bờ. Thiệu nhảy phăng xuống đón ngay cây chuối vừa giạt vào, đẩy ngay cây chuối ngược chiều nước men bên dòng chính, phía ngoài cùng.

    Phải bơi nhanh, phải đẩy mạnh, mình là đàn ông mà - Thiệu nghĩ - để khi Yến theo dòng bên trong quành ra tới dòng ngoài thì đã có cái víu. A lê hấp, veo! Cây chuối đã được đẩy tới lần thứ năm và lao ra trước Yến đúng một sải tay. Khi Yến víu được cây chuối, Thiệu cũng vừa bơi tới. Thiệu phải bơi sát cây chuối và luôn luôn ẩn cây chuối vào để Yến khỏi lạng ra dòng ngoài. Khi cả hai đều đã leo lên cầu nổi, Yến nhìn Thiệu nhoẻn miệng cười, không biết nói cám ơn.

    Thiệu đưa mắt nhìn dòng sông bên ngoài màu nước đỏ hung dữ như mặt người say rượu có chút máu điên, rất nhiều chỗ ngầu bọt trắng như màu nước dãi phòi ở mép bác cu Tý trong làng mỗi khi bác lên cơn ngất, tay chân giãy đành đạch (mãi về sau này Thiệu mới biết rằng bác Tý mắc bệnh động kinh).

    Làm vẻ rất nghiêm trọng. Thiệu hất hàm hỏi mà không nhìn yến:

    - Yến có trông thấy dòng sông bên ngoài không? Giá không nhanh tay đầy cây chuối kịp, Yến mà lạng người ra ngoài kia thì có thánh cũng không cứu được.

    Không thấy Yến trả lời, Thiệu nhìn lại thấy vẻ mặt Yến lo lắng. Yến chỉ vào quần áo ướt sũng của mình:

    - Làm thế nào về nhà được? Mẹ đánh chết!

    Lúc bấy giờ Thiệu mới sực nhớ mình cũng sũng nước. Ôi thôi, chiếc áo trúc bâu mới may nay thành màu hồng xỉn, lại thêm mấy khoảng hoen ố lớn do nhựa chuối quệt vào. Nhưng chuyện mình hãy gác đấy, còn tính sao cho Yến đã chứ.

    Thiệu bảo:

    - Yến hãy theo Thiệu lên đê, sắp có người lại đợi phà rồi đó.

    Thiệu bước ra khỏi cầu nổi leo nhanh lên khoảng vệ đê có mấy cây nhãn cao và mấy cây duối dại thấp. Yến cũng thoăn thoắt lên theo.

    Thiệu hỏi:

    - Thế bây giờ Yến bảo phải làm thế nào?

    Yến nói:

    - Sáng nay mẹ Yến phơi bộ quần áo thay của Yến ở giây thép ngoài vườn.

    Thiệu cam kết:

    - Để Thiệu về lấy cho.

    Thiệu cởi phăng chiếc áo trúc bâu hung hung đỏ treo lên một cành duối. Thế là Thiệu cởi trần chỉ còn mặc chiếc quần đùi ướt sũng và nói:

    - Thiệu sẽ chui vào vườn lấy trộm quần áo mang đây cho Yến.

    Yến giao hẹn:

    - Thiệu nhớ là quần đen, áo tím nhạt kẻ vuông.

    Thiệu đã sắp sửa chạy về trổ tài, Yến còn hỏi:

    - Thế nhưng Thiệu vào vườn nhà Yến bằng lối nào?

    Thiệu để ngón tay trỏ lên miệng, bí mật:

    - Có một lối Thiệu vẫn chui vào để nhặt những quả mận quả ổi rơi.

    Thiệu nói là " nhặt những quả rơi" cho lịch sự kỳ thực chính Thiệu leo lên, tuốt vội từng chùm quả, bỏ vội vào túi, rồi tuột vội xuống, lủi ra.

    Cũng may mà đi suốt trên đường từ bến cho tới khi vào vườn Thiệu không gặp Thày, Mẹ hoặc các anh chị. Thiệu vừa chui lọt vào hàng rào dâu bụt, chưa kịp đứng thẳng người, đã có tiếng quát, tiếng của bà Ba:

    - A ... a! Ông tướng Thiệu! Có phải ông chui vào định ăn trộm ổi của nhà tôi để tôi chạy sang nhà mách nào!

    Rất nhanh trí - Thiệu cũng không hiểu sao lúc đó mình nhanh trí đến thế - Thiệu đáp:

    - Thưa bác, cháu tìm con quay của cháu văng vào đây.

    Rồi Thiệu làm vẻ vạch cỏ hàng rào chăm chú tìm. Khi bà Ba vào, Thiệu đưa mắt nhận ngay ra chiếc quần và chiếc áo tím kẻ ô của Yến. Chỉ một loáng, Thiệu đã lướt tới quơ được cả hai và lủi ra khỏi hàng rào. Qua cổng nhà mình Thiệu thấy bóng chị Hoa, Thiệu nhảy vội xuống vệ đường khom lưng lại. Chị Hoa không thấy Thiệu. Ra tới bờ sông khi đã đưa quần áo cho Yến thay, Thiệu cũng biết quay đi. Thiệu đã lên mười, Yến lên tám rồi còn gì.

    Yến về, Thiệu cởi nốt quần đùi phơi lên bụi duối rồi nằm lẩn trong một bụi cây chờ cho quần áo khô. Thiệu len lén vào ngõ, chị Hoa trông thấy trước, giơ cả hai tay lên giời:

    - Thôi thế là tong đời cái áo mới rồi, ông mãnh!

    Nhưng nước mắt chị bỗng chảy quanh vì chị thấy Thày quắc mắt rồi nhìn quanh, ý tìm roi. Thiệu không lên nhà trên sợ gần nhà Yến quá. Thiệu lảng thẳng xuống bếp, chỉ vừa kịp đến đứng sau cối xay lúa, Thày đã tới và quất ngang đít Thiệu ba roi cật lực. Thiệu đã nghiến răng mà tuy vậy mỗi roi nhận được vẫn còn phải thốt ra câu:

    - "Con lạy Thày!" - Nhưng rất khẽ.

    Anh Tín - anh trưởng - còn hùn thêm:

    - Thày cứ đánh nữa cho từ sau nó chừa. Đúng là ngã xuống bến phà đây...

    May sao Mẹ đã xuống, Mẹ vừa thay quần áo khác cho vừa nói:

    - Còn ham chơi, còn chết đòn con ạ. Làm sao mà khổ thế, thân lừa ưa nặng!

    Mọi người đã vào mâm cơm trưa. Thiệu hoàn toàn yên lòng: cha, mẹ, anh, chị mắng thế là xong, may là Thiệu tinh ý xuống ngay bếp. Từ bếp cách một khoảng nhà trên, cách một cái vườn rồi mới đến nhà Yến, chắc yến không nghe thấy. Thiệu cho việc này giữ kín đáo như thế là phải, không nên để Yến thắc mắc điều gì.

    Buổi chiều hôm đó, chú Hai ở Hà Nội về chơi mua quà riêng cho Thiệu một bánh sô cô la lớn gồm nhiều thỏi nhỏ bọc giấy thiếc. Thiệu lấy ra một thỏi và tìm Yến, bẻ đưa cho Yến một nửa. cả hai cùng ăn ngon lành lắm. Khi ăn xong, Thiệu thấy bên mép Yến có một vệt sô cô La màu nâu xẫm. Thiệu thích vệt đó lắm, thành thử cứ mỗi lần lấy ra một thỏi sô cô la khác, Thiệu phải đi tìm Yến bằng được, bẻ cho Yến một nửa - nhiều khi quá nửa - để được thấy lại vệt sô cô la đọng bên mép Yến.

     

    (Còn tiếp)

    (11/10/2014)
  • TTVDDT 19 - Phần 16
    TTVDDT 19 - Phần 16

     

     

    TÌNH HIỀN

     

     

     

     

     

     

    Lời Tác Giả.....

     

    Đọc “Tình Hiền”, để thấy hoàn cảnh của trung-úy Vũ đã phải trải qua bao đau đớn xót xa khi mất cả hai chân trong trận chiến Hạ Lào, để rồi Hiền, người con gái trường Luật, người yêu của Vũ, trước hà khắc cấm đoán của gia đình, nhất là sau khi Vũ bị thương, Hiền đã phải bỏ nhà ra đi, để lại sau lưng tất cả, kể cả ngôi trường thân yêu và một tương lai đầy hứa hẹn để theo Vũ.

    Trước một tình yêu chân chất, mặn nồng và tuổi thơ đó, Hiền sẽ phải làm gì để đương đầu với sự chống đối hà khắc của gia đình, cùng với những mặc cảm và tâm lý bất ổn của Vũ sau khi bị cụt cả hai chân vì chiến trận.....

    Rồi những biến chuyển của thời sự nghiệt ngã và những đổ vỡ dồn dập năm 75, từ sức mạnh nào đã giúp Hiền, một cô gái trường Luật thơ ngây, cô thân cô thế, có thể đưa Vũ qua bến bờ tự do???

    Đọc “Tình Hiền” để thấy tình yêu của những người con gái vì yêu lính trận, đã sẵn sàng cam chịu tất cả thiệt thòi để một đời chao đảo trong đợi chờ chất lũy... Nhất là sau năm 75, bao nhiêu người lính đã phải trải dài trong những trại tù cải tạo, những người vợ có còn yêu, còn chờ đợi, hay lại bị đưa đẩy vào những bi ai, để rồi nhắm mắt đưa chân theo vận số...

    “Tình Hiền” là sự kết hợp một truyện tình bi ai trước và sau năm 1975, nhất là những chuỗi ngày dài tha hương, những trăn trở và những mỏi mòn của Vũ, của Hiền của Tuyết và của Viết, cùng bao bao người bạn đã phải tìm mình trong khắc khoải hàng đêm, hầu vượt thoát giữa những dị biệt về ngôn ngữ, văn hóa và những khắc khoải mòn mỏi nhớ về, cùng biết bao chứng tích nhãn tiền nghiệt

    ngã từ chiến tranh vẫn còn vương đọng, lúc nào cũng triền miên xoáy mòn trong cùng tâm thức của những thân phận lỡ thời vận mất.

    Đứng trước những vồ vập đưa đẩy, nhất là những dồn dập vật chất của đời sống mới, một cuộc đời hoàn toàn mới lạ, Hiền đã sống thế nào trước những khó khăn ngút ngàn đó để săn sóc, bảo vệ tình yêu của mình trước mặc cảm của Vũ càng ngày càng chồng chất. Hiền có còn đủ can đảm và nghị lực trước đổi thay để giữ được “Tình Hiền” của những ngày Sàigòn nắng ấm, những ngày mà Hiền bên Vũ trẻ thơ trên những dải đường ngập bóng, nô nức tiếng cười non, với đôi môi mát rượi, cùng mái tóc chảy dài như những nồng ấm dịu dàng thương yêu vô bờ.....

     

    Hà Lạn

     

     

     

    Tình Hiền

     

    Chương Một

     

    Hiền lơ đãng nhìn ra ngoài trời, bầu trời đang bị bao phủ bởi những mảng mây lớn, gió thổi mạnh từng cơn, những lùm cây trước nhà đưa đẩy vật vờ theo luồng gió. Phải chăng đời con gái cũng theo và tuỳ thuộc như người đời thường nói:

    Thân em như tấm lụa đào,

    Phất phơ trước gió biết vào tay ai.

    Nhưng hình ảnh Vũ vẫn chiếm trọn trong Hiền. Hiền không ân hận dù bị ba mẹ ép mắng trước tình yêu ngọt ngào trọn vẹn với Vũ. Hiền chỉ lo vì một xếp đặt khôn khéo khiến Hiền chẳng đừng phải vâng lời để lấy Tân, con một người bạn của gia đình.

    Tân về mặt nào cũng trội và ưu thế hơn Vũ. Tân có học, có tiền và lại có địa vị thật xứng cho những cô gái chỉ có một ước mơ. Nhưng với Hiền tất cả không mảy may đáng nhớ. Hiền không cần, ngay cả sự chiều chuộng, săn đón, mà Tân luôn dành cho Hiền, Hiền chỉ một lòng, và Vũ đã như một ngôi sao sáng ngời đã ngự, và rọi sáng trong cùng trái tim Hiền.

    Cả ngày, Hiền phải lo lắng nghe sự xếp đặt và lựa chọn của cha mẹ. Mẹ đã thẳng thắng nói với Hiền, thà Hiền đi khỏi nhà chứ không chấp nhận tình Hiền với Vũ. Mẹ bảo : “ Mày phải xa nó ngay, lính trận sống nay chết mai, đồng tinh không dính túi, hơn nữa học hành không ra đâu, ai bằng thằng Tân có đủ mọi thứ. Xưa tao lấy bố mày có biết yêu, biết đương là cái gì sao vẫn sống tới già, tao nói một là một”. Hiền lặng chịu, phải trả lời sao? Sự cãi vã, luận chứng bây giờ không đúng lúc. Nhưng Hiền cũng tự mình, và không thể để rồi như TTKH dùng thơ than thở:

    Đâu biết lần đi một lỡ làng,

    Dưới trời gian khổ chết yêu đương.

    Người xa xăm quá ! Tôi buồn lắm,

    Trong một ngày vui pháo nhuộm đường.

    Và mãi ân hận, nhớ tới một người thương:

    Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,

    Trời ơi ! Người ấy có buồn không ?

    Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ,

    Tựa trái tim phai tựa máu hồng.

    Mãi chiều Hiền mới lên gác, Hiền lấy từng xấp thơ của Vũ để như một khẩn cầu trong thiếu vắng…..

    Và Hiền nhớ lại chuyện xưa......

    ..........................................................................................

    Một tình cờ, ngày ấy Hiền cùng Liên, đón xe lambretta ba bánh lên Thủ Đức thăm Yến, người bạn cùng lớp đau nặng cả tuần không đi học. Chiếc xe đi qua cầu Bình Lợi, trời chuyển mưa, cơn mưa đến vội, gió tạt mạnh, hai tấm bạt ngang hông không đủ cản mưa, Hiền lại ngồi ngoài cùng, Hiền cố gắng dùng vạt áo để che đỡ phần nào, nhưng vô hiệu, Hiền đang bối rối bỗng Vũ từ phía trong bảo Hiền:

    - Cô vào trong ngồi khỏi bị ướt, để tôi đổi chỗ cho cô, áo tôi dầy nên khó ướt hơn.

    Hiền chưng hửng nhìn người lính, nhưng rồi như một tự nhiên, nàng đổi chỗ ngồi cho Vũ ngay với câu nói lí nhí trong miệng:

    - Cám ơn anh.

    Vào ngồi bên trong, Hiền thoải mái và không còn phải lo lắng tránh mưa làm ướt áo Hiền, lúc đó Hiền mới để ý nhìn Vũ.

    Vũ không chống lại với mưa gió, chàng âm thầm lơ đãng như một thách thức. Những cơn gió, những giọt nước tạt mạnh, ngấm dần khiến quần áo Vũ ướt sũng, Hiền hơi hối hận, nên định nói điều gì nhưng lại thôi. Trái lại, Vũ vẫn thản nhiên như không, môi Vũ hơi tái, nhưng điều đó không làm Vũ có một cử chỉ cáu kỉnh hay ca thán. Khoảng mười phút sau chiếc xe đang ngon trớn, bỗng nhao qua, nhao lại khiến mọi người trong xe lo sợ nhìn nhau, người tài xế lẩm bẩm điều gì rồi quay lại bảo mọi người:

    - Xe bị bể bánh, mời cô bác vào trú đỡ trong quán, tôi thay bánh xe, rồi sẽ đi ngay.

    Mọi người xuống xe, Hiền và Liên chạy vội vào trong quán, nhưng không làm sao tránh khỏi những hạt mưa xối xả, nên người ướt sũng. Hiền và Liên đi vào góc quán. Mặt Hiền trông lạnh ngắt. Bờ môi Hiền với mầu son nhạt xoa lên buổi sáng trước khi rời nhà, nhưng vì nước mưa đã làm trôi hết, giờ chỉ còn mầu xám lạnh. Vũ thấy thế, mở balô, lấy hai chiếc áo trận đưa cho Hiền và Liên, bình thản:

    - Hai cô khoác đỡ kẻo bị cảm.

    Sau đó, Vũ lấy chiếc khăn lông mới để Hiền và Liên thấm tóc. Hiền không còn giờ để trả lời. Cơn lạnh đã làm nàng vụng về, và quên hết những điều bóng bảy hằng ngày. Hiền và Liên đỡ áo từ tay vũ và khoác vội lên người. Lúc đó, Hiền nhìn Liên trong chiếc áo trận có tên Vũ mỉm cười bảo Vũ:

    - Cám ơn anh Vũ.

    Vũ hơi ngạc nhiên, nhưng hiểu ngay, Vũ gật đầu đi ra ngoài phụ người tài xế thay bánh xe. Nhưng thật không may vì chiếc bánh mới không đủ hơi. Vũ chạy vào bảo Hiền và Liên :

    - Tôi đón xe khác, hai cô có cùng đi không ? Chiếc bánh thiếu hơi tôi e xe chạy không bao xa rồi lại nằm đường.

    Hiền e dè giới thiệu, giọng nhỏ nhẹ:

    - Tôi là Hiền còn đây là Liên, thật không công bằng nếu chúng tôi biết tên anh, mà anh không biết tên hai đứa tôi.

    Vũ mỉm cười, bình thản:

    - Xin lỗi và hân hạnh biết tên hai cô. Thực ra để hỏi tên thật không khó, nhưng chỉ sợ hai cô hiểu lầm ý tốt của tôi nên tôi không dám đấy thôi.

    Hiền chút ngơ ngác:

    - Ý anh thế nào Hiền không hiểu ?

    Vũ vẫn bình thản:

    - Đôi khi vì thân thiện, hoặc thật lòng chỉ muốn làm quen, nhưng khổ nỗi, nhiều người khi vừa nhìn thấy bộ đồ rằn của những người lính như chúng tôi, đã như bị dị ứng nên coi như một xa lạ, nhiều lúc còn lắc đầu bỉu môi, chính vì thế, chúng tôi phải đành im lặng.

    Rồi Vũ thở dài tiếp:

    - Nhưng có lẽ như vậy tốt hơn, vả lại, còn tránh được sự hiểu lầm, chúng tôi là những người lính trắc nết, đi đâu cũng tán tỉnh lăng nhăng, hai cô nghĩ có đúng không?

    Hiền nhìn Liên mỉm cười vừa bảo Vũ:

    - Anh Vũ kỹ quá Liên hả? Hiền thì lại thấy trái hẳn.

    Liên phụ vào:

    - Anh Vũ, tụi này không có anh hẳn đến đông lạnh, thật uổng cho các cô không biết thật sự lòng hảo tâm và lo cho người của những người lính trận như anh.

    Nhưng Vũ nửa đùa nửa thật:

    - Với quý bà, quý cô, tôi nghĩ người đàn ông nào cũng cư xử như thế, vì trời sinh ra phái nữ là để được bảo bọc, lo lắng và nuông chiều, chẳng thế một nhà văn hào Tây đã nói: “ Không nên đánh người đàn bà, dù với một cành hoa”. Các cô thấy không, huống hồ độ lạnh, và gió thổi còn mạnh và bạo hơn sức của bông hoa rất nhiều, thử hỏi nếu tôi đứng nhìn như vậy có đáng trách không ?

    Hiền lắc đầu duyên dáng:

    - Anh Vũ, Hiền nghĩ anh là một nhà văn đúng hơn là một người cầm súng.

    Liên xen vào:

    - Nhưng Hiền lại luôn tâm sự là thích người nghệ sĩ trong nguy hiểm đấy anh Vũ ạ.

    Hiền đập nhẹ vai Liên. Vũ mỉm cười:

    - Tôi ước gì tôi là người nghệ sĩ đó, nhưng thật khốn, óc tôi lại quá nhỏ. Chắc chỉ là một người lính chuyên nghiệp muôn đời.

    Vừa lúc đó, Vũ nhìn ra ngoài, mưa đã tạm ngưng, Vũ bảo Hiền:

    - Hai cô chờ ở đây, tôi ra đón xe.

    Vũ đi ra, Hiền quay lại bảo Liên:

    - Mày bạo miệng quá sợ anh Vũ hiểu lầm.

    - À há, chưa chi đã cảm rồi sao? Anh Vũ ngọt xớt à.

    - Cảm cái gì, chỉ xã giao thôi, mà tao thấy Vũ có nhiều nét khác với những người lính tao gặp.

    Liên cười khúc khích:

    - Mày có cần tao tiếp tay không? Nhưng phải có điều kiện rõ ràng....

    Nhưng vừa lúc đó Vũ chạy vào, cầm balô khoác lên vai rồi cùng Hiền và Liên ra xe.

    Chiếc xe còn băng ghế sau cùng, chỉ đủ cho ba người, nên Liên nhanh nhẹn vào trước, Hiền theo sau, nên Vũ ngồi cạnh Hiền.

    Ngồi sát với Vũ, Hiền không hiểu vì hơi ấm từ diện tích bé nhỏ của chiếc xe đò đầy người, hay từ hơi của Vũ, Hiền bớt lạnh và xốn xang lạ thường. Vì thế, khoảnh khắc, Hiền tự nhiên đỏ mặt, một tư tưởng chợt đến: “Hơi ấm nào gói trọn trong em”. Hiền mím môi ngồi xích qua phía bên Liên. Rồi Hiền lấy hai chiếc áo trận mà Vũ đã cho Liên và Hiền mượn, trả lại Vũ, vừa lí nhí trong miệng:

    - Hiền cảm ơn anh Vũ nhiều, không biết khi nào có dịp để tụi này đền ơn anh được đây, hai chiếc áo trận của anh cho mượn thật ấm.

    Vũ bông đùa:

    - Cô yên chí, số tôi đòi nợ và cũng nợ dai lắm, vả lại trái đất tròn xoay mà.

    Liên ngoái đầu qua lên tiếng:

    - Cũng hơi méo một chút anh Vũ ạ, theo định lý là thế, nhưng chỗ méo là cái đầu mối, vì nếu không sẽ rất khó đứng để tạo khới điểm.

    Vũ không trả lời Liên, nhưng bất thần hỏi:

    - Cô Liên học ban nào?

    Liên nhanh nhẹn:

    - Liên học Luật anh ạ. Nhưng chắc không phải vì thế đâu.

    - Thế mới nói, có những người ngay khi sinh ra đã được đặt vào khay vàng rồi cô có biết không? Cô khéo nói quá.

    - Liên lớn thế này đâu thể ngồi trong chiếc khay vàng mà anh nói đó, chắc phải để cho Hiền anh Vũ ơi.

    Hiền hích vào hông Liên:

    - Sao có Hiền trong đó.

    Rồi nhìn Vũ:

    - Anh Vũ thấy, Liên đâu có lớn hơn Hiền phải không anh?

