Chuyên mục
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 1
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 2
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 3
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 4
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 5
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 5
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 6
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 6
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 7
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 10
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 12
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 16
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Phần 21
Phần 22
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 17
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 18
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 19
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Sách kỷ niệm
Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Kỷ Niệm Về Nhạc Sĩ Anh Bằng
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Kỷ niệm về thi sỹ Hà Thượng Nhân, Dòng thơ bất tử
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Sách Kỷ Niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ
Phần 1
Phần 2
Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Văn học
Văn
Thơ
Nghệ thuật
3 videos clips của buổi TalkShow trên đài truyền hình BYN
Âm nhạc
Âm nhạc
Archive
Music Online

There seems to be an error with the player !

Hình ảnh
Video Clip
Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 3
Thứ tư, 25 Tháng 5 2011 08:46
Mục Lục
Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 3
Kể Chuyện Về Thầy Vinh
Đời Phi Công Của Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
Vài Nét Về: Nhà Bác Học, Nhà Văn Nguyễn Xuân Vinh
Niềm Mơ Ước Đến Thật
Đời Phi Công Và Tôi
Giải Khuyến Học Mang Tên Giáo Sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
Đời Phi Công Và Một Thời Văn Nghệ Tự Do
Kỷ Niệm Với Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh
Tản Mạn Về Một Nhân Tài Khoa Học Gia Nguyễn Xuân Vinh
Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh Giấc Mơ Nhân Quyền
Tất cả các trang

Truyền thống Nguyễn Xuân Vinh
- Việt-Vũ - Nguyễn Tri Phương -
(Thư-ký Hội Khuyến-Học Truyền-Thống Nguyễn Xuân Vinh)

Saint Louis không phải là thành phố du-lịch nhưng nếu khách tới thăm cũng có chỗ đi thăm. Cầu Vồng ở downtown bên bờ sông Mississipi tượng-trưng cho cửa ngõ trên đường Tây tiến của người Mỹ di-dân. Động đá vôi Meramec tương-truyền là chỗ ẩn-núp của anh em hai tên cướp lừng danh Jessy James từng tổ-chức cướp táo-bạo những chuyến xe lửa xuyên bang đem về ẩn chứa trong các hang động này.

Những địa-danh đó nổi tiếng nhưng không phải là truyền-thống của đất Saint Louis.
Có một quán kem mà người Việt ở Saint Louis hay gọi là quán kem truyền-thống là quán Ted Drewes Frozen Custard. Theo sách du-lịch nói về Saint Louis thì quán kem này mở cửa từ năm 1929. Kể từ đó quán kem Ted Drews mở mỗi năm chừng 6 tháng vào Hè và Thu, chưa có năm nào tạm nghỉ. Đêm đêm người ta đến sắp hàng ăn kem từ chập chiều đến quá giữa khuya. Quán kem được quảng-cáo nghe bắt thèm:

“An ice cream-style stand, complete with neon lights and twinkling bulbs, makes this a lively family hangout. It is so relaxed that the menu is handwritten. Try an array of frozen flavors, from pineapple, strawberry and chocolate chip to other odd titles such as the Terramizzou, Fox Treat and the All Shook Up. Visitors will miss a treat by not trying a Concrete.”

Gọi đó là quán kem cũng là cách quá đề cao mặc dù cửa hàng khá nổi tiếng. Khách đến ăn kem không có bàn ngồi, cũng không được vô trong nhà, tất cả phải đứng ngoài trời trong bãi đậu xe, hoặc dựa vào vách, hàng rào hay đứng loanh-quanh mà ăn kem. Cảnh-sát mỗi đêm cũng ít nhất một ca đi vòng quanh để ngó chừng thiên-hạ mặc dù chưa từng nghe có chuyện gì xấu xảy ra quanh địa-điểm này. Điều kỳ lạ để quán kem Ted Drewes này xứng đáng mang danh truyền-thống vì cũng là hiệu Ted Drewes cùng công-ty mở ở một địa-điểm khác trong Saint Louis mà không ai tới ăn. Kế bên Ted Drewes có quán kem khác mở ra cạnh-tranh có vẻ thanh-lịch hơn nhưng cũng vắng như chùa Bà Đanh.

Giáo-Sư Nguyễn Xuân Vinh đến chủ-tọa Lễ Phát Phần Thưởng cho học-sinh xuất sắc lần thứ nhứt năm 1999 do “Hội Khuyến Học Truyền-Thống Nguyễn Xuân Vinh tổ-chức ở Saint Louis. Khi đó Hội có những văn-kiện căn-bản bằng tiếng Việt nhưng tất cả chưa sẵn-sàng chuyển-ngữ qua tiếng Mỹ. Tối đêm sau ngày Lễ, chúng tôi mời Giáo-Sư đi ăn kem Ted Drewes truyền-thống. Đêm tháng Sáu trời nóng hực, thiên-hạ cùng đi ăn kem nhộn-nhịp một góc phố, người ta đứng xếp nhiều hàng dài chờ đến phiên. Trong đêm ăn kem đứng dựa bên mấy hàng rào song sắt, Thầy Vinh dừng một muỗng kem nhìn đăm-chiêu như ánh mắt Thầy thường nhìn sâu với nụ cười nhẹ tự-nhiên, và hỏi: “Các anh chị sẽ dịch chữ truyền thống (trong danh xưng của Hội) như thế nào?” Anh Minh, Hội trưởng và tôi đều khựng lại, ly kem còn dang-dở trên tay. Tôi nhanh miệng hơn thú thật: “Thưa Thầy tên tiếng Mỹ tương-đương thì chưa tìm được.” Kể từ đêm đó tôi trằn-trọc. Câu hỏi đơn-giản có lẽ bất ngờ động đến một câu chuyện văn-hóa.

Trong tiếng Việt, chữ truyền-thống rất thông-dụng. Từ thống trong tự-điển Thiều Chửu thì nghĩa đen là mối tơ, là đầu mối. Thống cũng có nghĩa là đời đời nối dõi không dứt, như một đường tơ nhẹ, đẹp mà nhuyễn khó thấy. Thí dụ hoàng-thống là dòng tộc vua chúa. Đạo-thống là dòng đạo truyền hoài từ đời nọ qua đời kia.

Trong những dân-tộc có nền văn-hóa trải nhiều đời thì sự tích-tụ, bảo-tồn và truyền trao cho nhau những cái tốt đẹp từ đời trước qua đời sau chẳng những là một thói quen mà còn là bổn-phận của mỗi thế-hệ. Có thể thói quen đó phát xuất từ thời văn-hóa bất-thành-văn, người ta phải kể lại cho nhau nghe để ghi nhớ từ dòng-dõi cổ-lai cho tới những tập-tục, nghi-lễ và nếp sống noi theo như là đặc-điểm của dân-tộc mình.

Người Việt thường tự-hào với truyền-thống Tiên-Rồng. Nếu phải kể ra xem những đặc-điểm nào thực sự truyền từ Lạc Long Quân và Âu Cơ thì hơi khó kể ngoài sự kết-hợp Rồng-Tiên giữa người Kinh (dưới đồng-bằng) và người Thượng (trên miền núi) cùng một số tục lệ trầu cau, xâm mình. Truyền-thống Tiên-Rồng sau này được mở rộng ra là ý-chí đoàn-kết và bất-khuất chống ngoại xâm để giữ-gìn hay khôi-phục độc-lập dân-tộc. Chữ truyền-thống này gọi là mở rộng vì chúng ta chưa có dữ-kiện hay câu chuyện nào liên-quan đến việc chống ngoại-xâm vào thời Lạc Long Quân và Âu Cơ, có chăng chỉ là những câu chuyện Vua Lạc Long đánh ma trừ quỉ để bảo-tồn an-ninh trong nước. Mãi cho tới thời Hùng Vương thứ Sáu ta mới ghi nhận câu chuyện thánh Gióng chống giặc Ân mà truyền cho nhau để làm gương giữ nước. Câu chuyện đề-kháng chống giặc Ân này có một chi-tiết gắn với Lạc Long Quân là khi vua Hùng Vương gọi: “Bố ơi về cứu chúng con” như lời truyền của Lạc Long Quân dặn con cháu khi Ngài trở về với biển thì đêm đó thấy xuất hiện một cụ già đi trong mưa gió như đó là Vua Lạc Long trở về. Một lời Hịch đơn-giản “Bố ơi về cứu chúng con” có thể là câu chuyện thần-thoại nhưng trong đó ngụ ý một truyền-thống từ người mở nước đến nhiều thế-hệ giữ nước về sau như là dòng-dõi chính-thống Lạc-Việt.