    Vũ đưa mắt nhìn hai người con gái mới quen, tự dưng Vũ so sánh, Hiền, nàng không đẹp như chim sa cá lặn, không đài các như những chuyện thần tiên diễn tả, nhưng có một nét mặt thật dịu, thật hiền. Cặp mắt tròn chớp nhẹ, hai gò má ửng hồng càng tạo sự ngây thơ dễ mến. Trái lại, Liên đẹp, cái đẹp sắc sảo song song với lời lẽ và cử chỉ của nàng, Liên vui và hồn nhiên từ cách ăn mặc đến cách nhìn, một trực tính và như không biết sợ ở nàng. Vũ đang phân tích, bỗng Liên hỏi Vũ:

    - Anh Vũ ở binh-chủng nào? Có phải Thủy Quân Lục Chiến không anh?

    Vũ nhìn Liên ngạc nhiên:

    - Sao Liên rành quá vậy?

    Liên do dự rồi trả lời:

    - Thực ra không phải Liên tìm biết mà chỉ tình cờ thôi.

    Rồi liên tiếp:

    - Có một lần Liên đi chơi với cô bạn gái, quen một anh lính trận cũng mặc đồ và gắn con ó như anh Vũ, chỉ khác dấu hiệu ở vai, thay vì hình có chữ “Sói Biển” như anh, Liên thấy anh ấy mang huy hiệu “Hắc Long”. Sao lạ thế anh Vũ?

    Vũ mỉm cười:

    - Dấu hiệu cầu vai chỉ đơn vị, Hắc Long là tiểu đoàn 5 còn Sói Biển là tiểu đoàn 3.

    Chút ngẫm nghĩ, Vũ hỏi Liên:

    - Nhưng anh ấy tên gì ?

    Liên như cố nhớ ra, rồi bảo Vũ:

    - Giao, anh ạ

    Vũ vui mừng:

    - Có phải đại-uý Giao, người Bắc không ?

    - Liên biết anh Giao là người Bắc, còn cấp bậc Liên không biết, các anh đeo cái gì gạch qua, gạch lại Liên đâu để ý được. Liên thấy đeo bông mai dễ nhận hơn.

    - Chúng tôi đeo lon theo binh-chủng Hải Quân. Mà cô Liên như vậy là đã quá tinh rồi, có những thằng bạn của tôi còn

    không biết mình mang dấu hiệu gì.

    Liên tròn xoe đôi mắt ngạc nhiên:

    - Thật hả anh, hay anh cố tình nói Liên tò mò ?

    - Không phải, ý tôi là Liên tỉ mỉ, sau này ai là thân chủ của Liên hẳn là có phúc.

    Hiền họa vào:

    - Chả thế mà Hiền đi đâu với Liên luôn là kẻ thiệt thòi.

    Vũ nhìn Hiền mỉm cười, chàng lắc đầu bảo:

    - Tôi nghĩ mỗi người con gái có một sắc thái riêng, mà sắc thái nào cũng đều khiến các đấng nam nhi phải vỡ nợ.

    - Anh nói vậy là con gái luôn mang cái xui sao?

    Vũ vui miệng:

    - Vỡ nợ ý của tôi muốn nói là về tình cảm cô Hiền ạ.

    Hiền nhìn Vũ, Vũ thật có duyên, chàng thật khéo léo từng câu chuyện, miệng lại luôn mỉm cười như diễn tả sự thành thật từ đáy lòng.

    Khi tới bến xe Thủ Đức, Vũ bảo Hiền và Liên:

    - Con đường Sàigòn-Thủ Đức thật ngắn, tôi ước gì nó mãi dài thêm.

    Liên quay lại bảo Vũ:

    - Liên biết anh ở tiểu-đoàn 3, liệu có ngày anh phải chạy vì sự xuất hiện bất ngờ của hai đứa này.

    Nhưng Vũ thản nhiên:

    - Cô yên chí, tôi chạy là chạy nợ chứ chưa chạy bạn bè. Vả lại cô biết những người cô đơn thường tìm và thích gì không?

    Liên do dự:

    - Ý anh …

    Vũ ngắt lời:

    - Cần có bạn bè để tâm sự và hiểu mình, mà tôi lại là kẻ cô đơn của thế kỷ này.

    Hiền xen vào:

    - Anh Vũ khéo đùa quá.

    Nhưng rồi Hiền thong thả, giọng lịch sự:

    - À mà hy vọng có ngày gặp lại anh. Hôm nay cũng trễ rồi, Hiền xin phép anh đi thăm người bạn, chiều Hiền và Liên còn phải trở về Sàigòn sớm.

    Vũ cúi chào Hiền và Liên. Chàng lững thững về trình diện hậu cứ tiểu-đoàn, và như quên ngay lần vui gặp với hai người con gái, lại cũng chỉ là một sự tình cờ như bao lần tình cờ khác trong đời lính.....................................

    Rời bến xe đò, Hiền và Liên đến giáo xứ Bắc Ninh, khu gần làng đại học Thủ Đức thăm Yến.

    Yến bị cảm cả tuần, đã bớt chút đỉnh, nhưng mặt mày vẫn còn xanh và sút đi nhiều. Thấy Hiền và Liên, Yến như tỉnh hẳn và cảm thấy cả sự sống. Yến buồn, buồn lắm, những ngày không đến trường như một mất mát to lớn, Liên đưa bài vở và những gì cần thiết để Yến chép. Và chuyện của những người con gái bắt đầu không kết thúc. Hai người bạn trai gặp nhau, dù vui mừng nhưng cũng chỉ những bắt tay, những câu nói gọn, hoặc những ngụm rượu nồng rồi trong công việc, nhưng ở phái nữ thì liên tục, chuyện đời ông, đời bà, chuyện mình, chuyện người, ôi thì đủ thứ. Hiền bảo Yến:

    - Xui quá, trên đường lên bồ trời mưa, lại còn bể bánh xe, may có người lính giúp, anh ta đưa áo trận khoác đỡ chứ không đành trở về.

    - Sao có duyên và đúng lúc quá vậy? Yến nói.

    Liên xen vào:

    - Không chỉ thế, coi bộ trời như chiều người, mày biết không có những chuyện tình chỉ bắt đầu bằng tiếng hắt hơi vô duyên không. Liệu mai rày mày sẽ thấy con Hiền lên Thủ Đức hoài, mà không phải lên để thăm mày đâu, đừng có ham nghe cưng.

    Hiền lắc đầu bảo Yến:

    - Tao chưa bao giờ thắng nỗi con Liên, thôi đành ghi sổ sau này trả thù vậy. Miệng nó lúc nào cũng lép bép như bà già nhai trầu vậy đó.

    Yến nhìm Liên và Hiền mỉm cười, định nói điều gì, nhưng bỗng nét mặt Yến tư lự, mãi sau mới hỏi Hiền:

    - Tụi mày đã bao giờ gặp anh tao chưa?

    Rồi Yến lại chậm rãi:

    - Hồi trước anh ấy đi tu ở dòng Salesian Don Bosco cạnh đây, sau đó anh ấy xuất, rồi động viên vào quân-đội. Từ ngày đó có năm chỉ về nhà một lần, mà lần nào cũng thế, may ra dẫn tao đi ciné được một buổi, còn bao nhiêu là bạn bè. Hình như rượu chè tửu quán luôn đi đôi với nghiệp lính. Tao cũng cố mai mối hoài, nhưng ông ấy vẫn tỉnh bơ. Hôm nay được về

    đi học khoá bổ túc, mẹ tao cũng đang trông anh ấy, may có chúng mày lên thăm, hy vọng gặp anh tao.

    Liên nghe Yến nói, mỉm cười bảo Hiền:

    - Ê điệu này coi chừng cơ duyên mình lại là chị con Yến không chừng.

    Yến bảo ngay:

    - Mày thử đi, ở lại chơi với tao tới chiều rồi “try”

    - OK, nhưng mày nhớ phải lễ phép chứ không được mày tao với chị dâu.

    - Tao không biết phải chọn chị nào đây? Hay cả hai đi.

    Cả ba cười khúc khích, bỗng có tiếng gõ cửa, bà Tiên đang dọn cơm nên kêu Yến:

    - Yến con ra mở cửa coi ai đó.

    Yến chạy ra và kêu vội:

    - Mẹ ơi, anh Vũ về.

    Bà Tiên mừng rỡ bỏ vội mâm cơm đang dở, chạy ra phòng khách:

    - Vũ, con vào thay đồ dùng cơm luôn, sao trễ vậy, mẹ tưởng con về hôm qua?

    Vũ mau mắn:

    - Con bị trễ máy bay, hôm nay mới về được. Con cũng vừa ghé hậu cứ trình diện xong rồi về ngay.

    Nhưng khi nhìn nét mặt Yến, Vũ lo lắng:

    - Yến! Sao em xanh vậy?

    Bà Tiên xề xoà:

    - Nó ốm cả tuần, tao lo quá, tính đánh điện cho mày, may lại nghe mày về, nên lại thôi. Mà kỳ này về lâu không? Con xin về Sàigòn làm đi, đi như vậy tao cứ phải đọc kinh ngày đêm.

    Vũ cười vui vẻ:

    - Mẹ cứ thế, con nói Việt-cộng bắn con không trúng đâu, con có bùa của mẹ mà. Vả lại, ai cũng về Sàigòn rồi lấy ai chiến đấu, đời binh nghiệp phải rõ ràng chứ cứ như mẹ, chắc mấy tỉnh ngoài đó để trống cho tụi nó mất.

    Bà Tiên nhẹ giọng, vừa xua tay:

    - Tao nói vậy thôi.

    Rồi bà xề xoà, giọng thương yêu:

    - Tiện có hai cô bạn của con Yến ở Sàigòn cũng đang ngồi ở nhà sau. Thôi vào dùng cơm luôn đi con. Vũ quay qua Yến:

    - Em gầy quá, học liệu thôi, để chiều nay anh dẫn đi ciné, nếu mẹ nói trước, anh đã ghé mua ít táo, hay cam cho em.

    Yến rơm rớm nước mắt:

    - Em cũng đỡ rồi.

    Vũ vẫn thế, Yến thật cảm động vì sự săn sóc và chăm lo của người anh. Từ ngày ba mất Vũ như một bảo bọc cho gia đình, Vũ trông coi Yến như một thay thế của cha, “quyền huynh thế phụ”, chưa một rầy rà hay phiền toái điều gì khiến Yến tủi thân, Vũ rất khéo, và vì thế chàng dồn mọi săn sóc cho cô em gái thiếu tình phụ tử như chàng, Vũ tìm mọi cách để Yến không phải nghỉ học, và phải theo hết những năm còn lại, một sự không dễ, đặc biệt về tài chánh.

    Vũ còn đang suy nghĩ, bà Tiên đã kéo Vũ và Yến vào trong.

    Khi Vũ vừa bước vào, Hiền và Liên nhìn thấy Vũ, cả hai chưng hửng. Yến chút ngạc nhiên trước ánh nhìn của Hiền và Liên khi gặp Vũ, nhưng vẫn giới thiệu với hai người bạn mình:

    - Anh Vũ, anh trai của tao, từ hành quân mới về.

    Rồi bảo Vũ:

    - Hai bạn em, Hiền và Liên, chúng nó vừa từ Sàigòn lên thăm em.

    Nhưng Vũ không trả lời Yến, mỉm cười bảo Liên:

    - Tôi nói rồi, số tôi nợ dai lắm, phải không cô Liên?

    Bây giờ tới Yến ngạc nhiên hỏi Hiền :

    - Ê, bộ bồ quen anh Vũ hồi nào vậy?

    Liên xen vào:

    - Tình cờ, đó mình nói với Yến rồi, nhưng thôi nếu bồ có lễ phép thì lễ phép với Hiền thì đúng hơn. Mình xin chào thua ngay từ hiệp đầu.

    Rồi Liên kể cho Yến nghe về một lần gặp…

    Yến nghe xong cười khúc khích bảo Vũ:

    - Anh thấy không, anh trốn hoài rồi cũng gặp bạn em.

    Vũ mỉm cười vừa nói:

    - Có sao đâu, thì bạn em là bạn anh mà, nhưng mà anh chỉ tiếc có một điều, là nếu anh biết trước, anh đã để mặc cô Hiền ướt chứ không “galant” thế đâu.

    Rồi Vũ làm bộ bình thản:

    - Anh ngây ngô thật, nhưng lỡ rồi chắc bây giờ anh phải đòi công để huề làng.

    Hiền đưa mắt nhìn Vũ, nhưng Vũ lại nói tiếp:

    - Hiền có nói là sẽ đáp ơn tôi khi có dịp phải không?

    Hiền ý tứ trả lời:

    - Anh nhớ dai quá, dạ thưa phải.

    Vũ làm bộ chép miệng, rồi từ từ nói:

    - Thôi được. Như vậy chiều nay ăn xong tôi về hậu cứ lấy chiếc xe của thằng bạn, rồi tất cả mình đi ciné, nhưng mà cô Hiền nhớ là phải trả tiền đấy nhé, cô Hiền có chịu không?

    Yến vừa đập vai vũ nhõng nhẹo, vừa xen vào:

    - Anh tính gọn quá, anh bắt bạn em chi, mới lần đầu anh đã chơi xấu thế này, biểu sao anh chưa có đào là phải. ma mà dám quen anh.

    Nhưng Vũ phân bua:

    - Đây thật là ý của bạn em mà, em cản thế sợ cô Hiền còn giận hờn hơn, vì mất một dịp may hiếm có đúng không cô Hiền?

    Hiền nhìn Vũ chưa kịp nói, nhưng Yến đã lên tiếng:

    - Anh nói dịp may gì?

    Vũ cười nụ, nháy mắt nhìn Hiền:

    - Từ từ cô Hiền sẽ trả lời em.

    Hiền nhỏ nhẹ lên tiếng:

    - Không sao đâu Yến, mình sẵn sàng, dịp trả ơn này quả hiếm, chỉ sợ anh Vũ từ chối thôi.

    Vũ cắt lời Hiền:

    - Tôi chưa bao giờ từ chối, đặc biệt được người đẹp chi tiền.

    Vũ lại bình thản nhìn Hiền với đôi mắt tinh nghịch của người lính trận phong sương:

    - Ngay ngày đầu về Sàigòn tôi đã thấy mình thật là hên rồi, điệu này tôi phải đậu thủ khoa mất.

    Liên nãy giờ ngồi yên, cũng thêm vào:

    - Đáng lý tôi cũng là người thọ ơn, và phải trả ơn anh Vũ mới phải, nhưng tôi không biết tại làm sao mà tôi cảm thấy, hình như lương tâm tôi rất an lành.

    Rồi Liên nhỏ nhẹ như nói với mình, cố ý trêu Hiền:

    - Có lẽ nhờ Hiền.

    Hiền liếc Liên bảo nhỏ:

    - Mày im mồm đi.

    Nhưng Liên như không nghe nói tiếp:

    - Có một điều, tôi không tin anh Vũ chọn khoa học là đúng ý, anh có tài ăn nói, phải chăng anh làm “linh-mục” chắc Liên tình nguyện đi dự thánh lễ nghe anh giảng hàng ngày, nhưng lại rất tiếc.

    Và Liên bỗng duyên dáng:

    - Mà biết đâu chả là điều may đúng không anh, vì anh đã cứu được một linh hồn si tình...

    Vũ xen vào:

    - Chính vì thế tôi mới trốn trước, vả lại số tôi rồi cũng phải cầm súng, nên bởi số, thật khó chạy thoát khỏi số.

    Hiền liếc nhìn Vũ và Liên đối đáp mà lòng xôn xang buồn vui lẫn lộn, một cảm giác lạ lùng từ khi Hiền lớn khôn. Từ ý nghĩ đó, Hiền như vừa thấy ẩn hiện một nhiệm mầu mời gọi... Và Hiền cúi xuống trong thương cảm...

    Bữa cơm không cao lương mỹ vị, nhưng đồ ăn như gói gọn trong những vị giác tuyệt vời làm Yến thật vui. Lần đầu tiên trong sự trầm mặc lo âu của Vũ lại có sự nhí nhảnh vui tươi của thuở ba còn sống. Thật tội nghiệp cho Vũ, chuyện quốc gia, chuyện gia đình luôn dầy đặc, và như khó thoát khỏi ý nghĩ, biết thế nhưng Vũ luôn tạo một niềm tin cho nàng.

    Cơm nước xong, như dự tính, Vũ chở ba người rong chơi trên đường phố Sàigòn. Vũ quên thật và quên những gì của chiến trận để chỉ nhớ, và nhìn sự ngược xuôi của trời Sàigòn, hòn ngọc viễn đông, rộn tiếng cười và mùi vị bình an nơi những người thanh niên, thiếu nữ đang xuân, một nơi hoàn toàn không chiến tranh khói lửa mà Vũ hàng ngày trải qua.

    Và khi từ trong rạp Rex đi ra, Yến ghé sát lại Hiền nói nhỏ:

    - Phim hay quá, Marlon Brando thật một cáo già của điện ảnh.

    Nhưng Hiền vẫn im lặng như có tâm sự không vui. Yến thấy thế gặn hỏi:

    - Bồ mệt?

    Hiền chỉ lắc đầu, Yến hỏi lại:

    - Bồ buồn anhVũ không để bồ trả tiền?

    Hiền chép miệng trả lời:

    - Vũ đã hứa, mình mời, thế sao Vũ lại tranh trả, chắc Vũ coi thường mình.

    Yến cười tươi:

    - Bỏ đi, mình tưởng chuyện gì, anh mình thế đó, vả lại đàn ông đi với con gái lần đầu ai lỡ để bạn gái trả tiền.

    - Nhưng mình không nghĩ thế.

    - Nghĩ cái gì, hay thôi bồ mời anh Vũ đi ăn, lần này mình bắt anh Vũ bao rồi bồ trả tiền nhé, ăn miếng trả miếng có sao đâu.

    Hiền bằng lòng ngay với trò chơi của Yến, họ tiến gần tới Vũ và Liên, cả hai đang tranh luận về một đoạn phim mới xem. Yến kêu Vũ:

    - Anh Vũ, anh vô tình quá, anh dẫn con gái đi chơi mà quên đặc điểm cố hữu nhất của con gái là dễ bị đói và lúc nào cũng “ăn nhép nhép”, em đói quá rồi.

    Vũ khôi hài:

    - Anh tưởng ai đài thọ thì phải đài thọ trót. Thôi vậy kính mời các cô nương.

    Mọi người vui vẻ băng qua đại lộ Lê Lợi đến tiệm Thanh-Bạch, như lời đề nghị của Yến.

    Nhưng Hiền ít nói hẳn, không hiểu vì mệt hay một tác dụng đặc biệt của lần gặp và quen Vũ. Càng đi bên Vũ sự bồn chồn và e lệ trong Hiền càng trở nên khác lạ, một thứ gì như luôn kiềm chế, luôn giữ và bắt nàng trở nên vụng về. Hiền lén nhìn và như muốn biết rõ ràng từ lần đầu về người đàn ông khác với những săn đón hằng ngày Hiền gặp. Nhưng riêng Vũ, Vũ vẫn vui vẻ, từ những câu chuyện chiến trường, những chuyện tiếu lâm, tất cả thật thu hút và như không một mảy may đặc biệt nào dành cho Hiền, hoặc tối thiểu Hiền đang cảm thấy như vậy......

    Khi ly chè của Yến đã hết già nửa, Yến làm bộ kêu và nháy mắt với Hiền:

    - Ê, Hiền, làm bộ đoan trang một chút được không, đứng dậy, đi lấy tăm, rồi đưa hai tay lễ độ mời mọi người coi nào.

    Vũ nhìn Yến:

    - Em muốn dở trò gì đây, sao lại hành tội Hiền thế.

    Nhưng Yến vừa cười vừa nhõng nhẽo:

    - Anh không biết em đang ốm sao?

    Vũ quay qua Hiền:

    - Cô Hiền ngồi đó để tôi lấy cho.

    Nhưng Hiền lẹ làng đứng dậy:

    - Thôi được anh, lệnh Yến giờ còn hơn lệnh bà, anh để Hiền vâng lệnh vậy.

    Vũ không nói thêm, Hiền đến quầy hàng trả tiền, như dự tính đã bàn cùng Yến.

    Thanh toán xong, Hiền lấy vội bốn cây tăm, rồi trở lại bàn đưa hai tay cho Vũ:

    - Hiền xin mời anh, Hiền làm theo lệnh Yến đó.

    Vũ vừa cầm lấy chiếc tăm từ tay Hiền vừa mỉm cười vừa bảo Hiền:

    - Ở nhà chắc cô Hiền hay bị mẹ rầy lắm phải không?

    Hiền không hiểu nên hỏi:

    - Sao anh biết?

    Vũ lại bình thản:

    - Tôi thấy cô chậm quá, lấy tăm mà cũng mất cả giờ.

    Yến không để Vũ nói tiếp:

    - Anh Vũ thật hư quá, sao lại chê con gái nặng lời thế, anh không sợ Hiền giận sao?

    Vũ lặng thinh, liếc mắt nhìn Hiền.

    Không, Hiền chẳng giận, Hiền còn vui như được khen, hai hàng lông mi chớp vội, chiếc má lún đồng tiền còn chứa cả cái bao la của sự đắc thắng nào đó, và Vũ chợt hiểu. Vũ hơi mỉm cười, nụ cười đơn sơ nhưng chứa cả sự thông cảm vô bờ.

    Hiền bỗng nhỏ nhẹ đủ để Yến và Liên nghe:

    - Được người anh như anh Vũ, Yến thật có phúc.

    Liên nhìn Hiền và Vũ, lẹ bảo:

    - Coi bộ hai người hợp ý quá.

    Nhưng Vũ đã không trả lời, chàng lặng đứng dậy như một lẩn tránh và bảo:

    - Tôi phải vào hậu cứ trả xe, để dịp khác, lần sau chắc đến lượt cô Liên.

    Liên tinh nghịch:

    - Liên bằng lòng, nhưng là đãi anh uống nước trà ở nhà Hiền, anh chịu không?

    Vũ mỉm cười nháy mắt nhìn Liên đồng loã:

    - Như thế còn phải tuỳ bà chủ nhà cô Liên ạ.

    Hiền nhìn Vũ e lệ, cặp mắt như nở một niềm vui trìu mến, thương yêu, vì biết Vũ đang cố tình trêu mình. Tuy nhiên, Hiền không trả lời, chỉ hích cùi chỏ vào hông Liên. Liên kêu “ái” mỉm cười nháy mắt toa rập khiến Vũ và Yến cùng cười theo.

    Rồi Vũ lặng đứng dậy, đến quầy hàng, nhưng như chàng đã đoán trước, Hiền đã trả xong.

    Vũ trở lại bàn bình thản bảo Hiền:

    - Tôi đã trách lầm Hiền rồi. Cám ơn Hiền nhé. Tôi hy vọng lần sau Hiền cũng làm như thế, tôi sẽ để dành tiền, khi trở lại vùng hành quân, tôi sẽ mua rượu đế và bao mấy thằng bạn, sau đó, chắc chắn tôi bảo với chúng, là tiền của cô em gái hậu phương gửi tặng các anh lính chiến mồ côi “đào” xa nhà.