Bên cạnh những truyền-thống mở nuớc, giữ nước, những truyền-thống văn-hóa, nghi-lễ, phong-tục và ngôn-ngữ, thi-ca, còn có những gương danh-nhân. Mỗi danh-nhân là tấm gương của một thời-đại. Thánh Gióng với cuộc tập-hợp nhân-dân cả xứ, làm nên sức mạnh lớn nhanh như vũ-bão, và một kỹ-thuật mới là ngựa sắt và lửa để đánh đuổi giặc Ân. Hai Bà Trưng là hai phụ-nữ trẻ tuổi vừa quá 20 đã tập hợp nhân-dân cả xứ rầm-rập khua vang trống đồng làm dậy cả 65 thành trì, đuổi giặc Hán chạy dài trong chớp nhoáng. Bà Triệu Thị Trinh cũng ở tuổi vừa quá 20 từ Nghệ An, một vùng đất tận biên thùy phía Nam cũng quật dậy “cỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém con tràng kình ngoài biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang-sơn, cởi ách nô lệ,…”. Ngô Quyền đã phát-kiến và thực-hiện kỹ-thuật tân-kỳ, đóng nhiều cột chớp nhoáng giữa dòng Bạch Đằng mênh-mông nước luôn cuồng chảy, chận đường xâm-lăng của Thái-tử cướp nước Hoàng Thao. Dòng sử Việt qua gần năm ngàn năm từ thời lập quốc cho đến nay kể hoài khó hết. Tất cả quyện lại tạo thành một dòng sinh-mệnh dân-tộc, một dòng truyền-thống Rồng-Tiên.

Danh-từ truyền-thống trong tiếng Việt lần hồi thông-dụng đến độ người ta đặt xuống một cấp gọi là truyền-thống gia-tộc. Danh-từ này hơi khác với từ gia-truyền. Gia-truyền là nói đến cái gì gần như bí-mật chỉ truyền trong gia-đình, thí-dụ thuốc gia-truyền. Gần đây ra Hà-Nội người ta còn ngạc-nhiên hơn khi thấy một sự lạm dụng chữ nghĩa đến chua-chát khi đọc bảng quảng-cáo treo trước quán ăn: “Cơm tấm gia-truyền.” Khác với gia-truyền, chữ truyền-thống có ý-nghĩa tinh-thần hơn là vật-chất, thí-dụ truyền-thống văn-gia, truyền-thống võ-nghiệp. Trong mỗi ngành, nghề cũng dùng chữ truyền-thống. Thí-dụ truyền-thống Không-Quân là những tập-tục đặc-biệt làm người chiến-sĩ Không-Quân tự-hào. Chẳng hạn các buổi lễ biểu-diễn máy bay, để tưởng nhớ các phi-công tử-nạn người ta lập màn một chiếc phi-cơ đang bay chung với phi-đội chợt tách đoàn bay cao như biểu-hiệu chia tay. Trong nghề hát cải-lương, nhiều người trước khi ra sân khấu đã đến bàn thờ Tổ để thắp nhang cúng vái. Hay truyền-thống nghề võ trước khi giao đấu là phải bái tổ và bái nhau chứ nếu không, sẽ bị gọi là lục-lâm chứ không phải là anh-hùng có trường-phái. Cho đến đây thì chữ truyền-thống đã đi vào một số hình-thức tập-tục. Các tập-tục này thường có ý-nghĩa tinh-thần nhưng đã mang ít nhiều nghi-thức hơn là chữ truyền-thống trong truyền-thống Tiên-Rồng.