    Yến vừa nghe thế, cười to, bảo Vũ:

    - Anh thật không hay chút nào. Sao cứ trêu Hiền thế.

    Nhưng Vũ chỉ khoác tay ra hiệu thân thương, kêu Yến và mọi người cùng rời Thanh-bạch.

    Khi tới trước nhà Hiền, Vũ xuống xe đến gần Hiền nói nhỏ:

    - Cám ơn Hiền nhiều, thật không đành lòng, và hơi khó chịu phải để Hiền trả tiền, nhưng ý Hiền muốn là trời muốn, tôi đâu biết làm sao hơn. Tôi biết Hiền giận tôi ngay ở trong rạp hát, nhưng đừng lo, khi nào tôi “ rách” Hiền sẽ thấy tôi cũng tồi lắm, lúc đó Hiền lại sợ tôi, bỏ của chạy lấy người, Hiền ạ.

    Hiền nhỏ nhẹ:

    - Anh quá lời, Hiền quen anh hôm nay như một xếp đặt, Hiền rất quý, và quý ngay từ cử chỉ đầu.

    Rồi Hiền e dè nhìn Vũ:

    - Anh còn giờ không? Mời anh vào nhà uống nước.

    Nhưng Vũ trả lời ngay:

    - Cám ơn Hiền, tôi phải về, xin để dịp khác Hiền nhé.

    Hiền bỗng hỏi:

    - Bao giờ anh đi?

    Vũ nhanh nhẹn:

    - Năm ngày nữa tôi phải trình diện.

    Hiền chút do dự rồi nói:

    - Em còn ít bài, hồi sáng định mang lên cho Yến, nhưng vì bị mưa, nên ướt hết. Em dự định sẽ chép lại, ngày mai rảnh, em sẽ mang lên cho Yến.

    Hiền như một tự nhiên, từ ý nghĩ, tư tưởng nào, lời nói nào xui và đưa âm thanh “em” ngọt ngào thoát ra, lần đầu tiên Hiền xưng với Vũ. Vũ cảm nhận ngay, nhưng chàng nói:

    - Phiền Hiền quá, hay để mai tôi đến lấy cũng được, có ngại gì không?

    Hiền vui mừng:

    - Không ạ, vâỉy mai em chờ anh.

    Vũ chào Hiền và Liên, chàng lên xe và như quên sự hiện diện của cô em gái bên cạnh, líu lo những bản nhạc tình liên tiếp. Yến nhìn anh như lây với niềm vui đó.

    Từ một hồi hộp khác lạ. Hiền cố dỗ giấc ngủ, nhưng chỉ là chập chờn. Sự trằn trọc mơ hồ đẩy đưa từng giấc mơ đến vội và đứt đoạn, hình ảnh Vũ luôn quyện lẫn một giá ước trong ánh sáng mông lung bên Hiền. Chỉ một lần gặp, cái gì là quyến rũ, mê hoặc, mà Hiền đã nghe, đã đọc, giờ như dậy rõ trong Hiền.

    Sáng hôm sau....Trời còn tờ mờ sáng Hiền đã háo hức, thời gian thật dài. Tới 10 giờ, từ trong cửa sổ trên lầu nhìn ra, Hiền thấy Vũ đi vào. Rồi tiếng gõ cửa nhè nhẹ dưới nhà khiến Hiền khó tránh khỏi sự bồn chồn.

    Hiền vội vàng xuống mở cửa. Rồi một so sánh, Vũ thật gọn và thật nhã nhặn trong bộ đồ dân sự, nhưng tự nhiên Hiền lại thấy ở Vũ như mất đi, hoặc thiếu một sự gì. Phải chăng trong giấc mơ và lần gặp đầu, bộ đồ trận rằn ri trên người Vũ đã ép tận trong đáy lòng Hiền

    Vũ nhìn Hiền tưởng Hiền quên, không nhận ra mình, nên Vũ nói vội:

    - Hiền không nhận ra tôi, hay tại đến sớm quá đã phiền Hiền?

    Hiền vội vã:

    - Không anh, em xin lỗi, em sơ ý, mời anh vô chơi, tự dưng em so sánh giữa hai lần gặp, hôm qua và hôm nay, nên em chút do dự thôi.

    Vũ tần ngần rồi nói:

    - Ý của Hiền là bộ đồ “civil” tôi mặc hôm nay và bộ đồ lính rằn ngày hôm qua?

    Hiền bẽn lẽn:

    - Dạ, nhưng sao anh biết?

    Vũ cười:

    - Thế dáng nào hợp với tôi hơn?

    Hiền mỉm cười, nụ cười thật duyên dáng:

    - Anh muốn Hiền nói thế nào?

    Vũ không do dự:

    - Sự thật đối với tôi lúc nào cũng là điều quý nhất.

    Hiền hơi lưỡng lự, nhưng chưa trả lời vội. Hiền mời Vũ vào trong. Vũ theo Hiền. Và khi Vũ đã ngồi xuống ghế, Hiền mới thong thả trả lời:

    - Bộ đồ trận trên mình anh như một cao ngạo và mạnh dạn, em cứ cảm thấy thế.

    Vũ mỉm cười:

    - Cũng có thể vì Hiền không thấy thường.

    Nhưng rồi Vũ nhìn quanh hỏi Hiền:

    - Hai bác không có nhà?

    - Thưa anh không, ba mẹ em đi ăn giỗ.

    Vũ an tâm hơn:

    - Hiền biết vì sao tôi vận đồ “civil” hôm nay không?

    Hiền chút e dè, khe nói:

    - Em không rõ.

    Vũ thở dài, rồi nói:

    - Các người già thường không ưa lính, nhất là thứ rằn ri khó coi như chúng tôi, vì thế đi gõ cửa nhà con gái mà không biết ý sợ các cụ lấy chổi chà quét ra mất, nên tôi phải làm thế.

    Hiền mỉm cười duyên dáng:

    - Anh giữ ý quá, em chưa bao giờ nghĩ vậy.

    Vũ tỉnh bơ cười nụ:

    - Như vậy tôi yên chí hơn vì hai bác chưa đuổi ai.

    Hiền nhìn Vũ chút bông đùa vừa nheo mắt làm duyên:

    - Cũng có thể rồi mà em không biết.

    Rồi Hiền vào trong bếp lấy nước, còn lại một mình, Vũ đưa mắt nhìn quanh gian phòng. Tất cả bày biện ngăn nắp, nhà Hiền không chỉ đẹp mà còn rất sang. Một dư thừa hay thú vui trong quyền quý. Tự dưng Vũ lưỡng lự. Vũ thấy rõ sự khác biệt giữa hai gia đình. Nhưng khi Hiền ra trên tay bưng lon bia lạnh, Hiền thật ngọt ngào từng cử chỉ, Hiền không khách sáo kiêu kỳ. Rồi từng câu chuyện, Vũ dần vào và còn nhận thấy khởi điểm không chỉ bắt đầu từ Vũ, mà cả Hiền, Vũ quên và quên hết như chỉ còn biết theo một tiền định sẵn đặt, Vũ phải tiến bước.

    Với Hiền, tình yêu Vũ đến không chỉ đơn giản như tiếng “hắt hơi vô duyên” mà Liên nói, nhưng đã chứa đầy duyên phận. Hiền lạc quan ở Vũ từ cử chỉ tới nhân cách, và bên Vũ còn như một đầy đủ lạ lùng. Những ngày hẹn hò, những viên gạch xây và cấu tạo để gắn chặt cuộc tình mới càng thêm khắn khít. Hiền và Vũ bên nhau trong tình nồng, ở Hiền một mới lạ thật sự và như thể không tách rời.

    Nhưng rồi cuộc vui nào cũng phải qua, Vũ trở lại vùng hành quân. Buổi sáng hôm đó, Hiền còn nhớ, trời còn hơi sương. Sàigòn hôm nay, độ lạnh mát rợi, mặt trời vẫn còn ẩn từ một vùng ngoại ô xa xôi nào đó. Hiền và Yến tiễn Vũ ra phi trường. Lần đầu tiên trong đời Hiền đóng vai người tiễn đưa thật, ở đây không có đèn vàng, không có mùa đông tuyết trắng để tạo cảnh chia ly nhớ mãi như ở sân ga Lyons, nhưng đường Sàigòn với Hiền như một xa lạ. Hiền mặc những người, những vật, những xe cộ đua chen lớp lớp và vụt biến. Rồi từ một ý nghĩ, Hiền như bị bỏ quên, Hiền bị tước đoạt, vì Vũ phải xa Hiền.

    Tới phi trường, Vũ thật xa xôi, phải chăng Vũ còn vấn vương tâm sự của tối hôm qua, lúc Vũ rỉ tai nói nhỏ trong tiếng nấc của Hiền ở quán dừa bên xa lộ Biên Hoà: “ Trong đời lính, đây lần đầu tiên anh thèm những ngày ở Sàigòn”. Ngay khi Vũ nói thế, Hiền biết vì Hiền, nhưng lúc này, lúc biệt ly mà Hiền không sao nói được lời gì. Phải chăng, sự nhớ thương đã lăn dài bằng những giọt nước mắt và che kín lời nàng. Vũ cũng không nói, lặng yên, nhưng đôi mắt chàng như chứa chan cả một não nề nhung nhớ. Yến thấy thế, cố gắng phá tan không khí buồn thảm chia ly của Hiền và Vũ, nên mỉm cười bông đùa nói với Vũ:

    - Anh Vũ, em cấm anh đứng ở trường Đồng-Khánh như mọi lần nữa nghe không?

    Vũ nhìn Hiền:

    - Em yên chí, lần này về học khoá bổ túc, anh ngủ mê nên Đức Chúa Trời đã lấy mất mảnh xương sườn của anh để tạo ra Hiền, từ nay nửa thân thể anh ở Sàigòn còn tâm trí đâu mà mơ các nàng ngoài “nớ”.

    Hiền vẫn ngồi yên, Yến thấy thế nói thêm:

    - Hiền đã sinh ra từ 20 năm về trước chứ đâu phải chờ anh tới giờ phải không chị “hai”.

    Hiền nhìn Vũ, rồi xoay qua hỏi Yến:

    - Bồ tính học nghề con Liên chọc mình hả?

    Yến bông đùa duyên dáng:

    - “Dạ” em không dám, thưa chị hai

    Vũ ghé sát lại Hiền, và rất lẹ, để vội nụ hôn mỏng trên suối tóc buông dài của Hiền mặc sự hiện diện của cô em gái

    bên cạnh. Hiền hơi cúi người xuống và khẽ nói với Vũ:

    - Anh đừng uống rượu và hút thuốc lá nhiều, sợ có hại.

    Vũ mỉm cười nói:

    - Anh hứa nhưng chỉ lúc không nhớ em thôi.

    Hiền phụng phịu:

    - Anh!

    Và Vũ nói trong yêu thương:

    - Có nghĩa là anh phải và còn uống và hút nhiều gấp bội vì lúc nào anh cũng nhớ em.

    Hiền đập vai Vũ:

    - Anh ăn gian quá, vậy thôi đừng nhớ em nữa.

    Nhưng Vũ mặn mà trìu mến:

    - Nhưng nếu không nhớ thì sao anh sống? Nhớ em còn cần hơn hơi thở nữa mà.

    Hiền hứ nhẹ, rồi nói với Vũ:

    - Anh chỉ cố ý vì không muốn bỏ rượu và thuốc.

    Nhưng Vũ rất nghiêm trang:

    - Nói thế chứ anh cố để em vui, có người yêu tự mình phải khác em biết không?

    Hiền e lệ, rồi khẽ nói với Vũ, giọng lạc trong yêu đương:

    - Đâu phải chỉ anh, thế anh muốn em làm gì?

    Vũ làm bộ suy nghĩ, rồi nhìn Yến nói lớn:

    - Yến từ nay phải “escorte” “chị” Hiền nghe, nếu anh biết Hiền có ai là anh đánh Yến trước. Còn nữa, cả hai phải cố để chóng làm luật-sư mai mốt cãi cho anh, nếu lỡ anh bắn lầm nghen.

    Yến trả lời Vũ:

    - Em nghĩ cũng lạ, lần trước anh ra phi trường người vẫn còn ngả nghiêng và đầy mùi rượu, mà lần này thì không những sạch mà còn thơm nữa, bảo sao mẹ cứ khen anh hoài.

    Ngay lúc đó, người tài xế ở hậu cứ chạy lại nói với Vũ:

    - Trung-úy, phi cơ sắp cất cánh.

    Vũ quay lại bảo Lộc:

    - Lát nữa nhờ bạn đưa hai cô về hẳn hoi. Nếu hai cô có cần đi đâu thì nhờ bạn đưa dùm. OK.

    Rồi quay sang Hiền:

    - Anh đi, anh sẽ viết thư về em ngay.

    Vũ vỗ nhẹ vai Hiền và đi vội. Chỉ có sự dứt khoát lẹ làng mới giảm được sự xúc động mạnh, dù cảnh biệt ly nào. Hiền chỉ kịp gật đầu. Vũ đã biến vội trong đoàn người.

     

    (Còn tiếp)

    (11/10/2014)
  • TTVDDT 19 - Phần 15
    TTVDDT 19 - Phần 15

     

     

     

    Người Nữ Tu Huyền Chức

     

    Người Nữ Tu Huyền Chức ra đời sau khi J.Ngọc xuất bản trường thiên Cõi Phúc Và Giây Oan toàn bộ và được rất nhiều độc giả thư tín cùng điện thoại, trong đó có cả các vị linh-mục đã góp ý  và thông cảm trong chiều hướng đón nhận thành khẩn với J.Ngọc khiến J.Ngọc cảm hứng đã tiếp tục viết... và Người Nữ Tu Huyền Chức ra đời.

     

    Thực ra, với J.Ngọc, Người Nữ Tu Huyền Chức còn là một ấp ủ từ lâu, nhất là với J.Ngọc, các nữ-tu luôn sẵn sàng hy sinh để hiến mình cho Chúa và phục vụ tha nhân thật sự rất đáng được tôn kính. J.Ngọc muốn dùng ngòi bút để phần nào nói lên những hy sinh và trăn trở của một người phụ nữ đã tự nguyện hy sinh tất cả đời mình, nhất là trước những âm thầm, những chịu đựng và biết bao nhiêu sa ngã lúc nào cũng rình rập như những con sâu trong huyết quản.. Nhưng những người Nữ-tu đã làm gì để có thể tránh được những cạm bẫy ung nhọt bất trị của thế gian...

     

    Xin qúy độc giả đón đọc Người Nữ Tu Huyền Chức để phần nào thông cảm chức năng của một nữ-tu trước và sau.. huyền chức....

     

    Lời Tâm Lộ Của Tác Giả trong Người Nữ Tu Huyền Chức

     

    J. Ngọc, với tâm ý luôn muốn cùng độc giả chia sẻ những cảm súc từ những chất chứa buồn vui lẫn lộn của cuộc sống, mà ở đó, sự định giá tùy theo nhân sinh quan của từng độc giả.

     

    Trong ý nghĩ đó, tác phẩm Người Nữ Tu Huyền Chức, chỉ là một cuốn tiểu thuyết đúng nghĩa, J. Ngọc đã dùng tâm huyết trang trải theo thiển ý riêng mình, trong hồi sinh quá khứ, một quá khứ với nhiều chất lũy đau thương của những mảnh đời trôi dạt, truân chuyên, gò bó, trong từng tấc luân lý cổ truyền, đôi khi áp đặt, nhưng phải cam chịu, của một đời người chỉ biết sống tùng phục nơi xóm làng, qua từng thời, từng đời, diễn tiến.

     

    J. Ngọc nhớ một lần trong chuyến công tác Singapore, trên cùng chuyến bay, một người bạn Mỹ, vì thấy J. Ngọc liên tục viết bài, đã hỏi J. Ngọc, lý do gì tác động khiến J. Ngọc viết văn. J. Ngọc đã thành thật trả lời: “Có lẽ vì J. Ngọc muốn được chia xẻ cùng độc giả những thầm nghĩ riêng mình, để tìm cho đời sống một nhân hậu đứng đắn.”

     

    Quả thật, đời sống con người quá nhiều khúc mắc, nhất là cuộc hành trình khó khăn mà những người chúng ta đang cùng cam cảnh. Vật chất đã hiên ngang lũng đoạn, để rồi đời sống tinh thần như dần bị quên lãng. Do đó, những người vì tha nhân, hy sinh, lăn xả cho xã hội trong tinh thần thiện nguyện đích thật, dễ bị bôi bác và mất đi sự mầu nhiệm và giá trị cao qúy, để vô tình bù vào bằng những trắc trở vô tâm, của chính những người cùng giống. 

     

    J. Ngọc xin đa tạ sự thông cảm, và cám ơn quý độc giả trong lời qúy mến và thân thương, đã chia xẻ hầu J. Ngọc có cơ hội trải lòng mình trong những tác phẩm đã qua, cùng một tâm ý nhớ về dĩ vãng thân thương, nhưng mãi còn trong từng người, từng nơi và từng thời gian, để từ đó rút ra những kinh nghiệm cần thiết, cho cuộc sống đang cần hồi sinh lòng thiện, không chỉ bây giờ mà mãi mãi

     

    J. Ngọc  01/2000

     

     

     

    TRUYỆN DÀI :

     

    Người Nữ Tu Huyền Chức

     

    (Tiếp theo)

     

     

                                 Chương  5

     

    Cuộc đời con người là những trôi nổi không ngừng. Vì thế, sự lệ thuộc vào đời sống hẳn nhiên như một giao ước không thể chối bỏ. Có những chuyện tầm thường trở nên khác thường, và ngược lại có những chuyện tưởng như không thể bao giờ có cơ hội thì lại hiện hữu rõ ràng.

    Cách đây vài tháng, cũng trong bữa cơm chiều gia đình, Thanh đã tưởng sẽ chẳng có bao giờ Thanh có cơ hội được rời khỏi nhà để theo con đường mà Thanh mong ước. Ngoài ra Thanh còn từng bị ông Tam hành hạ, chửi mắng và dùng những lời đanh thép cấm đoa1n. Ngờ đâu hôm nay, cũng bữa cơm chiều, cũng trong không gian ấy, ông Tam lại gắp cho Thanh từng miếng thịt như một bày tỏ tình phụ tử ân cần và thương yêu nhất.

    Ông Tam trông trầm tư và lặng lẽ khác thường, thỉnh thoảng còn đưa mắt nhìn Thanh ân cần gắp thịt bỏ vào đĩa cho Thanh bằng những yêu thương trìu mến. Rồi trong cử chỉ thân thương đó, ông Tam bưng ly rượu hớp từng ngụm nhỏ như thưởng thức sự nồng nàn êm ái của gia đình. Ông Tam gần đây đã không còn say sưa. Ông Tam biến đổi như một không ngờ. Ông uống rượu với một mức độ mẫu mực ấn định. Bà Tam tưởng vì ông ra làm việc giáo-xứ, nên tự ông phải biết sửa đổi. Nhưng không, không ai có thể hiểu được sự thay đổi của ông từ đâu, chỉ riêng mình ông Tam, ông Tam đã được đánh động từ cử chỉ nhu mì, hiền thục của sơ Cecilia hay vì sơ Cecilia là Nụ, người con gái đã làm ông hồi sinh tuổi thơ? Ông không cần phân tích, và sự phân tích quả không cần thiết, vì ông chỉ biết rằng, Cecilia đã cho ông nguồn sống mới, mà tối thiểu là ông đã biết phân định phải trái và chiều theo ý bà Tam cũng như Thanh. Từ đó, ông không còn điều to tiếng nhỏ. Ông cũng qúy mến tất cả các bậc tu trì, dù là các sơ, nên sự nhận định đối với những nữ-tu không còn mặc cảm trong ông.

    Bà Tam không dám nhìn Thanh, thỉnh thoảng Thanh nghe thấy bà Thanh cố nín tiếng thở dài, như cố dấu một đau buồn đang dồn ép. Thanh nuốt những miếng cơm, nhưng chính Thanh cũng bị hành hạ của cảnh chia ly, vì ngày mai Thanh đã thực thụ xa bố mẹ. Nghĩ tới đó, lòng Thanh chùng xuống, mắt Thanh cay cay. Thanh cố kềm giữ, gắp miếng thịt bố vừa cho qua bát của em út, miệng trầm buồn:

    - Ăn đi em.

    Thanh cũng chỉ nói được mấy tiếng nhưng tưởng như đã tiêu hao bao sinh lực. Bà Tam không còn cầm nổi nước mắt nên mếu máo:

    - Con ăn đi, nó ở nhà lúc nào ăn chẳng được.

    Rồi bà thở dài thành tiếng:

    - Lên nhà dòng, con phải cố gắng ăn uống nhé con.

    Thanh cúi mặt. Vì Thanh vừa cảm thấy hai giòng lệ đang chảy dần trên khoé mắt. Ông Tam nhìn Thanh:

    - Con còn buồn bố không?

    Thanh nhanh nhẹn:

    - Thưa bố, chưa bao giờ con dám buồn bố mẹ.

    Ông Tam nghe Thanh, miệng lẩm bẩm:

    - Nhiều lúc bố thấy bố ích kỷ qúa. Nhưng bố hứa bố sẽ không để mẹ và em con phải khổ. Con yên tâm sống đời sống tu hành thực sự như sơ Cecilia.

    Thanh dạ nhỏ. Bà Tam nhìn chồng, rồi lại nhìn Thanh, một lúc bà lên tiếng:

    - Không phải ai đi tu cũng đều được. Vì Chúa gọi nhiều, nhưng chọn thì ít, mẹ chỉ mong con, nếu tu không được thì đừng

     

    cố ở, mai mốt con sẽ mang tội ăn vụng cơm nhà Chúa con nhé.

    Thanh gật đầu, đưa mắt nhìn bà Tam. Bà Tam nhìn Thanh, tự nhiên bà đứng dậy đi vào nhà trong.

    Thanh nhìn theo dáng bà Tam, thấy dáng mẹ gầy và già hẳn ra. Một ý nghĩ trong đầu, nếu quả đi tu là từ bỏ gia đình thì Thanh chẳng hóa ra là kẻ bất hiếu sao? Vì Thanh đã trốn chạy để không phải nuôi dưỡng bố mẹ trong tuổi già. Nhưng Thanh nào ngờ, sự hiếu thảo của con cái chưa hẳn đã là sự nuôi dưỡng, vì thường không bố mẹ nào nuôi con để mong con trả ơn bằng cách nuôi lại, mà chỉ mong sao con sống hạnh phúc. Vì không có sự báo hiếu nào đẹp bằng niềm vui của con cái.

    Tuy nhiên, nói tới chia ly, là nói tới nước mắt. Vì nước mắt đã là sự mầu nhiệm đặc biệt của chia ly ngay từ nguyên thủy. Cũng như sự mâu thuẫn của con người, dù biết Thanh đi vì lý tưởng, nhưng sự đau lòng từ nhớ thương vẫn không thể chối bỏ.

    Thanh cố và miếng cơm cuối cùng trong chén. Mời bố, đứng dậy vào trong với bà Tam. Bà Tam thấy Thanh vào, vội chùi nước mắt. Thanh mếu máo:

    - Mẹ ra dùng cơm. Nếu mẹ không muốn con đi, con vẫn có thể ở nhà được mà.

    Nhưng bà Tam mắng yêu Thanh:

    - Con chỉ nói bậy. Mẹ nào không muốn cho con đi.

    Rồi như sợ Thanh buồn, bà Tam dắt Thanh ra ngồi lại vào bàn ăn.

    Vừa lúc đó, có tiếng gõ cửa. Thanh nhanh nhẹn đứng dậy ra mở cửa. Một người khách nói nhanh:

    - Cô bán cho tôi liều thuốc đau bụng. Thằng bé tôi nó đi cầu hoài. Tôi biết đã đóng cửa, nhưng xin cô thông cảm.

    Thanh ngọt nào:

    - Thưa bà không có chi đâu.

    Rồi Thanh không chần chờ, lấy hộp thuốc trao cho khách, còn dặn đi, dặn lại cách dùng. Nhưng khi Thanh đóng cửa, vô tình nhìn ra ngoài, chợt thấy Huy đang đứng dựa dưới cây me đầu hẻm. Một phản ứng tự nhiên, Thanh đưa mắt nhìn quanh lòng phập phồng lo sợ. Nhưng chung quanh may mắn không bóng người, lòng Thanh Thấy yên tâm, nhưng sự yên tâm bị tắc nghẽn ngay khi nhớ tới bố mẹ đang còn ngồi bên trong. Thanh vội vã định kéo cửa. Nhưng Huy như đoán biết. Thật nhanh. Huy tiến tới đầu hồi nhà Thanh, không nói một lời, Huy để môt hộp giấy thật nhỏ trên bậc thềm, rồi quay đi vội vàng. Thanh chưng hửng, nhưng vì lòng quá hồi hộp, Thanh chỉ còn như một cái máy, tiến lẹ ra và cầm chiếc hộp bỏ vào túi áo cánh đang mặc. Động tác của Thanh và Huy giống như hai người thám tử rành nghề, mà chính Thanh, khi đóng cửa trở vào trong nhà, Thanh vẫn không còn nhớ diễn biến vừa xảy ra thế nào.

    Từ đó, Thanh mất thăng bằng. Lòng Thanh xao xuyến cùng cực. Những câu hỏi dồn dập luân phiên, nhưng không hề có một câu trả lời khả dĩ. Nhưng vì còn quá nhiều việc phải làm, từ những sách vở, quần áo và những đồ lặt vặt cần mang. Bà Tam cả đêm quanh quẩn bên Thanh như sợ mai con đi rồi sẽ không còn cơ hội gặp lại.

    Thực ra bà Tam cũng không phải là quá đáng, vì khi có con đi tu, là tự đã bằng lòng hoàn toàn tâm niệm, người con đó từ nay sẽ không còn là con của mình, mà là con chung, con của mọi người. Bà Tam không cần được hướng dẫn, nhưng lại rất rõ ràng, vì bà Tam là người chất phát nhưng lại am tường lẽ đời, điều mà bà may mắn được huấn dậy qua phúc-âm từ tấm bé tới nay với sự am tường thông hiểu cuả linh-mục Lam, một người linh-mục biết lấy sự thánh thiện để huấn dậy giáo dân theo đường lối nhẫn nhục và khiêm nhường của Chúa. Chính vì thế, bà Tam chưa bao giờ so sánh giữa các đời sống tu trì. Vì ở bất kỳ một ranh giới nào, người đi tu cũng đã có một tấm lòng thiết tha với đời sống mình chọn, thì công việc gì được giao phó cũng là công việc làm xứng đáng. Thiên chức của kẻ tu hành chỉ được đánh giá trước mặt Thiên Chúa khi chức năng đó được thi hành trong ơn Chúa, mà đã trong ơn Chúa, thì không có việc làm nào gía trị hơn việc làm nào. Từ các sơ, những người cả đời chỉ biết chùi cầu tiêu hay băng bó cho các người cùi lở ở những nơi bẩn thỉu, hôi hám, đến các giám-mục, linh-mục với áo quần nề nếp sống như những người trưởng giả trần thế, thì trước mặt Thiên Chúa nào khác chi. Do đó, với bà Tam, bà luôn có sự kính nể đặc biệt những người dâng mình cho chúa qua ơn gọi đi tu, dù ở đâu.

    Bà Tam không hề có bất kỳ khái niệm nào bất tuân phục hội-thánh, nhưng bà chỉ dám suy luận theo sự hiểu biết thiển cận của mình cũng như linh-mục Lam có lời bình phẩm với ông Tam. Tại sao, các nữ-tu, những người cũng bỏ cuộc đời để dâng mình cho Chúa, còn hơn cả các thầy-sáu vĩnh viễn, lại không có thể thay các linh-mục để dẫn giải phúc-âm trong các thánh-lễ Misa. Nhất là rất nhiều nữ-tu rất giỏi và không kém năng khiếu so với các linh-mục. Còn nói về tâm lý, đôi khi đàn bà có nhiều tình cảm thu phục hơn đàn ông. Hay chẳng lẽ giáo-hội muốn cho các nữ-tu trở nên dụng cụ đặc biệt của Thiên Chúa hoàn toàn qua đường lối khác, bằng những công việc bé mọn nhưng thiết thực và cần thiết hơn. Chính vì thế, có nhiều người trong mọi giới, dù có khó khăn và cứng đầu tới đâu, nhưng khi đứng trước sự thánh thiện và nhân đức cũng trở nên hiền lành và dễ dàng. Do đó, bà Tam lại nghĩ lại, phải chăng đây mới là sự huyền diệu của Thiên Chúa, lấy tình yêu của người tôi tớ hèn mọn mà cai trị tội ác thế gian.

    Nhưng dù cách nào, và hình thức nào bà Tam cũng không thể không thương nhớ người con gái duy nhất của mình. Và vì thế, bà Tam đã thức cả đêm với Thanh.

    Riêng ông Tam, ông vào giừơng nhưng Thanh biết ông Tam cũng không hề nhắm mắt. Tình phụ tử bao giờ cũng có lý lẽ riêng, trầm và rất kiên cường.

    Càng về sáng, lòng Thanh càng thấy sự xa cách gần kề. Đây là lần đầu tiên trong đời Thanh xa bố mẹ, Thanh nào có kinh nghiệm của xa cách. Thanh chỉ biết rằng, dù Thanh rất vui mừng được theo con đường Thanh hằng ao ước, nhưng nước mắt Thanh vẫn đầy ắp nỗi buồn.

    Chuông nhà thờ đổ lần thứ nhất, Thanh thay áo đi lễ, rờ túi áo, Thanh mới nhớ tới hộp của Huy. Thanh tò mò định mở, nhưng bà Tam vẫn ngồi bên dặn dò đủ điều. Tới lúc chuông nhà thờ lần thứ hai, bà Tam mới đứng dậy, mặc vội chiếc áo dài hàng ngày đi lễ.

    Lòng Thanh hồi hộp mân mê chiếc hộp, nhưng vì sợ mẹ trông thấy, Thanh đành bỏ vào bọc quần áo định lên xe rồi sẽ mở ra. Nhưng từ lúc đó, hình ảnh và khuôn mặt của Huy luôn quay cuồng trong Thanh. Thanh thấy lạ lùng, thật ra, Thanh cũng không thể phân định rõ tình cảm của Thanh đối với Huy thế nào. Nhưng có một điều Thanh biết là chắc chắn không bằng chí hướng cương quyết đi tu. Chính vì thế, những sôi sục trong lòng mới chợt đến rồi đi dễ dàng. Nhưng Thanh không thể dối lòng, cũng có lúc lòng Thanh đầy rạo rực khi nghĩ tới Huy, nhất là ánh mắt Huy trong những buổi tập hát chung. Huy vừa hát, vừa mỉm cười tế nhị, mà Thanh nghĩ, chỉ có Thanh mới đoán hiểu. Nhiều lúc Thanh phải lãng quên và tự tạo cho mình bình thường hóa sự việc, để Thanh coi nhẹ tình cảm cá nhân hiện hữu mà tiến theo con đường mới. Nhưng thật không dễ. Đời sống là phiền toái và mông lung. Thanh phải cố nhớ để đẩy đưa Thanh khỏi sự sa ngã.

    Và rồi giờ chia ly cũng đến, Bà Tam đứng dưới cửa kính xe đò nhìn Thanh. Thanh ngồi bên Mỹ-Hằng với hai hàng lệ hoen đổ. Thanh cảm thấy vị mặn chảy xuống bờ môi. Thanh cố giữ khỏi bật khóc thành tiếng, nhưng rồi tiếng nấc cũng tuôn trào. Mỹ-Hằng thấy thế bảo Thanh:

    - Chắc Thanh mà nhớ nhà thế này, không đi tu được đâu.

    Thanh nghe thế, thấy xấu hổ, nên cố nói với bà Tam trong nghẹn ngào:

    - Thưa mẹ, mẹ về đi, con hứa sẽ nghe lời mẹ dặn.

    Bà Tam vì ngại với Mỹ-Hằng, nên cầm tay Thanh nói nhanh:

    - Xin sơ giúp đỡ em nó. Nó còn dại lắm.

    Rồi bà không đợi Mỹ-Hằng trả lời, bà lẩn vào phía sau trong dòng nước mắt.

    Thanh nhìn theo mẹ cho tới khi bà Tam khuất bóng mới chùi nước mắt quay qua Mỹ-Hằng nói nhỏ:

    - Ai đánh đập em, em có thể chịu được, nhưng nhìn thấy mẹ em khóc, là dù đang vui mừng, em cũng phải khóc theo. Em hư quá phải không sơ?

    Nhưng Mỹ-Hằng vui vẻ chấn an:

    - Chị cũng đâu khác em. Đó mới thật là tình máu mủ ruột thịt em ạ.

    Vừa lúc, chiếc xe đò chuyển bánh. Mỹ-Hằng cùng Thanh đọc kinh dâng mình cho Chúa xong. Mỹ-Hằng mới ghé tai Thanh nói vừa đủ Thanh nghe:

    - Hôm qua em có vào gặp cha xứ không.

    Thanh ân cần:

    - Dạ thưa sơ có. Cha có cho em cỗ tràng-hạt cha mua từ Roma.

    Mỹ-Hằng nhìn Thanh:

    - Em được cha qúy mến như vậy là em có phước lắm. Nhưng đây cũng là sự ràng buộc để em luôn nhớ, lúc nào cũng phải cố gắng để khỏi phụ lòng những người qúy mến em.

    Thanh dạ nhỏ. Mỹ-Hằng tiếp:

    - Cha có nói, lệ phí học vấn của em cho tới khi vào nhà-tập đã được sơ Cecilia tìm người bảo trợ không?

    Thanh quay qua Mỹ-Hằng thưa:

    - Thưa sơ, cha có nói với em, và cũng bảo em xin sơ chuyển lời cám ơn của cha đến sơ Cecilia.

    Mỹ-Hằng gật đầu quay ra ngoài tư lự. Tự nhiên Mỹ-Hằng nhớ lại ngày xin gia nhập dòng, thật đầy gian truân. Nhưng quả thật, Chúa gọi mỗi người một cách. Mỹ-Hằng bỗng mỉm cười bằng tất cả chấp nhận trước sự đặt để của Thiên Chúa cho đời mình.

    Thanh cũng nhìn ra ngoài, nhưng lòng Thanh vẫn còn xáo trộn đầy những nhớ nhung. Khi món đồ trong tay vuột mất, thật sự ta mới thấy tiếc nuối. Thanh cũng vậy, giờ đây bao êm ấm gia đình, từ những vui buồn như dòng suối mát dần dần thấm nhập hồn Thanh. Thanh nhắm mắt trải qua từng tuổi thời gian, lúc còn tấm bé. Ông bà nội Thanh là người khá giả trong làng, nhưng rất hiền lành và ngoan đạo. Ông đã nuôi rất nhiều người thời tháng ba đói năm 1945, lúc mà quân Nhật sang tàn phá nước ta, đã đổ biết bao nhiêu lúa gạo xuống sông, lại còn phá đê làm ngập bao nhiêu ruộng lúa, mục đích tiêu diệt dân Việt.

    Thanh vì còn quá bé, nên cũng chỉ nghe mẹ kể lại. Nhưng ông bà nội Thanh đã không may mắn, năm 1954 chính những người ông bà nội Thanh giúp đỡ lại nghe theo Việt-minh đấu tố ông bà nội của Thanh, họ tạo ơn thành oán, bắt tội ông bà nội Thanh đủ điều. Cuối cùng chúng ức hiếp ông bà nội Thanh tới chết. Cũng may bố mẹ Thanh lúc bấy giờ đã rời làng. Nếu không, chắc chắn bố mẹ Thanh không còn tới ngày nay.

    Và rồi, những ngày lớn khôn, những khó khăn tìm sống của gia đình từ ngày về đây. Càng nghĩ, Thanh càng thương bố mẹ. Lòng Thanh càng quặn đau vì giữa lúc bố mẹ tới tuổi già Thanh lại bỏ đi xa.

    Rồi từng tư tưởng và ý nghĩ khuấy động. Thanh bỗng nhớ về Huy. Tự dưng Thanh nhìn Mỹ-Hằng như sợ tư tưởng mình vừa bị lộ. Nhưng Mỹ-Hằng đang nhắm mắt, miệng lâm râm đọc kinh. Thanh yên tâm, nhưng sự tò mò lại trói buộc. Thanh cúi xuống mở gói nhỏ đựng ít đồ cá nhân. Nhưng Thanh vừa định mở, một tư tưởng tội lỗi làm Thanh khựng lại. Thanh tự nói với mình: “Hay nhờ sơ Mỹ-Hằng coi, nếu Sơ nghĩ nên coi, thì hãy coi”. Nhưng Thanh lại phản đối ngay, vì làm như thế là mất tự trọng với Huy.

    Vì thế, trong Thanh mãi dằng co. Cuối cùng, Thanh quyết định mở ra, trong hộp là một hình Đức Mẹ thật đẹp với sợi dây chuyền vàng, đặt trên một tờ giấy mỏng mầu hồng với những dòng chữ nhỏ chằng chịt. Thanh thờ thẫn, một cảm giác lạ lùng bao phủ, cảm giác vừa sung sướng vừa ăn năn. Thanh không mở mảnh giấy mà Thanh biết là lá thơ đầu tiên Huy gửi cho Thanh. Thanh ngẫm nghĩ hoang mang trong lòng. Tại sao cuộc đời luôn tạo những khó khăn khiến lòng mình lúc nào cũng mất đi sự an bình. Nghĩ tới Huy, người con trai tác phong và độ lượng, nhưng gía Huy đừng gửi thư, có lẽ đỡ làm Thanh phải cực hình trong chống trả bồi hồi. Thanh thở dài, Thanh không trách móc Huy, mà chỉ lo cho sự chống trả trong lòng không trọn vẹn. Bất giác Thanh quay qua Mỹ-Hằng, nhưng Mỹ-Hằng vẫn còn đang nhắm mắt cầu nguyện. Thanh chần chờ, cuối cùng, quyết định Thanh sẽ chờ để hỏi ý kiến Mỹ Hằng. Nhưng rồi không biết nghĩ sao, Thanh lấy sợi dây chuyền và bức ảnh đeo vào cổ, mở lá thư của Huy ra đọc trong im lặng:

     

    Thanh!

    Lẽ ra Huy đã không viết lá thư này cho Thanh, nhưng càng cố gắng, Huy càng thấy phải viết để chúc mừng Thanh, cũng như gửi Thanh chút qùa kỷ niệm, đánh dấu ngày Thanh thật sự trở thành một đệ-tử dòng tu. Hơn nữa, Huy vẫn hay ngớ ngẩn, luôn coi mình như kẻ tuyệt vọng. Nhưng quả thật, khi Chúa đặt ra tình yêu nam nữ, hẳn Ngài đã cho chúng ta cơ hội để thân gặp, để rồi Huy yêu Thanh trong hoàn cảnh khác thường. Huy nói thế vì Huy hiểu Thanh đã thực sự muốn được hiến dâng ngay từ tấm bé. Khổ nỗi, Huy là con người yếu đuối, yếu đuối đúng nghĩa, nên dù biết con đường yêu đương của mình đơn độc, Huy vẫn tự mình tình nguyện dấn bước. Nhiều lúc, Huy đã cố gắng coi Thanh như một người bạn thân, nhưng qủa thật khó, vì Huy không thể dối lòng mình. Vì thế, Huy thường bị cắn rứt vô tận hàng đêm.

    Con người đôi khi cũng lạ, khi có cơ hội thì không chịu làm, lúc đường cùng mới co chân nước rút, cũng như Huy, tại sao Huy lại chờ tới lúc Thanh đi mới viết thơ cho Thanh. Nhưng Huy có lý của Huy. Huy không muốn cản trở con đường Thanh đi. Hơn nữa, nếu thực sự Huy nghĩ tới Thanh thì mọi quyết định của Thanh, tự đã là niềm vui của Huy rồi. Nên đôi khi, niềm vui cuả con người lại từ những đau khổ mà mình không hay.

    Thanh còn nhớ truyện nữ-hoàng Saba không. Khi còn là công-chúa, cô có một sắc đẹp tuyệt trần. Khốn thay, cô lại là người con duy nhất của hoàng-đế, nên khi đoàng-đế băng hà, dĩ nhiên cô phải là người lên kế vị. nhưng vì luật của triều-đình, nếu công-chúa muốn kế vị thì phải có lời thề độc thân, suốt đời không yêu ai. Khốn thay, ngày đăng quang của công-chúa lại chính là ngày công-chúa bị tiếng sét ái tình, khi tình cờ bắt gặp cặp mắt say đắm của hoàng-tử xứ Ba-tư. Công-chúa đã phải tìm đủ cách gặp gỡ cho thoả lòng, nhưng cuối cùng cũng không thể che được mắt các quan trong triều, nên công-chúa đành phải xa người yêu. Nhưng bù vào đó, công-chúa đã tìm quên trong chiến trận, để rồi nhờ vào cuộc tình đau khổ đó, công-chúa đánh đâu thắng đó và đã trở nên là người đầu tiên sáng lập ra những tầu chiến tại trung-đông.

    Huy kể lại chuyện này, và không viết tới phần sau, khi nữ-hoàng Saba lấy vua Salomon,. Không phải Huy ví mình như nữ-hoàng Saba, nhưng chỉ dám bày tỏ quyết định của Huy cũng muốn dùng chiến trận để mãi ghi nhớ những gì lòng Huy đã giao ước, là mãi yêu Thanh, nhưng yêu trong tình yêu thiết thực qua đời sống Kitô, vì chắc chắn, tình yêu tự nó không bao giờ có tội, mà chỉ trở thành tội khi chúng ta lợi dụng trái với đường lối của Thiên Chúa mà thôi. Huy cũng báo tin cho Thanh, Huy đã được nhận vào trường võ-bị quốc gia Đà Lạt. Như vậy là từ nay quả thật chúng ta sẽ khó có cơ hội gặp nhau. Thôi thì hãy gặp trong mầu nhiệm cứu chuộc phải không Thanh. Viết tới đây, Huy tự thấy mình mâu thuẫn. Huy không biết có nên gửi lá thư này cho Thanh không. Cuối cùng, Huy quyết định, sau khi dán lá thơ, Huy đành thử thời vận bằng cách cầu may, nếu Huy thảy đồng xu lên, mặt phải, Huy gửi lá thơ này, và ngược lại, Huy sẽ giữ mãi lá thơ này bên mình. Nếu Thanh đang đọc thơ Huy, là Huy đã làm đúng theo giao ước. Như vậy có phải là sự xếp đặt không Thanh.

    Càng viết Huy càng bấn loạn, Huy muốn viết liên tục, và viết mãi mãi vì Huy biết, Huy ngừng viết là sẽ không còn cơ hội viết cho Thanh.. Nhưng nếu trên thế gian này, có thể làm được tất cả những gì mình muốn, thì hẳn nó sẽ trở nên buồn chán và vô vị lắm phải không Thanh? Thôi thì đành theo định luật bất di bất dịch của Thượng-đế, có “có” thì phải có “không”, có khởi sự thì phải có kết thúc. Huy đành ngừng bút, và xin gửi đến Thanh tất cả sự may mắn. Thanh cũng luôn nhớ cầu nguyện cho Huy.

    Huy.

     

    Đọc xong lá thơ, Thanh vẫn ngồi bất động. Giữa mặt hồ yên tĩnh của lòng Thanh, Thanh thấy một cơn sóng ngầm thành hình và đang dấy động. Thanh thấy một sự rạo rực của con tim như bừng cháy. Không phải lần đầu tiên Thanh nhận được thư tỏ tình từ những người theo đuổi Thanh. An đã gửi bao lá thư cho Thanh, rồi Khang, rồi Phúc... Nhưng đây là lần đầu tiên Thanh đọc. Có phải là vì của Huy hay vì Thanh không còn e dè, sợ sệt như trước kia? Bao nhiêu câu hỏi, nhưng Thanh không thể tìm được câu trả lời nào khả dĩ. Hay vì Thanh cố tình không muốn đào sâu tâm ý mình.

    Bỗng từ tận sâu, một hồi chuông đổ dồn đã làm Thanh chấn động. Thanh cố gắng bịt tai che mắt, nhưng tiếng chuông càng lớn như xoáy vào cùng sâu và lưu hành trong từng tế bào, để di chuyển trong trái tim nồng cháy của tình yêu tuổi dậy thì. Thanh bào chữa, Thanh xua tay.. nhưng tiếng nói từ đâu vọng lại mồn một: “Vì tình yêu”. Thanh hoảng hốt, một tiếng nói bật khóc: “Không, không”

    Mỹ-Hằng quay lại, thấy Thanh hai hàng lệ đang nhỏ trên đôi gò má, mặt Thanh biến sắc, dáng ngồi bất động, trên tay cầm chắc chiếc hộp và lá thư, mặc chiếc xe đò đang xô đẩy. Mỹ-Hằng tư lự rồi gọi Thanh. Thanh bừng tỉnh như vừa trải qua một giấc mơ. Thanh nhìn Mỹ-Hằng miệng lẩm bẩm, giọng ăn năn:

    - Em xin lỗi Sơ.

    Nhưng sơ Mỹ-Hằng điềm tĩnh cầm tay Thanh:

    - Em đâu có lỗi gì sao lại xin chị.

    Và Mỹ-Hằng như chấn an:

    - Mới đi mà đã nhớ nhà rồi phải không.

    Nhưng Thanh không trả lời. Thanh đưa lá thơ cho Mỹ-Hằng, Thanh bình tĩnh:

    - Thơ của Huy đưa cho em tối qua. Bây giờ em mới có giờ đọc.

    Sơ Mỹ-Hằng xiết chặt tay Thanh:

    - Em có ân hận không?

    Thanh thản nhiên:

    - Em chỉ phân vân, có lẽ vì tội nghiệp Huy vì em mà Huy đã tình nguyện đi lính.

    Mỹ-Hằng suy nghĩ rồi lại hỏi Thanh:

    - Từ trước có bao giờ em tìm cho em câu trả lời là em còn tình cảm với Huy không?

    Thanh đắn đo:

    - Hình như em chỉ phớt qua, vì em luôn lấy sự hiến dâng làm quan trọng hơn tình yêu.

    Mỹ-Hằng đẩy lá thơ và chiếc hộp vào trong bàn tay Thanh, rồi nói:

    - Thơ của Huy viết cho em, chị không thể đọc. Nếu chị đọc chị sẽ có lỗi với Huy và cả em

    Thanh như không hiểu, nhìn Mỹ-Hằng. Nhưng Mỹ-Hằng nhìn Thanh thông cảm vừa nói nhỏ:

    - Sự chiến đấu tình cảm nội tâm của một nữ-tu rất nan giải, đôi khi còn làm cho chúng ta trở nên tắc nghẽn tới điên dại. Nhưng nếu chúng ta biết cậy trông vào Thiên Chúa, xin Ngài luôn soi tỏ và cho chúng ta ấn chỉ trong lời cầu nguyện, chúng ta sẽ trải qua.

    Mỹ-Hằng trầm ngâm:

    - Thực ra chị đã trải qua không biết bao thử thách về tình cảm trước khi chị quyết định khấn trọn đời. Chị khác với em, và có lẽ không được may mắn như em, vì sống ở Sàigòn, các thanh niên thiếu nữ đều rất dễ bị chưng dụng theo đường hướng của ma qủy. Có một thời ai cũng như yêu cuồng sống vội. Họ rất dễ sai bỏ những luân lý, đạo đức để sống theo vật chất và xác thịt. Những người con gái không còn để ý tới giữ mình. Mà chẳng phải chỉ ở Sàigòn không, ngay cả ở tỉnh Biên-Hòa, gần đây, các nữ sinh trung-học cũng gây chấn động cho giới phụ huynh. Các nữ-sinh trung-học bảo nhau viền quần lót mầu hồng với gấu thật lớn, để khi vận quần dài trắng mỏng, viền gấu nổi, khiến ai nhìn cũng quên đi chiếc quần dài mà chỉ nghĩ tới lãng mạng và sự gợi dục nào đó. Báo chí đã khai thác và coi như một hiện tượng mới. Em biết các nhà báo khi họ đã cố tình, thì ngọt thành mặn, mà mặn thành ngọt. Họ đã viết những bài mô tả về sự gợi dục của các nữ-sinh có tinh thần đổi mới. Em nghĩ coi, còn đâu là phép tắc khuê các của người thiếu nữ Việt.

    Ngừng một chút, Mỹ-Hằng thở dài, rồi tiếp:

    - Vì sống giữa phồn hoa, bố mẹ chị lại quen nhiều, nên bạn bè ngao du không ít. Chị đã từng tưởng yêu, và cũng từng được yêu. Những người con trai theo chị khá nhiều. Trong đó cũng có kẻ chân thành, nhưng thường là lợi dụng lẫn nhau. Thời đó, chị dùng sắc đẹp, dùng sự sang trọng của gia đình mà Chúa ban, lúc nào cũng sẵn sàng có người chiều đãi chị. Chị muốn lên Đà-lạt, muốn đi Vũng-tàu.. chị chỉ hé môi là có người sẵn sàng không đắn đo. Chính vì thế mà khi chị quyết định đi tu, không một ai có thể tin tưởng là chi đi yu được. Nhưng họ đâu biết rằng, chị càng ngao du với bạn bè, chị càng cảm thấy sự dị biệt trong lòng mình, chị luôn thấy sự trống vắng, chị lại càng tạo ra những thử thách mới để chị tìm chính chị. Nhưng càng tìm, càng sa đoạ, thì một tiếng gọi văng vẳng nào đó càng rõ ràng. Em thấy đó, nếu là em, phải bỏ đi tất cả bạn bè như chị em có lỡ không?

    Thanh không còn khóc, nhưng âm hưởng của lá thơ vẫn còn, nên Thanh ngồi im không trả lời. Mỹ-Hằng lại tiếp:

    - Trong một kỳ nghỉ hè tại Đà-lạt, cùng đi với chị là người bạn gái, có người anh tu và đang học tại giáo-hoàng học-viện. Tình cờ chị được người bạn mình cho đọc cuốn sách nói về cuộc đời thánh Augustino giám-mục. Thú thật, lúc bắt đầu đọc, chị vẫn chỉ đọc như phải đọc và không hề có khái niệm gì. Nhưng sau này, nhất là những ngày trước khi chị vào nhà-tập, thì những trang sách đó như những bài giảng qúy giá nhất trong đời chị. Có lẽ đây là một sự đánh động mà Thiên Chúa đã dùng để thánh hóa chị. Một người xa đọa, tội lỗi và bất chính như vậy lại có thể trở thành giám-mục và tiến-sĩ của giáo-hội, chúng ta mới thấy rằng, không một điều gì mà Thiên Chúa không có thể không làm được, miễn là chúng ta biết trông cậy nơi Ngài.

    Ngừng một chút, đổi thế ngồi. Mỹ-Hằng lại trầm trầm:

    - Nhưng sự đánh dấu trong đời tu chị rất mạnh đó là một tuần lễ trước ngày khấn trọn đời. Mẹ bề-trên đã gặp chị mỗi ngày, và ngày nào mẹ bề-trên cũng giải thích đắn đo mọi lẽ, và cùng cầu nguyện với chị để chị có một quyết định chắc chắc. Vì em biết, khi một nữ-tu đã khấn trọn đời, là tình nguyện thánh hiến và sẽ không được tháo gỡ. Chính vì thế, mẹ bề-trên đã cho chị một sự ngạc nhiên không ít. Không biết em có biết rằng, nhà dòng không bắt buộc các nữ-tu phải trình tất cả những thư có tính cách tình cảm, nhưng nhà dòng khuyên là nên cho mẹ bề-trên biết về những tình cảm riêng tư, để có thể cố vấn và giúp đỡ lẫn nhau. Hơn nữa, đời sống nữ-tu là một đời sống khiêm nhường và trong sạch, thì có hệ chi phải gấu giếm nhà dòng phải không em? Nên ngay trước khi vào nhà-tập, chị đã xin mẹ bề-trên, cho chị sau này được tuyệt bỏ tất cả những tình cảm lăng nhăng trước đây, để chị chuyên cần trên con đường mới mà chị đã quyết định lựa chọn. Nên từ đó, mẹ bề-trên đã cho giữ hết tất cả những thư từ mà các sơ trách nhiệm biết không phải là thơ từ bố mẹ chị gửi vào. Mẹ bề-trên đã cất trong một hộc riêng, dĩ nhiên những lá thơ đó chưa hề được mở. Mãi tới ba ngày trước khi chị khấn trọn đời, Mẹ bề-trên mới đưa cho chị. Chị chưng hửng, và xin mẹ bề-trên cho phép chị không đọc những lá thơ đó. Nhưng mẹ bề-trên đã lấy giọng rất đôn hậu bảo chị: “ Chị nghĩ là em nên đọc, vì nếu em không đọc bây giờ, em cũng phải đọc sau này. Ba ngày nữa em khấn, em phải tìm hiểu rõ ràng tình cảm của mình bằng phương pháp nhìn thẳng vào sự thật chứ không phải trốn tránh. Người nữ-tu chọn ngày khấn trọn đời mới là ngày khởi đầu thực sự của đời tu sĩ. Do đó, chẳng lẽ em lại bắt đầu đời sống tu trì thật sự bằng sự trốn tránh sao? Ở đời này, điều mà con người lo sợ và hay chạy trốn nhất em biết là gì không? Đó là lương tâm. Con người luôn tưởng có thể dùng vật chất, dùng tình cảm, dùng luân lý đạo đức để che giấu những điều lầm lỗi là xong, nhưng không, nếu thực sự có những lầm lỗi trong ta, thì dù có che đậy thế nào cũng không tránh được lương tâm kết án. Có khác là con người cố tình chối bỏ lương tâm, nhưng khổ là càng chối bỏ, con người càng tiến tới đường cùng. Vì thế lương tâm quả là điều đáng sợ, nhưng lại cũng là điều đáng yêu nữa, nếu chúng ta dám nhận”. Khi nghe mẹ bề-trên giải nghĩa, chị vẫn nơm nớp lo sợ. Vì lúc đó chị vẫn chưa chối bỏ được những mặc cảm tội lỗi chị đã trải qua trước kia. Chị thấy, chị đáng ghét và đáng luận phạt, nhưng khi chị nhắc tới điều đó với mẹ bề-trên, thì mẹ bề-trên chỉ mỉm cười bảo chị: “Như vậy là em ghét kẻ có tội chứ em đâu có ghét tội phải không”. Chị nghe thế, chị đã phải cố gắng giải thích, dĩ nhiên đời sống Kitô-giáo không cho phép con chiên ghét kẻ có tội mà chỉ ghét tội mà thôi. Nhưng mẹ bề-trên vẫn cười: “Người ta viết cho em là vì người ta có cảm tình đặc biệt với em, điều quan trọng là khi đọc xong, lòng em đón nhận và nghĩ thế nào. Chị khuyên em, trước khi chính thức khấn trọn đời nên mổ xẻ cho kỹ, đừng để ngày bắt đầu lại là ngày cuối thì sẽ mất hết sự cao cả lãnh nhận”. Cuối cùng chị vâng lời mẹ bề-trên. Tối hôm đó, chị đã đọc gần ba trăm lá thơ của năm người bạn trai và mười người bạn gái. Em biết chị đã khóc, đã sầu khổ, đã lo sợ thế nào không?

    Mỹ-Hằng như sống dậy thuở nào, mặt trầm ngâm. Mãi sau mới lên tiếng:

    - Khởi sự là chuyện tình của Đức. Người bạn trai trong một gia đình Phật-giáo gia phong, bề ngoài lúc nào cũng trầm ngâm, nhưng rất sôi nổi. Đức đã cạo đầu sau khi đã viết cho chị mấy chục lá thư nhưng không được hồi âm. Lúc đầu Đức đã tả chị như là một thiên-thần, mà Thượng-đế đã gửi xuống trần gian, để mang lại tình yêu và lẽ sống cho Đức. Nhưng sau, Đức lại ví chị như loài satan đã hút đi nguồn sống của Đức. Mỗi một nét chữ là mỗi mũi kim em ạ. Lá thư cuối cùng là lá thư Đức chỉ vỏn vẹn một hàng chữ duy nhất: “Đức xin từ giã thế gian muộn phiền và từ giã satan của tình yêu”. Và chỉ có một dòng duy nhất đó mà thôi. Nhưng quả đã làm chị khủng hoảng thực sự, vì không biết rồi Đức sẽ ra sao? Đức có vì thế mà quyên sinh không. Từ đó mặc cảm tội lỗi đã khiến chị hối hận bàng hoàng. Nhưng cũng may, sự tôi luyện của nhà dòng và những lời khuyên nhủ bằng lời cầu nguyện chung của mẹ bề-trên sau này đã giúp chị lấy laị sự tự tin, nhưng cũng phải trả một số luợng thời gian không ít. Rồi tới chuyện của Kha, của Ngạn.. chị phải chiến đấu vô tận với những lời nhớ thương, những tình cảm bộc phát được trải ra từng chi tiết trên trang giấy. Khổ nỗi, những người bạn trai của chị thường ngao du trước kia thường

    là người không cùng tôn giáo với chị. Vì thú thật với em, chị có lúc đã thử Thiên Chúa bằng những thách đố ngạo mạn không bình thường. Do đó, chị bỏ thánh-lễ ngày chủ-nhật là chuyện rất bình thường. Dĩ nhiên mẹ chị không biết gì về chuyện đứa con gái cưng, bề ngoài thì ngoan hiền, nhưng nghịch ngợm và đủ chước. Kha còn kèm theo những lá thơ bằng những hình ảnh dâm loạn mà Kha gửi mua từ bên Pháp, bên Nhật. Chị hiểu Kha, hiểu Ngạn, tất cả đều chỉ muốn dùng mọi cách để lôi kéo chị tránh xa đời tu, mà mọi người tưởng là một cuộc đời trói buộc không đúng với đời sống tươi mát của chị.

    Mỹ-Hằng nhìn Thanh, Thanh vẫn lắng nghe trong tâm trạng thông cảm bồi hồi của một sự tự tin nào đó vừa chớm nở. Mỹ-Hằng tiếp:

    - Nhưng chưa hết đâu em. Chuyện của Bạch-Trúc, người bạn gái của chị cũng làm chị hôn mê không kém. Vì chị chưa bao giờ nghĩ tới đồng tính luyến ái có thể xảy ra giữa chị và bạn chị. Thì chuyện đó lại là hiện thực khi lá thư của Bạch-Trúc đã không che giấu, tỏ tình như mối tình của một người nam và một người nữ. Điều này đã càng làm chị khinh tởm chính chị. Và chị đã tự hỏi bao nhiêu lần câu hỏi vì sao? Làm sao chị có thể tin người bạn gái thân qúy của chị lại đối xử với chị như thế. Chị nào có bao giờ nghĩ tới Bạch-Trúc coi chị như người tình, vì thế chị đi rồi, Trúc đã bị bệnh rất nặng mà Trúc gọi đó là bệnh tương tư. Trúc nói, Trúc sẽ về Huế sống đời ẩn dật, nhưng lại không cho chị biết gì hơn. Em thấy không, ở hoàn cảnh chị, một người đang tắm trong hồ tắm phẳng lặng của tình yêu Thiên Chúa, chị phải làm gì để có thể trải qua những xúi dục và cám dỗ này. Và quả, chỉ có cầu nguyện, chị đã cầu nguyện và qùy cả giờ để lắng nghe Chúa tâm sự với chị. Nhờ đó chị mới đứng vững, để chị có đủ can đảm kể lại hết sự thể, từng những lời lẽ quyến rũ đầy xúi dục xác thịt cho mẹ bề-trên. Và chính mẹ bề-trên cũng kinh hoàng bảo chị: “Đây có lẽ là sự thử thách mà Chúa muốn em phải đón nhận trước khi em khấn. Em suy nghĩ và phải đánh tan tất cả những ươn hèn mà ma quỷ quấy rối em”. Mẹ bề-trên còn đăm chiêu nói với chị: “Trong tất cả các tu-viện, chuyện đồng tính luyến aí là mối lo ngại không ít. Vì nơi đây là nơi quy tụ các đệ-tử cùng phái. Chị có nghe các sơ đi du học về nhắc nhở, ở các nước Âu-châu, con người ta rất tác loạn và coi vấn đề đồng tính luyến aí như một bình thường. Họ còn đòi hỏi chính-phủ phải chấp nhận những người đồng tính luyến ái cũng có quyền hưởng tất cả quyền lợi như những cặp vợ chồng bình thường. Nhưng em thấy, Chúa tạo dưng ra người nam và người nữ là đã rõ ý định của Ngài. Vì thế, mọi việc phản với thiên nhiên theo đường lối Chúa đều mang tội phải không em. Nhưng chị phải nói, đối với người Việt-Nam vẫn chưa nghe quen, đừng nói là chấp nhận. Do đó, nhà dòng rất lưu ý các đệ-tử và nữ-tu về chuyện này. Em phải cẩn thận, sau này có dịp, phải cố gắng giải nghĩa và hướng dẫn bạn em tránh được sự bất bình thường này em nhé. Có thể em được Chúa ban cách riêng, nên người dùng theo đường lối riêng của Ngài”. Hôm nay, chị kể kỹ cho em, chị nhắc lại cho em thêm một lần nữa, là không phải chị khoe khoang có nhiều người để ý tới chị. Vì chị khẳng định rằng, mỗi người con gái đều có những đặc biệt, và tùy hoàn cảnh thôi em. Như em, dù khác hoàn cảnh sống, nhưng em cũng biết bao nhiêu người theo đuổi em phải không. Do đó, em hãy can đảm, suy nghĩ và chín chắn, đừng vì sự thương xót hay tiếc nuối mà quên đi những việc khác mà Chúa đã sẵn đợi ta.

    Thanh quay qua nhìn Mỹ-Hằng lòng đầy tự tin:

    - Em cám ơn Sơ, Sơ đã cho em niềm tin và cho em sự sáng suốt. Quả thực, khi đọc bức thư của Huy, em có phân vân rất nhiều, và trong sự phân vân đó, còn có cả sự thương yêu lẫn lộn mà em không có thể trải ra. Nhất là lúc này, giữa lúc sáng tối chưa phân định rõ ràng. Cũng may cho em, được sơ thổ lộ đời sống của sơ làm em can đảm hơn nhiều.

    Nhưng Mỹ-Hằng trầm ngâm, lúc sau mới tiếp:

    - Sau hôm đọc xong những bức thư, và được mẹ bề-trên khuyên nhủ, chị đã xin mẹ bề-trên cho chị một thời gian để chị có cơ hội suy nghĩ chín chắn hơn. Vì kể từ hôm đó, tâm hồn chị luôn dầy vò bởi từng hình ảnh của các bạn chị. Chi bị ma qủy thách đố từng giây. Chị sợ nhất là những đêm thanh vắng, lòng chị ngổn ngang những đòi hỏi bất tận. Từ những ồn ào rong chơi, tới những khát khao cuồng nhiệt thuở xưa, lúc nào cũng sẵn sàng mời gọi. Có những đêm, chị qùy hàng giờ để hãm mình cầu nguyện. Lòng chị có lẽ chưa bao giờ bị cô đơn khiếp sợ đến thế. Em chưa trải qua những giây phút tuyệt vọng vì dồn ép bởi những quyến rũ xác thịt mà ma qủy nó tinh quái dùng sự hồi tưởng như cuốn phim với đầy nghệ thuật, mỗi màn ảnh là mỗi hấp hối của chiều lụy. Chị thoi thóp, khắc khoải và tê dại toàn thân. Lý chí chị cũng bị kiên cố bao trùm bởi ma qủy. Cuối cùng, chị phải kêu gào sự giúp đỡ của mẹ bề-trên. Tuyệt diệu thay, mẹ bề-trên đã lấy độc trị độc. Mẹ không cho chị trốn chạy, mà khuyên chị nên thẳng thắn đón nhận những điều nếu phải xảy ra. Mẹ bề-trên còn khuyên chị nên về nghỉ mấy tháng chờ lắng đọng lòng mình, tìm hiểu, nếu cần gặp tất cả những người bạn xưa, hội ngộ, và nói tất cả điều mình muốn nói. Mẹ bề-trên luôn dặn chị, nếu chị dùng trốn tránh để giải quyết vấn đề, thì chắc chắn một ngày nào đó chị sẽ bị thất bại. Vì dẫu sao, nếu thực sự có gì xảy ra không may cho Đức, dù biết không phải trực tiếp, nhưng cũng gián tiếp phải không em. Cuối cùng, chị xin mẹ bề-trên cho chị hoãn lại một kỳ, chị hứa với mẹ bề-trên là sẽ vâng lời để về hai tuần và chỉ hai tuần, sau đó chị sẽ trở lại nhà dòng tiếp tục tu đức để sẵn sàng cho kỳ khấn tới. Mẹ bề-trên mỉm cười không nói, nhưng chị hiểu ý mẹ bề-trên. Tuy nhiên, hình như trong chị đã được ơn của Chúa, nên sau những ngày cấm phòng và hồi tâm suy nghĩ, chị đã thấy ở đời thật sự không có gì bằng lòng thành khẩn, chị sẽ lấy lòng thành khẩn để gặp các bạn chị, và chị cũng dùng lòng thành khẩn để bầy tỏ những gì mà lòng chị hằng mong đợi. Chị không trốn tránh, và nếu cần chị sẽ chứng minh bằng đời sống đức tin.

    Mỹ-Hằng ngừng nói. Thanh nhìn khuôn mặt Mỹ-Hằng, một khuôn mặt thật đều đặn với làn da trắng ngần. Nhất là khuôn mặt đó bây giờ được mang trong chiếc mào trắng trông dịu dàng và tuyệt mỹ như một thiên-thần trần thế. Thanh tự nghĩ, với khuôn mặt và dáng Mỹ-Hằng, trước kia có nhiều người thương cũng chỉ là chuyện thường, nhưng điều mà Thanh lo ngại, là không biết sau này có còn chuyện tình oái oăm nào nữa không. Vì biết bao người đã không ngần ngại tìm tình yêu trong chiếc áo dòng một cách điên cuồng, bất chấp ngăn trở, dù biết chỉ là tình tuyệt vọng.

    Thanh còn đang mải mê suy nghĩ, Mỹ-Hằng lại lên tiếng:

    - Hôm chị từ nhà dòng về thăm gia đình. lần đó chị đã không vận áo dòng, bố tưởng chị đã xuất, nên bố chị thật vui mừng khi thấy chị trở về, nhưng chị giãi bầy cho mẹ chị nghe qua, chị chỉ về nghỉ hai tuần, bố đã tìm đủ cách cho chị gặp lại các bạn chị, chị hiểu ý bố, nhưng chị bình thản. Điều này càng làm bố lẫn mẹ hy vọng lòng chị đã có chút biến đổi và đang bị đời sống tình cảm xưa làm đảo lộn cuộc sống hiện tại của chị. Tuy nhiên, chị để bố mở “party” mừng chị. Đêm hôm đó chị khiêu vũ, ca hát cùng các bạn bè như không có gì xảy ra trong chị. Nhưng một điều làm chị không an tâm là Đức và Bạch-Trâm đều không có mặt. Chị có hỏi vài người bạn, không ai biết cả hai người hiện ở đâu. Dĩ nhiên các bạn chị không biết gì chuyện tình cảm Đức và Bạch Trâm dành cho chị. Nhưng chị cũng đã lợi dụng tối đa để tìm cách nói chuyện với Ngạn và Kha. Chị đã như lời hứa là dùng tất cả sự chân thành để xin hai người giúp chị và chúc mừng cho con đường mới mà chị đã chọn. Thật không dễ, nhưng cũng may, chị đã chinh phục được cả hai trong hoàn cảnh không ngờ. Dẫu sao, Ngạn và Kha không phải là đối tượng lo lắng khiến chị trở về nghỉ kỳ đó mà là Đức. Vì thế, ngay ngày hôm sau, chị đã lục lọi và tìm đủ cách. Cuối cùng, nhờ Chúa thương, chị đã đến tận nơi Đức ở. Thật là một bất ngờ, Đức thật bình an và đang sống trong một gian nhà có khung cảnh rất thơ mộng tại Bình-Dương. Khi Đức gặp chị, Đức đã trân trân nhìn chị như kẻ mất hồn. Nhưng khi thấy chị vẫn vui vẻ bình thường, Đức dần lấy lại bình tĩnh, nhưng Đức vẫn không giấu nổi sự ngượng ngùng, nhất là khi Đức hỏi chị: “ Bố Hằng cho Hằng biết địa chỉ Đức”. Chị ngạc nghiên tự hỏi: “ Tại sao bố chị lại biết địa chỉ Đức”. Tuy nhiên chị chỉ nghĩ trong lòng, nhưng bề ngoài làm như không để ý tới điều Đức hỏi, chị từ tốn bảo Đức: “ Không phải bố Hằng”. Đức nghe chị trả lời, Đức thở dài. Từ đó, chị thấy Đức tư lự hơn.

    Mỹ-Hằng đang nói, xe đò vòng qua bên phải khiến Thanh ngả trên người Mỹ-Hằng. Thanh cố gắng giữ người ngồi cho vững, Mỹ-Hằng bảo Thanh:

    - Ông tài này chạy nhanh qúa, từ nãy giờ, xe nào ông ấy cũng qua mặt.

    Rồi Mỹ-Hằng nói tiếp:

    - Nhưng chị cũng phải mất công lắm mới thuyết phục được Đức. Chị nghĩ, nếu không có ơn soi sáng, không khi nào chị có thể làm Đức thổ lộ điều mà chính chị cũng không thể nào tin, dù chị biết Đức không đặt điều, vì nó quá quan trọng, lại liên quan tới bố chị, người mà chị lúc nào cũng tin tưởng và kính nể. Đức đã không ngần ngại kể từng giai đoạn, từ lúc Đức quen chị, tới lúc có cảm tình và yêu chị. Nhưng vì Đức tin ở mình, tin ở sự bền tâm nên Đức tưởng chần chờ cho tới lúc chín mùi và thuận tiện sẽ tỏ tình với chị. Chính vì thế, khi hay tin chị đi tu, Đức đã như người mất hồn, và vì Đức không tin chị có thể bỏ đời sống thế gian với tương lai rực sáng đang chờ đợi, để ẩn mình trong chốn mà Đức nghĩ không khác gì những người làm không công, nhất là lại phục vụ những nơi mà người đời khinh tởm, nào là trại cùi, nhà thương điên, và tất cả những nơi cùng bần trong xã hội.. Vì thế Đức đã tìm đủ cách để làm chị động lòng. Đức đã viết thơ liên tiếp nhưng không một lá thơ hồi âm. Do đó Đức đã tìm đến bố mẹ chị để hỏi thăm chị còn ở nhà dòng, hay đã di chuyển đi nơi khác, thậm chí Đức còn tưởng chị đã ra và cố tình trốn Đức. Ngờ đâu, bố chị đã lợi dụng tình cảm chân tình của Đức đối với chị, nên đã tiếp đãi Đức rất chân tình, con hứa sẽ giúp đỡ, chuyển thơ Đức cho chị, và còn đủ điều. Đức nào ngờ, Đức đã rơi vào bẫy của bố chị. Vì chị biết tính bố của chị, muốn tìm mọi cách để lay chuyển lòng chị không được, nên bề ngoài tỏ ra khuất phục, nhưng trong lòng vẫn chưa chịu buông tha. Chính vì thế, bố đã cố vấn cho Đức đi từ sự cao cả để đánh động lòng chị, sau vì vẫn không thấy thơ trả lời, Đức đổi chiến thuật bằng những lời kết tội điên cuồng xấu sa, miễn là làm cho chị phải trả lời. Ngờ đâu tất cả thư từ đã được mẹ bề-trên, theo lời yêu cầu của chị, đã cất và mãi sau này mới trao cho chị. Thực ra, không phải Đức không yêu chị tha thiết, nhưng chính vì sự tha thiết ấy đã khiến Đức mù quáng và bất chấp, nhất là lại đi cùng xuồng với bố người mình thương thì còn gì bằng.

    Mỹ-Hằng như vẫn còn nghĩ ngợi về chuyện xưa, nên một chút trầm ngâm rồi tiếp:

    - Chị rất buồn khi nghe tới đây. Đức không giấu chị điều gì. Đức cũng không hề trách bố chị, Đức còn tìm cách bào chữa cho bố chị chỉ vì bố chị thương chị quá độ mới làm như vậy. Thực ra chị không phải không hiểu tính bố chị. Một người luôn lấy tiền bạc và danh vọng làm lẽ sống và tiêu chuẩn của cuộc đời. Bố chị cho tới lúc đó vẫn chưa tin chị có thể bỏ tất cả để đi tìm một việc, mà Bố chị nghĩ chị không có thể cam chịu. Nhưng bố chị nào hiểu rằng, tiền bạc thật giới hạn đối với những người đã không còn coi tiền bạc là cứu cánh của cuộc sống. Đồng tiền cũng không thể nào mua được niềm hạnh phúc vĩnh cửu, nếu đồng tiền đó bị nô lệ, và xu hướng không đâu. Bố chị cũng không thể nào hiểu và thông cảm cho chị, là từ những ngày chị không còn giữ tiền là những ngày chị tìm được bình an và hạnh phúc thật. Do đó, chị đã kể cho Đức đời sống của chị sau này. Nhất là chị xác nhận con đường chị đi là con đường duy nhất chị chọn. Chị sẽ không bao giờ thay đổi ý định, ngoại trừ Chúa an bài và không muốn cho chị theo con đường chị đang chọn. Nếu quả việc đó xảy đến, chắc chị sẽ đau khổ và tiếc nuối vô cùng. Mọi việc nhờ Chúa quan phòng. Đức đã thật tình xin lỗi chị về những lời thơ khiếm nhã đã gửi cho chị. Đức cũng xác nhận, sau khi thấy không lay chuyển được chị, Đức đã lay chuyển chính Đức, nên Đức mới tìm được căn bản sống và di chuyển về đây. Hiện Đức và cô giáo dậy cùng trường đang chuẩn bị đính hôn. Chị thở phào và vui mừng khôn xiết. Chị đã làm tuần khấn để đội ơn Đức Mẹ đã phù hộ cho chị.

    Mỹ-Hằng miệng lâm râm, lại nói:

    - Riêng Bạch-Trâm, sau khi nói chuyện với Đức, về Sàigòn, chị tìm đến Sáng, chị họ của Trâm. Sáng cho biết, Trâm đã lo thủ tục xuất ngoại. Em thấy không, cầu nguyện vẫn là liều thuốc thần diệu. Chị phải cám ơn mẹ bề-trên đã cho chị về, nếu không chị sẽ bị lương tâm áy náy cả đời. Hơn nữa, nhờ lần phép đó, bố chị cũng thay đổi hoàn toàn. Chị nhớ, ngày chị trở lại nhà dòng, bố chị chỉ trán chị nói: “Bố chịu thua con”. Ngoài miệng chị chỉ mỉm cười, nhưng trong lòng chị chưa bao giờ vui đến thế, vì từ ngày vào nhà dòng, không ngày nào chị quên cầu nguyện cho bố mẹ chị đừng trọng vật chất, hãy dùng vật chất Chúa ban làm việc phúc đức, vì của cải thế gian này chỉ là của tạm bợ. Dù cho chúng ta có tiền rừng bạc bể thì bao tử chúng ta cũng chỉ chứa được giới hạn số lượng nào đó mà thôi. Thế thì tại sao chúng ta không san sẻ cho người khác, để rồi nếu Chúa có gọi, chúng ta còn được ơn phúc, nếu không náo chúng ta nào có thể mang theo được gì khi rời khỏi chốn trần gian này.

    Thanh ngồi lặng suy tư, một niềm rạo rực của chân lý rực sáng. Ngọn lửa của tình yêu vô tư như tràn lan. Lòng Thanh ngọt lịm trong hân hoan đuợc Chúa chúc phúc, để rồi tối thiểu giờ này, Thanh được ngồi bên Mỹ-Hằng nghe những lời tâm sự chân thành, để thấy mình thật may mắn vì không phải trải qua những thử thách, mà với Thanh thật đầy cam go.

    Bỗng Thanh nhìn ra ngoài cửa kính. Cảnh vật như còn chìm trong hơi sương đang đuổi dài trên ánh nắng mầu hồng chan chứa sự bình yên dịu dàng. Thanh quay lại nhìn Mỹ-Hằng. Một ý định chợt đến:

    - Em nhờ sơ giúp em một việc được không?

    Mỹ-Hằng nhìn Thanh mỉm cười:

    - Dĩ nhiên, miễn điều đó không ngoài sức của chị.

    Thanh lễ phép:

    - Em đâu giám phiền sơ điều gì quá đáng.

    Rồi Thanh cẩn thận xếp lá thơ lại như cũ, rồi bỏ vào hộp nhỏ mà Huy đã gửi cho Thanh, sau đó Thanh ân cần đưa cho Mỹ-Hằng:

    - Em nhờ sơ chuyển lại cho Huy, xin sơ nói là em đã đọc rồi. Em cám ơn Huy đã nghĩ tới em.

    Mỹ-Hằng nhìn Thanh chưa cầm vội, hỏi Thanh:

    - Tại sao em không giữ?

    Nhưng Thanh đã nhanh nhẹn:

    - Em muốn Huy không còn nghĩ tới em. Em đã có tình yêu, em không muốn để Huy tiếp tục hy vọng. Vả lại, em không muốn xé lá thư hay vứt bỏ tình cảm chân thật của Huy dành cho em. Em biết mình mâu thuẫn, nhưng em không thể làm tôi hai chủ, sơ nghĩ có đúng không?

    Mỹ-Hằng đón lá thư từ tay Thanh cẩn thận bỏ vào túi, rồi điềm tĩnh bảo Thanh:

    - Sự gì không dứt khoát cũng khó tạo thành công. Em nghĩ cũng phải. Để chị đưa cho Huy và tìm lời nói khéo cho Huy khỏi buồn, hơn nữa, chị tin Huy là người rất hiểu biết, Huy sẽ đón nhận được thực thể. Vì thực ra, nhà dòng cũng muốn, khi em đã là một đệ-tử sinh, thì những bâng khuâng tình cảm thế gian không còn làm em phải xao lãng. Từ xưa, tình cảm trai gái vẫn luân mang một sắc thái khó hiểu, nhưng không có nghĩa là chúng ta không thể giải quyết, nếu chúng ta thật tâm. Như bản thân chị, chị chưa bao giờ phủ nhận tình yêu, mà chị chỉ cố giữ tình yêu phát triển đúng môi trường của mình đang sống. Nhiều lúc chị thường bảo mình: “Tình yêu trai gái có phải là một sự phức tạp được kết hợp giữa ánh sáng và bóng tối, và tùy sự chấp nhận của chúng ta để, có thể là một bầu trời rực sáng, hay sẽ chìm trong bóng đêm dầy đặc”. Do đó, sự đón nhận tình cảm tự nó không là một điều đáng trách và sai trái, nếu chúng ta biết đón nhận nó như là một ân huệ Chúa ban. Nhiều người lầm tưởng những người nữ-tu khi đã chấp nhận đời sống tu hành thì không còn có quyền yêu đương, chị nghĩ không hẳn vậy. Những nữ-tu vẫn có tình cảm, và vẫn có những thương yêu, chỉ khác là phải biết thăng hoa tình yêu của mình để thánh hoá bản thân và ngay cả người mình yêu. Vì Chúa không bao giờ cấm đoán con người ta phải xa lánh tình yêu, mà Chúa chỉ đòi hỏi là hãy yêu trong thánh thiện. Vì thế, trả lại thơ Huy, chị biết không phải là em cắt đứt tình cảm với Huy, mà em chỉ muốn xác nhận một tình cảm mới, là hãy yêu nhau trong lời cầu nguyện, nếu không, chị nghĩ em sẽ chẳng giữ bức ảnh và sợi dây chuyền của Huy tặng em phải không? Điều mà chị tin tưởng nơi em, là em có can đảm lãnh nhận, để nhờ đó em biết em và soi tỏ được lòng em lúc này.

    Thanh nghĩ, Thanh phải cám ơn Mỹ-Hằng thật nhìều, nên Thanh tha thiết:

    - Em đã thật may mắn được sơ hy sinh ngày nghỉ để dẫn em đi hôm nay. Vì nếu không có sơ, em khó lòng được nghe những lời chân tình và qúy giá thế này. Em hứa sẽ hết mình tu đức để không chỉ bố mẹ em, cha xứ mà cả sơ được yên lòng.

    Nhưng Mỹ-Hằng đã khéo léo:

    - Em phải nói cho chính em yên lòng chứ?

    Thanh hiểu ý nên cũng mỉm cười:

    - Vâng.

    Vừa lúc đó, xe dừng rước khách. Vài em nhỏ quần áo rách rưới xô nhau đến sát cửa kính xe mời hàng. Thanh quay qua Mỹ-Hằng, nhưng thấy Mỹ-Hằng đang chăm chú nhìn một em bé gái đầu tóc rối bời trong chiếc áo mầu nâu rách nát, đang cố gắng len lỏi qua những người bạn với đôi nạng gỗ thật thê lương. Bất giác Mỹ-Hằng như rớm nước mắt bảo Thanh:

    - Nước mình đã nghèo, chiến tranh còn tàn khốc giết chết bao tâm hồn trẻ thơ. Em hãy nhìn, đây chỉ là một trong hàng triệu triệu hình ảnh tan thương khác. Những đứa trẻ đáng lẽ đang tuổi cắp sách đến trường thì đã phải vất vào cuộc đời bằng những hôi tanh chán chường. Vì thế sao chúng ta có thể ngồi yên. Chị nghĩ, con người cần cởi mở và thương yêu nhau nhiều hơn để chia sẻ lẫn cho nhau từ miếng ăn manh áo, vì Chúa đã chẳng nói: “ Nếu ai nói thương ta, mà không thương anh em mình, là những kẻ nói dối”. Mỗi lần chị qua đây, lòng chị càng nặng niềm tâm sự. Do đó, chị ao ước một này nào đó được phép mẹ bề-trên cho chị đi săn sóc những người bệnh hoạn ngặt nghèo như trại cùi, hay những người tê liệt kinh niên. Chị đã xin mẹ bề-trên nhiều lần, nhưng hình như mẹ bề-trên muốn trái ý chị để tôi luyện đức vâng lời của chị.

    Nói tới đây, Thanh thấy Mỹ-Hằng rơm rớm nước mắt. Bỗng mắt Thanh cũng cay cay, Thanh chợt nhớ: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Mỹ-Hằng đã vừa đốt cho Thanh một ngọn lửa mới, ngọn nến của tình yêu tha nhân...

     

     

    (Còn tiếp) 

     

     

    (11/10/2014)
  • TTVDDT 19 - Phần 14
    TTVDDT 19 - Phần 14

     

     

    Text Box: Trang           Truyện dài  
                 
                     (Đăng liên tiếp nhiều kỳ)
 

     

     

     

     

     

    Tìm Nhau Từ Thuở, Truyện Dài của Xuân Vinh

    Lời Giới Thiệu : Của Doãn Quốc Sỹ

    Điểm : của Tạ Xuân Thạc

     

    Từ quyển 15. Tuyển Tập Đồng Tâm (TTĐT 15). bắt đầu đăng tải truyện dài mới nhất của GS NGUYỄN XUÂN VINH, Bút hiệu Xuân Vinh do nxb VĐĐT xuất bản (2008)

     

    TÌM NHAU TỪ THUỞ

     

    Lời Giới Thiệu: Của Doãn Quốc Sỹ

    Điểm sách: của Tạ Xuân Thạc

    Ảnh bìa: Hoạ phẩm của Doãn Quốc Vinh

     

    ÎÍ

    Lời giới thiệu của Nhà văn Doãn Quốc Sỹ

    Tôi đọc câu truyện tình Tìm Nhau Từ Thuở của nhà văn Xuân Vinh khiến tâm hồn trẻ trung hơn. Người ta bảo rằng tuổi trẻ hướng về tương lai, người cao niên hướng về dĩ vãng. Có phải vì vậy mà Xuân Vinh đã tạo dựng cốt truyện và dùng văn phong của thế hệ trăng tròn? Tôi xin mời bạn đọc để thấy rằng những gì mà tác giả gói ghém trong hơn hai trăm trang sách này. Nhà văn Xuân Vinh không ai khác hơn là người bạn dạy toán tại trường Chu Văn An năm nào. Anh đi về kỹ thuật không gian và toán học, nhưng lại rất thích thú với văn chương. Phải nói là anh có đam mê với những gì mà anh đi theo. Anh có đam mê toán học, cũng như đam mê viết văn. Theo triết gia Jean Paul Sartre lý luận về sự đam mê trong khái niệm con người được tự do theo đuổi: "L’homme est une passion inutile", con người là nỗi đam mê vô ích. Tôi không cho là đam mê của Xuân Vinh vô ích đâu.

    Trong câu truyện mà bạn sắp đọc ở đây Xuân Vinh đưa bạn vào vườn hồng của thiên đường tình ái. Phong một thanh niên di cư một mình vào Nam, Phong gặp lại Vũ, người bạn cũ ở Hà Nội di cư với cả gia đình vào Sài Gòn. Vũ có người em gái út xinh xắn là Phương Vân. Sự gặp gỡ lại gia đình Vũ là duyên tiền định nối kết sự liên hệ yêu đương giữa hai người. Chàng vì tương lai nên đã xuất ngoại du học tại Pháp rồi trở về giúp nước, rồi lại sang Mỹ học thêm. Phương Vân ở tại xứ vẫn kiên nhẫn theo đuổi, chung thủy với mối tình lý tưởng, được ấp ủ qua nhiều lá thơ. Phần Phong ở xứ ngoài nhiều cám dỗ bởi đời sống vật chất, những xứ sở mà vấn đề tự do luyến ái, quan niệm cuộc sống buông thả. Sau thế chiến thứ hai thì sự chào đời của chủ nghĩa hiện sinh qua đầy rẫy sách báo mang tính hiện sinh quyến rũ lan tràn khắp phố phường như khu Saint-Germain, có nhiều nhà hát và các quán cà phê nổi tiếng với sự hiện diện của giới nhà văn và nghệ sĩ, nơi có quán Café de Flore được xem như tụ điểm của Chủ nghĩa hiện sinh, nơi chốn mà nhóm các nhà triết học như Jean Paul Sartre và Simone de Beauvoir thường hội họp. Người ta buông thả theo lối sống mới nghe nhạc Jazz lãng mạn, với mái tóc xõa dài, quần ống túm và ăn nói chào nhau phóng túng. Lối sống mới đó là một huyền thoại của hiện sinh. Kinh thành ánh sáng Paris muôn thuở vẫn vui như mở hội. Trong những cái vui buông thả hiện sinh đó đã không là một hấp lực khiến Phong xao lãng những mục đích của mình, người thanh niên Việt Nam vẫn âm thầm học hỏi, vẫn giữ liên lạc với Phương Vân. Trong muôn vàn cạm bẫy của đời sống, cốt truyện cho thấy những thử thách Phong như Mai Anh tại Boulder hay Hồng Vân tại Berkeley. Chàng là giáo sư dạy học tại cái nôi của phong trào phản chiến, phong trào hippies thiên dục tính, sống bừa bãi, mà Woodstock là một ví dụ điển hình. Để rồi hình ảnh của Phương Vân tại quê nhà là sự chọn lựa duy nhất của Phong mà cốt truyện đã cho thấy qua nhiều tiểu tiết được mô tả qua văn hay thơ. Mỗi nhà văn chọn cho mình những đam mê văn học, dù khép kín hay phóng khoáng, dù sự luyến ái tự do được diễn đạt theo phương Tây có những ngòi bút vang danh như Tennessee Williams, William Faulkner hay Francoise Sagan, nhưng cuốn sách này, trước tôi đây là một mối tình quê hương, ẩn chứa những tư tưởng phương Đông mà tôi mến yêu. Xin được vinh dự giới thiệu tác phẩm Tìm Nhau Từ Thuở của nhà văn Xuân Vinh. Doãn Quốc Sỹ

    Điểm sách

    TÌM NHAU TỪ THUỞ

    tác giả Xuân Vinh của Nhà văn Tạ Xuân Thạc

     

    Theo bản thảo thì "Tìm Nhau Từ Thuở" là một truyện tình. Phong, một nhân vật Nam vốn tài giỏi về nhiều phương diện, nhưng anh vẫn phải chật vật, vấn vương vì cô gái bé nhỏ là Phương Vân. Điều thực dễ hiểu vì đã là con người, nhất là người bình thường không ai tránh khỏi sự rung động con tim. Quân Vương như Trụ Vương say mê Đát Kỷ, Đường Minh Hoàng đem lòng luyến ái

    Dương Quý Phi.

    Tác giả Xuân Vinh đã khéo léo bố cục cốt truyện khi chàng trai hàn vi từ miền Bắc di cư vào miền Nam đơn chiếc rồi gặp lại bạn cũ tại Hà Nội là Vũ, và gia đình Vũ như chiếc nôi tinh thần cho Phong khi mà cuộc sống chàng rất đơn độc tại vùng đất mới. Từ gia đình Vũ, Phong quen với cô em út là Phương Vân, tức Mây. Mây chịu ơn chỉ dẫn bài vở của Phong, từ những liên hệ có tính cách học vấn đó Mây như phiêu lưu vào cơn say tình ái. Khi Vũ liên tục chạy theo đường công danh từ trong xứ, rồi đến khi Phong xuất ngoại du học bên Âu Châu, Mỹ Châu, tình yêu hai người được phát triển theo từng cánh thư vượt đại dương. Trong khi Phong gặt hái nhiều thành tích học vấn sáng chói, bằng cấp hiển vinh, rồi chàng làm giáo sư dạy tại Đại học tại Mỹ. Tuy vậy trong diễn trình tình yêu, Phong bị thử thách với những hoa hồng như cô sinh viên Y tá điều dưỡng Mai Anh tại thành phố Boulder hoặc cô Tham vụ Ngoại giao Hồng Vân. Đây là những kiều nữ thùy mị như Mai Anh và thông minh như Hồng Vân, cả hai có thể tạo sự lay động cho nỗi giằng co tâm trí nhất thời của chàng, nhưng họ không thay đổi được con tim, những gần gũi cần có của đôi tình nhân. Để rồi nước chảy về cội, tình yêu thực sự cuối cùng đã đến với Phong và Phương Vân ở chương cuối 14.

     

    Độc giả sẽ thấy nhiều bức thư tình được trao đổi giữa hai người, tình yêu của họ gắn bó qua lời văn hay những vần thơ, chữ nghĩa có khi vui, cũng như có lúc buồn. Mây có đôi mắt to và tròn, chính điều này khiến Phong dâng nguồn cảm tác thi phú như sau:

    Trời Sao Hình em ta giữ vẹn toàn, Phong tư còn đó ngỡ ngàng chiêm bao. Mắt em là cả trời sao, Gói hồn ta trọn đưa vào thiên thu. Có lần ở Colorado, Phong nhớ đôi mắt Mây mà chàng ví von như mắt đẹp hồ thu qua bài: Mắt Biếc Hồ Thu Mắt em là cả hồ thu, Tiếng em thánh thót như ru men tình. Ước sao chỉ có đôi mình. Nhưng đâu chỉ có chúng mình ước ao! Đêm nào ngước mắt trông sao, Cùng em, mơ ước nơi nào viễn du. Nhìn em, đáy mắt hồ thu, Anh quên giấc mộng viễn du nơi nào. Bâng khuâng gió lọt song đào, Nhớ đôi mắt biếc, hôm nào tương tư. Đường trần một cõi hoang vu, Đi hoài mới biết thiên thu nhớ người. Nơi đây có núi cùng đồi, Có con suối nhỏ, da trời mầu xanh. Em ngồi sõa tóc bên mành, Bài thơ anh mới viết thành tặng em.

    Tóm lại tác phẩm "Tìm Nhau Từ Thuở", khi đọc qua tôi cảm nhận rằng văn phong mà tác giả Xuân Vinh, dầu rằng ông là một khoa học gia lỗi lạc với nhiều số liệu toán học không gian vẫn đầy ắp trong tiềm thức của ông, nhưng khi viết văn ông đã không bị những giới hạn khô cằn bên kỹ thuật chi phối, trái lại lối văn ông viết rất linh hoạt, cảm thông, mô tả một tình yêu thương chan chứa, sự làm dáng hay thích nuông chiều của người con gái ở tuổi yêu đương. Cốt cách yêu thương của "cô bé" tiểu thư kín đáo chung thủy mà không xàm xỡ. Tác giả đã thành công về lãnh vực tả chân, sành về tâm lý của người tình nhỏ tuổi, và sự liên hệ tình

    cảm thủy chung chỉ với một người.

    Mời bạn, hãy đọc hết tác phẩm “Tìm Nhau Từ Thuở” của tác giả Xuân Vinh để bằng một cách nào đó cảm nhận rằng đời bạn cũng có một chút gì bàng bạc tâm tình đồng cảm với tác phẩm này vì qua đó, tác giả Xuân Vinh đã tôn vinh một tình yêu chung thủy và

    một tình yêu vĩnh cửu cao đẹp. Tạ Xuân Thạc

                

    Chương 5 (tiếp theo)

     

    Không Gian Buồn Nỗi Nhớ

     

    Sáng nay, tự dưng Phương Vân thấy buồn, gặp ngày cuối tuần mà mấy đứa bạn cùng lớp tới nhà rủ đi ciné, coi một phim mới nhất của Esther Williams, có nhiều màn vũ tuyệt diệu ở dưới nước, mà cô bé từ chối, viện cớ phải làm ít việc nhà. Sự thực suốt cả buổi sáng, cô bé chỉ ngồi thẫn thờ một mình ở bàn học, và đọc lại mấy bức thư cũ của anh, những bức thư mà bao giờ anh cũng bắt đầu bằng những chữ gửi “Mây thương mến”, anh dùng cái tên “Mây”, nghe bay lang thang nhẹ nhàng mà gia đình bao giờ cũng dùng để gọi cô bé thay cho cái tên văn vẻ hơn là Phương Vân, có nghĩa là “Áng Mây Lành”. Hôm nay, đúng là ngày mà một năm trước đây Phong rời nước để đi Hoa Kỳ du học. Mây còn nhớ, buổi tiễn anh đi, như chuyện mới xẩy ra ngày hôm qua. Ngày ấy cũng là một ngày đầu thu, trời Sài Gòn vẫn nóng, cái nóng quanh năm của miền Nam, nhưng vào một buổi sáng tạnh ráo, hơi có gió mát từ bờ sông thổi lại, bầu không khí trở nên trong lành, lý ra lòng người phải thấy phấn khởi, nhưng khi đi theo Vũ, là anh của cô bé, ra phi trường để tiễn Phong đi, cô lại thấy lòng nặng chĩu sầu tư. Lần đầu tiên trong đời, Mây cảm nhận thấy nỗi buồn xâu đậm của sự chia ly.

    Phi cảng Tân Sơn Nhất đã dành một phòng VIP để nhân viên trong Bộ Giao Thông Công Chánh và thân hữu tới tiễn Phong lên đường. Mây ngồi một mình ở một cái bàn ở góc buồng với ly nước cam anh đã thân hành mang lại, nhưng cô bé không buồn động đến. Thỉnh thoảng cô lại nhìn về phía Phong đang đứng nói chuyện với anh Vũ và những nhân viên đã ra tiễn chàng. Họ đều là những người lớn tuổi, những công chức, đã có một chút địa vị nào ở trong Bộ. Tự dưng Mây thấy mình thật là lẻ loi ở trong căn phòng này. Nếu trong lòng Phong có vương nỗi buồn của người ra đi thì Mây thấy anh cũng không lộ ra ngoài, vì Phong luôn luôn cười nói với mọi người. Cô nghĩ có lẽ là anh vui lắm vì sẽ được xa cô học trò hay bẻ hoẹ, hay giận dỗi, để bắt anh phải chiều chuộng. Anh xưa nay là con người Mây thấy dễ thương, dễ mến, mà giờ đây cô thấy anh thật là đáng ghét. Mây bậm môi, và tự nhủ thầm là sẽ để cho anh đi luôn, và không phải bận tâm nghĩ đến anh nữa. Thật ra trong lúc này lòng Phong cũng bồn chồn vì chàng không muốn để Mây ngồi một mình, lạc lõng trong căn phòng đông người ồn ào ra tiễn chàng. Với mỗi người tới để chúc chàng thượng lộ bình an, thâu gặt được kết quả mỹ mãn nơi xứ người, Phong đều có một câu cám ơn thật ân cần, và đồng thời cũng nhắc đến một kỷ niệm riêng trong thời gian cùng làm việc với nhau. Phong có một trí nhớ thật đặc biệt, giúp cho chàng thuộc tên từng ngưòi và công việc làm của nhân viên ấy để mỗi khi gặp, chàng lại nhắc đến và có một câu hỏi han khen ngợi, hay một lời nói khuyến khích, nên ngoài sự được người mến mộ vì tài năng, Phong cũng chiếm được cảm tình của những người cộng sự trong hai năm qua. Giờ đây, đứng trong phòng kính trên tầng hai của đại sảnh ở phi cảng, và nhìn xuống sân bay, nơi có chiếc phi cơ Boeing 707, mà chàng sẽ đi, đang nằm chờ đợi, và phía đằng xa phi đạo được mở rộng chạy dài, Phong có thể nhìn thấy một phần nào những công việc chàng đã thực hiện trong hai năm qua, kể từ ngày chàng ở Pháp về để nhận một chức vụ Tổng giám đốc với Bộ Công Chánh. Trong kế hoạch cải tổ lại toàn bộ sự giao thông thủy bộ và hàng không cho đất nước, việc thay thế các phi công Pháp bằng phi công Việt luân chuyển sang từ Không quân VN, Phong đã gặp chống đối nhiều nhất. Nhưng chàng cũng đã thực hiện được kế hoạch đề ra. Giờ đây hai hãng hàng không lớn của ngoại quốc là Air France và Pan American Airways đã không còn được hưởng độc quyền bay từ ngoại quốc vào Việt Nam như trước. Hàng không quốc gia Air VietNam cũng đã được tách ra biệt lập, khỏi cái bóng lâu năm của công ty hàng không Pháp. Cùng một lúc, những hệ thống giao thông thủy bộ cũng được cải tiến giúp cho sự chuyển vận hàng hoá giữa các miền của đất nước được nhanh chóng. Phong thuộc vào đám những kỹ sư trẻ thật lỗi lạc, tốt nghiệp từ những Trường lớn như Polytechnique và Centrale ở Pháp nên những chương trình canh tân chàng đưa ra thường hay gặp những chống đối từ phe thủ cựu, gồm các vị kỹ sư già. Cấp trên của chàng lại lo nhiều về chính trị, chỉ cốt giữ sao được địa vị của mình và không dám quyết định những cải tổ quan trọng, nên dù đã cố gắng rất nhiều và hết sức mềm dẻo để gom ý kiến của tất cả những người nắm giữ những Nha Sở quan trọng cho những kế hoạch chàng đưa ra, Phong cũng đã chỉ thực hiện được một phần nào những mục tiêu chàng muốn đạt được. Sau hai năm kiên trì làm việc, Phong đã xin từ chức và nhận một học bổng của Asia Foundation để sang Hoa Kỳ học thêm về Kỹ thuật và Quản trị Hành chánh. Chuyến đi này của Phong đã được những người bạn Mỹ, là những kỹ sư cao cấp đã được cử sang để làm việc với chàng ở Bộ Công Chánh, thu xếp thật chu đáo từ nửa năm nay. Chàng thấy cần phải đi ngoại quốc để học hỏi thêm và nhất là để liên kết với những chuyên gia người Việt ở đủ mọi ngành còn đang sống ở nhiều nước tiền tiến mà chưa chịu trở về làm việc để kiến thiết và canh tân quê hương. Phong chỉ hỏi thêm ý kiến và bàn với Vũ, là người bạn thiết, chàng luôn luôn giãi bầy tâm sự, còn ngoài ra những người khác trong gia đình Vũ chỉ biết tin truớc khi chàng đi chừng nửa tháng. Cô bé là người sau cùng biết tin anh ra đi, mà cũng chỉ qua chị Trinh báo cho biết. Mây đã cố ngăn giọt lệ muốn trào ra khi được tin này, và cô bé chỉ nằm gục xuống giường khóc nức nở khi chị đã xuống dưới nhà. Thì ra anh Phong đã chỉ coi cô bé như là cô em út của người bạn, thỉnh thoảng anh lại bàn việc với anh Vũ mà cô đem bài ra hỏi thì anh chỉ dẫn qua loa cho mà thôi, cốt để cô bé đi chỗ khác cho người lớn nói chuyện.

    ÎÍ

    Anh Phong đã là bạn thân của gia đình có lẽ tới gần mười năm, nhưng thực sự cô bé chỉ mới quen với anh cách đây hai năm khi anh học xong và từ Pháp trở về làm việc theo lời mời của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Khi còn bé, Mây không biết nhiều về anh, chỉ nghe những chuyện nói về anh như là huyền thoại. Các anh chị của cô bé đã "ca" anh quá xá, nào là anh học rất giỏi, nào là anh đã bắt bẻ bọn kỹ sư Tây, bắt phải vẽ lại hoạ đồ những công trình anh tham gia, nào là miền Bắc đã hết sức ve vãn anh, nhưng anh là người nhiệt tâm với quốc gia, và muốn đem sức mình đóng góp vào sự xây dựng đất nước cho phú cường nên anh và một số bè bạn đã trở về quê hương làm việc. Ngay cả Bố là người nghiêm nghị, ít nói mà, một lần với các con trong bữa ăn, ông đã phải dùng những chữ “quốc gia chi bảo” để khen tặng anh. Mới đầu gặp anh, cô bé thấy hơi sờ sợ, chỉ lí nhí chào trong miệng rồi khép nép vào nhà trong, mặc dầu các anh chị đã kể lại rằng khi xưa lúc Mây còn bé tý hon, và anh chưa đi Pháp học, có lần anh lại nhà chơi gặp cô bé khóc lóc về điều gì không được như ý, anh đã phải bế lên lòng dỗ dành. Hôm anh đến thăm gia đình lần đầu tiên, sau khi từ Pháp về nhận chức vụ được giao phó, vì được báo trước nên cả gia đình đã hiện diện đầy đủ, chỉ thiếu có Bố hôm trước có việc gấp phải sang HongKong vì công việc kinh doanh. Và như mọi việc quan trọng khác trong gia đình, Mây đã không được cho biết trước nên sáng hôm đó cô đã đi xem ciné xuất đồng hạng với các bạn Gia Long để lúc về nhà thấy mọi người đã tề tựu đông đủ quanh bàn ăn chỉ còn đợi cô bé về mới bắt đầu. Hôm đó Mây có cảm giác như là lần đầu tiên được gặp Phong, nhưng trong thâm tâm, giờ đây cô biết rất rõ về anh qua những câu chuyện Vũ kể lại cho các em nghe. Trong những ngày ở Pháp, mới đầu là đi học, và về sau này làm cho kỹ nghệ hàng không Âu châu, Phong thường viết thư về cho Vũ như người bạn thiết tâm sự và cho chàng biết công việc làm hiện tại của mình. Cô bé thực sự biết là mình có một người anh xa vắng khi được chị Trinh cho biết rằng: “Anh Phong gửi lời hỏi thăm Mây và muốn biết cô bé lớn chừng nào rồi và có còn hay khóc nữa không?”. Câu thăm hỏi của anh từ đó được nhắc lại đều đặn, mỗi khi Phong viết thư về cho gia đình Vũ làm Mây bắt đầu để ý đến Phong, và hình ảnh của anh cũng dần dần hiện ra trong trí óc non nớt của cô bé. Những mẩu chuyện về anh, những thành tích về học hành cũng như trong công việc làm đưa về từ phía trời Tây, qua những lá thư Phong viết về cho gia đình cô bé, đã như những lớp thiếp vàng óng ánh in dần vào trí não của Mây, và trước khi anh về nước cô bé đã hình dung được người mà gia đình cô hầu như nhắc đến hàng ngày, người ấy phải là con người tài trí tuyệt vời. Cô bé mong mỏi có ngày được gặp và biết thêm về anh.

     

    Cô nữ sinh tuổi vừa trăng tròn, vào hôm nay, một sáng đầu thu, ngồi trong phòng riêng và nhìn qua khung cửa xuống vườn sau nhà, lần đầu tiên cô bé thực sự biết thế nào là buồn khi phải xa nhau. Thế là anh đã đi rồi, vừa tròn một năm. Cuộc đời của anh, lúc nào cũng như là kết hợp bởi những chuyến đi. Lần đầu tiên anh từ giã gia đình để đi Pháp học thì cô bé lúc đó chỉ thực sự là một con bé. Mây chỉ nhớ mơ hồ rằng lúc đó ở nhà có một ông anh đi học xa như các anh chị thường nói đến. Rồi có một ngày những bức thư anh gửi về có kèm theo một câu hỏi thăm cô bé, Mây mới ngỡ ngàng biết đến anh như là một ngưòi bạn của anh Vũ, và cũng là người thân trong gia đình. Tuy ngày anh về, Phương Vân không ra đón anh ở phi trường, nhưng cô nóng lòng chờ ngày anh đến thăm nhà. Không ngờ hôm Phong đến, Mây lại không đuợc biết trước nên cô đã không có dịp mặc chiếc áo màu tím cô ưng ý nhất và đã dành sẵn cho dịp này. Mây không thể nào quên được hôm đó khi vừa bước chân vào trong nhà, thấy mọi người cùng ngồi sẵn đợi mình, cô bé sượng sùng cúi đầu chào rồi đi thẳng vào nhà trong. Mây ngồi xuống ghế, đưa tay đặt lên ngực cho đỡ hồi hộp, cô nghĩ giận mình đã không về sớm một chút để thay áo, mà nay cứ phải để nguyên hình không một chút trang điểm trên người để ra cho anh coi là cô bé khi xưa nay đã lớn chừng nào. Khi trở vào phòng ăn, thấy khuôn mặt rạng rỡ của Phong tươi cười hỏi mình, thật Mây không nhớ anh đã nói gì. Nhưng có một điều Mây tin chắc là nếu anh hỏi trông anh có khác như cô đã nghĩ hay không thì cô sẽ trả lời rằng tuy chỉ được nghe các anh chị nói về anh, nhưng lúc nào Mây cũng coi anh như là một người thân trong gia đình, và tình cảm này chắc chắn sẽ không thay đổi với tháng năm. Sau nhiều năm xa vắng, Phong đã trở về quê hương với tâm nguyện là đem hết tài trí của mình ra phục vụ cho quốc gia và dân tộc. Trong thời gian này, anh hay tới thăm gia đình Vũ vào dịp cuối tuần. Thường thì anh hay nói chuyện với anh Vũ và đôi khi với Bố. Nhưng anh là người tính tình vui vẻ dễ thân cận nên sau khi gặp anh vài lần, được nghe anh kể chuyện đời sống bên xứ người, cô bé không còn thấy anh như là một người khách xa lạ nữa. Ý tưởng về anh như là một thần tượng siêu việt cũng thay đổi dần dần, vì nay với cô bé Phong đã là một người hiện thực, và Mây chỉ thấy ở anh là một con người có nhiều tài năng và đầy nhiệt huyết, đáng để Mây trân kính. Rồi một lần, gặp một luận đề giảng văn cô giáo ra cho học sinh làm ở trường thật khó, ông anh Vũ của cô bé cũng không giải nghĩa nổi, Mây phải đánh liều tới cầu cứu cái ông anh từng học ở bên Tây này trở về, thì cô lại khám phá thêm được một điều mới lạ là anh Phong quả có một bồ chữ Hán Việt trong người. Anh lại có tài giảng bài thật rõ ràng, và Mây thấy là anh thật hiền, nên cô bé đã thầm ao ước rằng nếu được là học trò của anh thì chắc tương lai sẽ sáng sủa tưng bừng lắm. Từ đó nhờ có anh chỉ dẫn thêm mà từ một nữ sinh theo học trường Tây nay chuyển sang học ở Gia Long, theo chương trình Việt, các bài luận văn của Mây lại thường hay được chấm nhất ở trong lớp. Có một hôm anh hỏi Mây về những môn Toán theo học thì cô bé phải thú thực rằng chỉ luôn luôn được ở mức trung bình. Mây còn nhớ là hôm đó anh Phong đã cười ngất mà nói: "Nhà có hai ông anh thì một ông là cử nhân toán và một ông là kỹ sư kiến tạo mà để cô em thân thương chỉ có trình độ toán pháp ở chỗ trung trung mà thôi". Cô bé ngượng đỏ mặt và chỉ hứ anh một tiếng rồi sau đó tránh gặp Phong suốt cả một tuần lễ.

    Mây còn nhớ rõ giờ phút chia tay với Phong ở phi trường. Anh đã bắt tay từ biệt những người đưa tiễn và cả anh Vũ cũng đã xuống dưới lầu, chỉ còn lại cô bé ngồi yên lặng trước ly nước cam cô chưa đụng tới. Anh đã tới ngồi xuống bên cạnh, và cầm lấy tay cô bé ân cần dặn dò ở nhà cố gắng chăm học, anh chỉ đi ba năm rồi sẽ trở về. Lúc đó Mây đã vào đại học, và chắc không còn cần đến anh để kèm học nữa, anh đã nói như vậy. Cô bé đã cố ghìm lại hai hàng nước mắt như muốn trào ra. Thì ra trong hai năm vừa qua, anh đã chỉ coi cô như là một cô học trò nhỏ bé, đã dốt cả văn lại dốt cả toán, và anh đã có công rèn luyện đạt tới trình độ có thể qua được những khoá thi tú tài trong những năm tới để rồi cô bé vào đại học, kiếm được một văn bằng chuyên môn nào đó, về dược khoa hay sư phạm và có một gia đình yên ấm, sống cuộc đời phong lưu nhàn hạ. Mây nghĩ đó là ước vọng của anh, cho cô. Và chỉ có thế thôi. Vậy thì những lần cô bé ngồi nghe anh kể những cảnh lạ đường xa, những nơi anh đã đặt chân tới, những đêm không trăng anh ngồi trên bãi biển Nice ở miền Nam nước Pháp, nghĩ đến không gian xa vời, đến những bí hiểm trong vũ trụ, đến thân phận con người nhỏ bé, anh đã kể cho Mây nghe những mơ ước của anh, và cô bé đã như được ru trong mộng, cô đã cảm thấy những gì bao la bát ngát trong cuộc đời trôi nổi của anh. Nhìn bề ngoài, ai cũng thấy anh là người vui vẻ dễ gây cảm tình, nhưng khi nghe anh tâm sự, Mây như cảm thông được nỗi cô đơn của anh. Mây chưa bao giờ thấy anh nhắc tới những cô bạn gái mà Mây tin chắc thế nào anh cũng đã có trong những năm ở bên Pháp. Và còn nhiều lần khác nữa, nghe anh kể chuyện cô đã tưởng như được đi cùng anh tới những nơi ở góc biển chân trời, chỉ có hai người, cô nghe anh nói chuyện thật say mê, cuộc đời tươi đẹp, nhẹ nhàng như chỉ có gió thoảng mây bay. Những lúc đó Mây không nghĩ mình chỉ là cô học trò bé nhỏ của anh nữa, mà là người để nghe anh tâm sự. Cô biết là chỉ với mình, anh mới nói như vậy, vì mỗi lần cô bé thấy anh và anh Vũ nói chuyện với nhau thì hai người cùng hăng hái trình bầy quan điểm của mình, đôi khi như không ai muốn nhường ai. Còn với những người khác trong gia đình thì chỉ là những câu chuyện thường tình trong xã hội đương thời. Cô thấy cả nhà ai cũng qúy mến anh, nhưng riêng với Mây thì tình cảm của cô đối với anh thật là đặc biệt. Nhiều lúc Mây thấy như tự mâu thuẫn với chính mình. Cô thấy nếu tự coi mình như là học trò của anh thì sẽ phải sợ anh mắng là dốt, là lười không chịu làm bài, gặp anh là phải khép nép, thưa gửi. Nhưng sự thực lại trái hẳn, vì đối với Mây anh lại hết sức cưng chiều. Cô là người hay dễ giận hờn, và đã nhiều lần anh phải dỗ ngọt cho cô bé tươi lại nét mặt. Điều này lại là một sự bí mật được giữ kín giữa hai người vì Mây rất sợ ông anh cả trong nhà. Nếu Vũ biết được Mây hay nhõng nhẽo và làm cho Phong phải bận tâm thì lập tức anh sẽ ra lệnh ngay rằng từ nay Mây không được đem bài tới hỏi để quấy rầy Phong nữa. Nếu thấy cần thì Vũ sẽ cho cô bé đi học những lớp luyện thi, mà điều này đối với Mây thì thực là trần ai khổ sở vì cô đã được mấy con bạn cùng lớp cho biết là những lớp học này đều đông đúc, ngột ngạt, và mở vào những giờ giấc không thuận tiện chút nào, đã ghi tên học thì không còn thì giờ đâu mà đi dạo phố và coi ciné nữa. Mây còn nhớ tình huống lúc cùng anh chia tay, khi đã đến giờ có một nhân viên an ninh phi trường tới hướng dẫn Phong xuống thang lầu và đi một cửa riêng để ra sân bay lên phi cơ trước những hành khách thường. Dù cho giờ đây chàng không còn giữ một chức vụ gì, nhưng Nha Hàng Không Dân Sự đã dành cho Phong một sự tiễn đưa đặc biệt như là một trân trọng cho một người đã đưa lại sự độc lập và thịnh vượng cho nền Hàng Không Việt Nam. Khi thấy Phong đứng dậy, Mây biết đây là giờ phút phân ly, với một người mà cho tới nay cô cũng không biết là coi như một người anh thân thương hay là một người thầy qúy trọng. Mây đưa vội cho anh gói quà cô đã mang theo để anh giữ làm kỷ vật khi xa nhà, và xoay người lại không đối diện với anh nữa, vì cô biết là mình sẽ khóc oà lên nếu phải nhìn anh bước xuống thang lầu. Hồi lâu, khi thấy chung quanh mình đã trở nên yên tĩnh, Mây quay lại và chợt nhớ ra điều gì, cô chạy vụt tới khung kính để vừa kịp nhìn thấy anh bước mấy bậc thang cuối cùng để vào chiếc phi cơ khổng lồ sẽ đưa anh tới Hoa Kỳ cách xa quê hương hàng vạn dậm. Trước khi Phong vào cửa phi cơ, Mây thấy anh ngần ngừ rồi quay người lại đưa tay vẫy chào những người đưa tiễn còn đứng dưới sân và trong khoảnh khắc anh thoáng nhìn về phía lầu nơi cô đang đứng. Mây thấy như nghẹn thở, vội chớp mắt và cúi đầu nhìn xuống, nhưng khi ngửng lên thì anh đã bước vào trong thân tầu. Thế là anh đi rồi. Người về như chớp nhoáng, người đi cũng vội vàng. Thủa xưa xa xôi khi còn bé thì Phương Vân không nhớ, nhưng nay mới làm quen lại anh, thì anh lại rời nước ra đi. Hôm tiễn anh đi, khi trở về nhà, cô bé nghĩ thầm rằng, đối với mình, anh chỉ như là cơn gió thoảng qua đám mây đang lững lờ trôi, và giờ đây, anh đã đi rồi, gió cũng tiêu tan, để áng mây lành ở lại. Không biết đến bao giờ anh mới trở lại quê hương.                                                    

    ÎÍ

    Hôm nay, ngồi một mình trong phòng vắng lạnh, Phương Vân thấy nhớ anh da diết. Anh đã không đi hẳn, rời khỏi cuộc đời cô, như cô bé đã lo ngại vẩn vơ. Tuy nay anh đã ở xa vời, cách nửa vòng trái cầu nhưng anh vẫn viết thư về, cho mọi người biết tin anh, gia đình cô bé hiện giờ là quyến thuộc của anh vì Phong đã không còn liên hệ với miền Bắc. Ngày đầu tiên khi đã dọn vào căn phòng đại học dành cho chàng, Phong mở gói quà cô bé đã đưa tận tay cho mình thì thấy là một khung ảnh có hình của cô bé khi còn bé tí hon, với đôi mắt thật đen dưới đôi hàng lông mày cong trên khuôn mặt tròn xinh sắn. Kèm theo tấm hình là một miếng giấy nhỏ với hàng chữ viết thật đều, nét mềm mại: “Khi xưa, lúc Mây còn bé được anh chiều hơn bây giờ. Nhìn thấy hình này thì anh nhớ viết thư về cho Mây, nếu không, Mây sẽ nghỉ chơi cho anh biết thân.” Tấm hình của Mây, để trên bàn học, đã luôn luôn nhắc nhở Phong tới gia đình người bạn, mà từ hai năm qua đã luôn luôn hỗ trợ tinh thần chàng. Lớn lên trong hoàn cảnh chiến tranh của đất nước Phong đã như một đám mây trôi theo gió lưu lạc phương trời. Nhưng giờ đây với chàng, gió hình như đã ngừng lại làm mây tụ lại một nơi. Phong đã viết thư về, cho Vũ là người bạn thân thiết đã có nhiều năm giao tình, và cũng vì chàng đã không thể nào quên được đôi mắt đen như vương ngấn lệ của một cô bé đêm nào nắm lấy áo chàng và ngửng đầu lên cầu cứu. Ở nhà, mỗi tháng đôi lần, Vũ vẫn nhận được thư của Phong viết về cho biết tin tức ở nước ngoài, và công việc hiện tại của mình, và Vũ cũng viết sang cho người bạn về tin chiến sự, và đặc biệt về tình hình chính trị ở bên nhà. Là bạn thân lâu ngày tâm sự, Vũ biết là Phong khi ra đi đã tự chọn cho mình một sứ mạng là liên kết với những chuyên gia Việt có tài năng ở hải ngoại, cùng chung một lý tưởng là phục vụ quốc gia và dân tộc, để sau này có dịp sẽ cùng về kiến thiết và canh tân xứ sở thành một nước tự do, dân chủ và thịnh vượng. Trước ngày Phong ra đi, Vũ và một số bạn bè thân thiết và cùng chí hướng đã tổ chức một bữa cơm tiễn đưa và tặng chàng một tấm bảng có khắc bốn câu thơ Gió mây lưu lạc về chưa, Để anh gom lại làm mưa Xuân hồng. Trời xưa, thư kiếm vẫy vùng, Quê hương mở hội, anh hùng là ai? Những lời nhắn của Mây và những câu thơ của bằng hữu đã in vào trong tâm khảm của người đi. Nếu Vũ có niềm tin nào vào Phong thì Mây hoàn toàn không biết. Cô bé chỉ hiểu lờ mờ rằng ông anh của mình là người ủng hộ nhiệt thành những dự định tương lai của Phong, và anh vẫn thường xuyên liên lạc với anh Vũ. Nhưng từ nay Mây không còn phải biết tin của Phong qua các anh chị đã nhận được thư của anh gửi về nữa vì cô bé cũng nhận được thư đều đặn của anh. Bức thư ngắn đầu tiên mà Phong viết cho cô bé đã mở ra một nhịp cầu thông cảm. Và Mây đã dần dần hiểu anh hơn. Tuy anh có nhiều bằng hữu nhưng cô bé vẫn thấy anh là người cô đơn trong tâm tưởng. Có lần anh viết về: “Hôm nay trời ở đây đã cuối thu, lá vàng ngoài song cửa đã bắt đầu rơi rụng. Buổi chiều sau giờ học anh tới phòng ăn rồi mới trở về buồng. Cuối thu và sang đầu đông, trời ở đây tối sớm hơn bên nhà, và theo vết chân người đi tiếng lá kêu sào sạc. Cảnh vật thật là yên tĩnh, chỉ có tiếng chân đi trên lá khô là đưa lại một chút sinh động cho buổi tối trời. Anh dừng chân ở đầu ngõ, tìm hộp thư của mình và thấy lá thư của Mây gửi sang. Đêm nay ngồi đọc thư Mây viết, căn phòng sẽ thêm ấm cúng và anh cũng sẽ thấy bớt cô đơn.” Đọc những thư như thế này cô bé thấy thật thương anh, vì anh đang có một địa vị tốt đẹp ở bên nhà mà chỉ vì muốn sau này có đủ khả năng và nhân tài trợ lực để có thể làm được gì hữu hiệu hơn mà anh phải trở về đời sống sinh viên thật đạm bạc. Nhưng cũng có những thư của anh toàn có chuyện vui, anh viết cho cô bé với giọng ngọt ngào thường lệ. Chị Trinh là người hàng ngày lấy thư vào cho cả nhà vì chị theo học Văn Khoa bao giờ cũng về sớm. Những hôm nhìn thấy cô em có nét mặt tươi vui sau khi đọc thư của Phong gửi về, đôi khi chị tò mò hỏi: “Anh Phong có tin gì lạ không?”. Cô bé chỉ trả lời: “Không! Anh chỉ dặn phải chăm học mà thôi!” Chị Trinh gật đầu thông cảm, nhưng lớn hơn Mây nhiều tuổi chị dư biết là tối hôm nay Mây sẽ đưa những lời căn dặn của anh vào Mộng.

     

    (Còn tiếp)

     

    (11/10/2014)

Những tin cũ hơn

  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9 - Phần 1
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9 - Phần 1

    Tuyển Tập 9  

    (04/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 16
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 16

    Thơ Doãn Quốc Vinh Doãn Quốc Vinh hâu duệ của nhà văn lão thành Doãn Quốc Sỹ, cố Vấn VĐĐT. Những tập thơ DQV sáng tác đã được chuyền tay nhau qua các bạn hữu thân thương và những anh chị em trong gia đình của tác giả. Thơ anh chuyên chở nhiều tâm sự - như nhắn nhủ hay hồi tưởng về quá khứ. Những vần thơ âm hưởng lục bát thật ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một bầu trời thênh thang, tình cảm của tác giả rộng mở chan chứa tình quê hương, dân tộc. Bằng vào sự thiết tha với gia đình cha mẹ anh em, với người tình, với bạn bè thân yêu, cho mọi người xa gần ngay cả với các thành viên của Đồng Tâm chúng ta nữa. Xin cám ơn họa sĩ DQV của ĐT vì ngoài những hoạ phẩm riêng cho TTĐT anh còn gửi thêm qua thi phẩm những nỗi niềm đau thương chua xót hay yêu thương trìu mến của tác giả đối với những điều trông thấy biểu hiện trong 3 tập thơ : Lục Bát Tùy Bút , Lục Bát Đôi Bờ và Thơ Tình của  Doãn Quốc Vinh

    (05/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 15
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11 - Phần 15

    Title: Em Sài Gòn Artist: Quang Minh Composer: Minh Tuấn Harmonist: Quang Đạt Lyricist: N&L: Nguyên Phan Minh Tuấn

     

    (05/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 7
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 7

    Một Thời Để Nhớ
    (04/12/2011)
  • Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 6
    Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8 - Phần 6

    Chiều Cali đọc thơ Quỳnh Giao - Lê Bình –

    Lòng mang những niềm riêng trong cái chung của quê hương. Dù ra đi xa vạn dặm, tình quê mãi mãi mang theo. Nỗi niềm riêng hay tiếng thở dài? Quỳnh Giao ghi lại: "Cây có cội nước có nguồn," Từ đi mang cả nỗi buồn tái tê Dù cho lạc dấu chân về Cũng không quên được tình quê trong đời" Bà Huyện Thanh Quan nhớ nhà khi chiều về: "Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn Gác mái ngư ông về viễn phố Gõ sừng mục tử lại cô thôn Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn Kẻ chốn chương đài người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn"

    (04/12/2011)
Tin tức
  • Phóng Sự Ra Mắt TTDT số 12 và Web site VDDT
    Phóng Sự Ra Mắt TTDT số 12 và Web site VDDT

    CHƯƠNG TRÌNH GIỚI THIỆU

    TUYỂN TẬP ĐỒNG TÂM SỐ 12 & WEB SITE

    www.VanDan-DongTam.org TẠI HOUSTON TEXAS VÀO NGÀY 15 THÁNG 05 NĂM 2011

    Từ mấy tuần trước ngày Giới Thiệu Sách (GTS), tôi đã nhận được thông báo qua email, và qua diễn đàn của Văn Đàn Đồng Tâm rằng: vào ngày 15- 5- 2011, Văn Đàn Đồng Tâm (VĐĐT) sẽ có buổi giới thiệu Tuyển Tập Đồng Tâm số 12, chủ đề Xuân Hy Vọng, và chính thức ra mắt web site vandan-dongtam.org, được tổ chức tại nhà hàng Phố Núi 8282 đường Bellaire, khu Southwest Houston. 

     

    (29/05/2011)
  • Doãn Quốc Vinh - ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’
    Doãn Quốc Vinh - ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’
      Doãn Quốc Vinh Dùng Nghệ Thuật Để ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’

     

    Doãn Quốc Vinh, hậu duệ của nhà văn lão thành Doãn Quốc Sỹ - cố Vấn VĐĐT, đã sáng tác và thực hiện những tập thơ  được chuyền tay nhau qua các bạn hữu thân thương và những anh chị em trong gia đình của tác giả. Thơ anh chuyên chở nhiều tâm sự - như nhắn nhủ hay hồi tưởng về quá khứ. Những vần thơ âm hưởng lục bát thật ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một bầu trời thênh thang,  tình cảm của tác giả rộng mở chan chứa tình quê hương, dân tộc. Bằng vào sự thiết tha với gia đình cha mẹ anh em, với người tình, với bạn bè thân yêu, cho mọi người xa gần ngay cả với các thành viên của Đồng Tâm chúng ta nữa. Xin cám ơn họa sĩ DQV của ĐT vì ngoài những hoạ phẩm riêng cho TTĐT anh còn gửi thêm qua thi phẩm những nỗi niềm đau thương chua xót hay yêu thương trìu mến của tác giả đối với những điều trông thấy biểu hiện trong 4 tập thơ :  Lục Bát Tùy Bút ,  Lục Bát Đôi Bờ, Lục Bát Ru Hời  và  Lục Bát Tình của Doãn Quốc Vinh DOÃN QUỐC VINH với đêm dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng 9,” sẽ được tổ chức vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011, tại nhà hàng Mon Amour, thuộc thành phố Anaheim, California.

     

    Văn Đàn Đồng Tâm (VDDT) xin hân hạnh giới thiệu và thân mời quý văn thi hữu và đồng hương tham gia ủng hộ thật đông đảo.

     

     

    * * * * *

    Từ “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” Gần đây, tôi được dịp đọc lại “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” trên trang SángTạo.org. Đọc công khai, đọc bao nhiêu lần tùy thích. Càng đọc, càng thích. Càng đọc, càng u ẩn niềm quê. Càng đọc, càng muốn khóc cho cái điêu linh của quê hương, dân tộc, cho cái nhục nhằn của sinh linh. Càng đọc, càng muốn đi tìm tác giả, để cám ơn ông đã cho tôi được sống với đất nước trong một giai đoạn trước khi tôi chào đời. Càng đọc, càng nhớ lại cái lần đầu tiên gặp Doãn Quốc Sỹ trong cái tủ kính khóa chặt của ông Ngoại tôi ở một vùng quê miền Tây Nam đất Việt. Tôi đọc lén. Lén cái chính quyền sau 1975. Lén cả ông Ngoại tôi, vì sách quý, con nít biết gì mà động vào. Tuy sau này tôi mới biết, ông tôi không hề cấm con cháu đọc sách của ông, dù ông quý sách hơn cả vàng (nên tôi oai hùng mượn ông quyển “Ba Sinh Hương Lửa” và vác về nhà đọc một cách hết sức chính quy). “Ngàn vàng dễ kiếm, lời tốt khó tìm.” Quý là đúng. Và quý nhất là cái thông điệp mà nhà văn, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã trân trọng gửi gắm cho độc giả ở cuối truyện. Với cái ngôn ngữ giản dị và một tâm hồn thuần Nho, ông nói lên một sự thật và một thực tế mấu chốt của thời đại chúng ta. “Ở thế giới thực dân tư bản, người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn. Ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.” “Tình thương yêu rộng rãi và chân thành.” Tình thương yêu ấy, nó có mùi vị gì, màu sắc ra sao, kích cỡ thế nào, hình dáng làm sao? Theo tôi, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã xuất sắc trong việc tề gia, để câu trả lời nằm chính ngay trong huyết mạch lưu truyền của ông. Đến “Niêu Cơm Quê Nhà” Con nhà tông, nên chắc chắn phải giống lông giống cánh. Doãn Quốc Vinh, hậu duệ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, đã được bú mớm cái dòng sữa của mẹ và cái dòng tư tưởng của cha từ trong nôi. Doãn Quốc Vinh được biết đến nhiều như một họa sỹ, qua các cuộc triển lãm “Ao Nhà Lung Linh” hay “Chuyện Trò Với Lá,” vừa xuất thần trong bản sắc dân tộc, vừa bật tung những sáng tạo hiện đại. Nhưng Doãn Quốc Vinh cũng dính líu với chữ nghĩa, có lẽ vì cái duyên nghiệp viết lách còn quá nồng nàn giữa hai thế hệ của Doãn gia. Tôi đặc biệt quan tâm đến “Niêu Cơm Quê Nhà,” một bài thơ Doãn Quốc Vinh viết tặng cho người thân ở xa, khi anh còn ở tại Sài Gòn, vào năm 2005.

    Bài thơ dung dị và dân dã như cái niêu cơm, như ý niệm quê nhà, như mối tình thôn quê thuần nông nghiệp. Bài thơ được ‘nấu’ như thế này: “…lạy trời , lạy đất , lạy mây lạy cho lúa chín trĩu đầy hạt thơm lạy cho xó bếp nhiều rơm để tôi thổi chín niêu cơm quê nhà mời anh , mời chị ở xa ghé chơi … xơi chén cơm cà với tôi bát canh bông bí ngọt chồi vại dưa , khoanh cá, khúc dồi … chân quê dăm năm thu vén bộn bề này anh, này chị đường về nhớ chăng?” Doãn Quốc Vinh đã thể hiện “tình thương yêu rộng rãi và chân thành” một cách thật cụ thể trong bài thơ này. Anh cầu khẩn cho có được những điều kiện cần thiết để nấu một bữa cơm nhà quê, để mời những anh những chị đang sống xa quê, vài năm “thu vén bộn bề” một lần, về lại. Anh mong họ được hưởng lại cái không gian quê nhà ngay trên đầu lưỡi. Không dưng anh làm cho tôi thèm mùi khói rơm quá! Nhưng cái sự chuyên cẩn trong từng cái lạy, cái chọn món, cái ‘thổi’ cơm (rất dân dã, và hầu như chỉ còn ở thôn quê Việt Nam vì sự bành trướng của bếp ga, bếp điện) – tất cả bày ra một mâm cỗ của yêu thương, thông cảm, chia sớt. Người-ở-lại Doãn Quốc Vinh đã “chân thành” và cũng rất “rộng rãi” với tâm sức của mình khi đi ngược dòng thời gian, thổi một “niêu cơm quê nhà” để làm ấm lòng người đi xa. Cho đến khi chính anh cũng là người đang đi xa, thì anh lại tiếp tục ‘thổi’ cơm để gửi về cho những đồng bào ở lại, nhất là những đồng bào nghèo khó. Dùng hội họa để “Cho Em Niềm Hy Vọng 9” Doãn Quốc Vinh đã ‘thổi’ cơm cho những người nghèo khổ trên quê hương bằng cách nào? Anh không lạy trời lạy mây nữa. Anh vẽ. Anh đã chọn những bức tranh ưng ý của mình để bán gây quỹ cho SAP-VN tại đêm dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng 9,” sẽ được tổ chức vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011, tại nhà hàng Mon Amour, thuộc thành phố Anaheim. Nếu tình người bàng bạc trong văn chương chữ nghĩa của cha con họ Doãn, thì tình người là một nếp sống hằng ngày trong gia đình này. Doãn gia đã cưu mang bao người cơ bần, ngay giữa lúc họ Doãn cũng phải đối diện với khó khăn thời chiến. Họ Doãn đã dùng cái “tình thương yêu rộng rãi và chân thành” để sống và làm chủ đạo cho dòng tộc mình. Cho nên việc họa sĩ Doãn Quốc Vinh đưa cái “tình thương yêu rộng rãi” ấy đến góp tay với SAP-VN để phục vụ đồng bào trong cảnh khốn cùng, âu chỉ là một việc tất yếu. SAP-VN, với tất cả những thành quả trong hoạt động từ thiện gần hai thập niên qua, đã đón nhận sự giúp đỡ hết mình của biết bao nhân tài và mạnh thường quân. Nhưng sự giúp đỡ của Doãn Quốc Vinh lần này làm cho tôi xúc động theo lũy thừa đôi, có lẽ vì anh diễn đạt cái ‘tình quê’ một cách tự nhiên và sâu sắc, nhất là qua những bài thơ và phát biểu của anh. Trong thời gian chuẩn bị cho ngày gây quỹ, thân mẫu của anh, bà Doãn Quốc Sỹ, nhũ danh Hoàng Thị Thảo, đã hấp hối và qua đời đầu tháng Chín tại Houston, Texas. Có lẽ bà là một trong những người đàn bà hạnh phúc nhất, vì đã có một người phối ngẫu giàu lòng nhân ái như vị văn tài Doãn Quốc Sỹ, đã cùng bà nuôi nấng những người con có tấm lòng tha thiết với quê hương và với đồng bào như Doãn Quốc Vinh. Kính mời quý đồng hương cùng đến, thưởng lãm những “niêu cơm quê nhà” mà Doãn Quốc Vinh đã ‘thổi’ bằng óc sáng tạo và nét cọ tài ba, để cùng SAP-VN thắp sáng tình quê trên những vùng nhân sinh nghèo khổ của quê hương. Nếu không có quý vị, “niêu cơm quê nhà” của Doãn Quốc Vinh sẽ không “chín” nổi vì thiếu lửa. Quý đồng hương có thể mua vé trước tại Nhà Sách Tự Lực (714 531 5290, 714 531 5290), hoặc Tiệm Kính Optometry (714 418 0190, 714 418 0190), hay qua email tại (sapvntix@gmail.com). Nếu có thắc mắc về chương trình gây quỹ, xin quý vị gọi số điện thoại 714-901-1997, 714-901-1997. Xin hẹn cùng ‘ăn cơm quê nhà’ với quý vị lúc 4:30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011 tại Nhà hàng Mon Amour (Mon Cheri 2 cũ), tọa lạc tại 3150 W. Lincoln Ave, #134, Anaheim, CA 92801.

     

    Trangđài Glassey-Trầnguyễn

     

     

     

    (10/10/2011)
  • Ra Mắt Tuyển Tập VDDT 12 - Xuân Hy Vọng
    Ra Mắt Tuyển Tập VDDT 12 - Xuân Hy Vọng

     

                               

     

    Thư Mời

    Văn Đàn Đồng Tâm (VDDT) trân trọng kính mời quý văn nghệ sĩ và đồng hương thân hữu, vui lòng dành chút thời gian đến tham dự buổi liên hoan văn nghệ giới thiệu tuyển tập VDDT số 12, chủ đề Xuân Hy Vọng, được tổ chức tại nhà hàng Phố Núi, địa chỉ 8282 Bellaire Blvd. Houston TX 77072, vào chiều Chúa nhật, ngày 15 tháng 05 năm 2011, từ 4PM đến 9PM.

     

    Chương trình gồm nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc, hấp dẫn do nhiều nghệ sĩ tham gia trình diễn (Hoàng Kim Khánh, Sonny Phan, Lệ Ngọc, Nguyệt Khánh, J. Ngọc, Nhật Hạnh, Phan Thanh, v.v…)

     

    Vào Cửa Tự Do. Phục vụ Ẩm Thực Miễn Phí.

    Tặng Quà Lưu Niệm. Dạ Vũ Vui Nhộn.

     

    Sự hiện diện của quý vị là một vinh dự và niềm khích lệ lớn lao đối với VDDT.

    Trân trọng kính mời

     

    Thay mặt Ban Tổ Chức

     

    Cù Hoà Phong

    281-975-9782

     

    P.S. Vì chỗ ngồi có giới hạn, xin quý vị vui lòng sớm ghi danh tham dự qua email vandandongtam@gmail.com hay điện thoại cho Tạ Xuân Thạc (281-370-0233), Cù Hoà Phong (281-975-9782) để nhận vé mời.

    Xin chân thành cám ơn.

     

     

                            

     

     

     

     

     

     

    (12/05/2011)
Quảng cáo
Nguyen Quoc Dung
Tofu
PharmTrustPharmacy
drmainguyen
KS Bellaire
Nguyen Phi Loi
nicolasdetal
Mark D.Le M.D.,P.A
Northside Domestic & Import
Nhan Hien
TRỢ CẤP TÀN TẬT – SSI