Hồi trẻ học ở trường Trung-học Petrus Trương Vĩnh Ký tôi thường nghe người ta nói đến truyền-thống Petrus Ký, và tôi đã tò-mò muốn hiểu mà không biết hỏi ai. Bạn-bè đàn anh dẫn tôi đi đá banh thì cứ gặp chuyện là gây lộn nhiều khi đánh lộn với học-sinh các trường khác. Một đứa tài khôn giải-thích cho tôi là mình phải bảo-vệ “truyền-thống Petrus Ký chứ nếu không tụi nó khi dể mình.” May mà tôi không to lớn vạm-vỡ hơn ai để tham-gia cách bảo-vệ “truyền-thống bạo-lực gang up bè đảng” như vậy. Sau này tới lớp Đệ Nhị, trong buổi phát phần thưởng cuối năm, thấy diễn-giả nhắc đến truyền-thống Petrus Ký mà máy vi-âm ồn quá tôi nghe không rõ. Chừng hết buổi lễ tôi mon-men đến một thầy giám-thị lấy can-đảm để hỏi truyền-thống Petrus Ký là gì, thầy trả lời làm tôi chưng-hửng: “Thì mấy con học giỏi là theo truyền-thống của ông Petrus Ký đó!” Tôi không dám hỏi thêm nhưng thật sự không hài lòng chút nào. Đành rằng ông Petrus Ký là thần-đồng biết thông-thạo trên hai chục thứ tiếng, là bác-học thời Napoléon III và năm 1873 được Pháp xếp vào danh-sách 18 người nổi tiếng về Văn-hóa và Khoa-học trên thế-giới “Dix-huit Sommités Culturelles et Scientifiques du Monde,” ông cũng là cột trụ hình-thành nền quốc-ngữ Việt viết bằng chữ la-tinh, nhưng đâu nhất thiết phải là học trò Petrus Ký mới phải ráng học giỏi, học trò trường nào, xứ nào, từ xưa tới giờ cũng phải ráng học giỏi chứ. Vào ngày ra trường lớp Đệ Nhứt, cũng sau buổi lễ phát phần thưởng, tôi cùng vài người bạn còn quyến-luyến trường cũ mới rủ nhau thả bộ khắp trường, đi nhìn từ góc sân đến cây cột, nhắc nhau những kỷ-niệm trong suốt bảy năm học, để ghi nhớ hình ảnh trường mình vào tâm-tưởng, tôi bắt gặp câu đối chữ đỏ trước cổng trường mà tôi nghĩ là truyền-thống Petrus Ký, chưa biết có đúng ý với tiền-nhân không. Câu đó là: “Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt – Tây Âu khoa-học yếu minh tâm.” Sau này biết ra, câu đối đó là do Giáo-Sư Ưng Thiều đặt năm 1951 để khắc lên hai cây trụ chào ở cổng trường chứ không phải là câu nói hay câu đối của chính ông Petrus Trương Vĩnh Ký viết ra (hai câu đối bây giờ đã bị Việt Cộng đục bỏ và trường cũng đổi tên khác). Từ đó tôi phải tự an-ủi mình, câu đối đã được các bậc Thầy Cô gần thế-hệ với ông Petrus Ký bình chọn hẳn cũng thể-hiện rất gần đời sống và chí-hướng của nhà bác-học Petrus Trương Vĩnh Ký vậy.

Lật từ-điển tiếng Mỹ tìm chữ tương-đương với chữ truyền-thống trong tiếng Việt, tôi tìm ra một chữ có định-nghĩa tương-tự, là chữ tradition. Từ-điển viết tradition là “the handing down of statements, beliefs, legends, customs, information, etc., from generation to generation, especially by word of mouth or by practice; a story that has come down to us by popular tradition.” Những từ legacy hay bequest thường chỉ một cái gì cụ-thể hơn như một gia-tài nên tiếng Việt mình hay dịch là di-sản. Đời nay người ta cũng nói tới legacy của một tổng-thống, nó có tính bao gồm nhưng vẫn có ý cụ-thể, ý muốn nói tới một tình-trạng an-ninh về quốc-phòng, xã-hội hoặc tình-trạng tài-chánh dồi-dào hay kiệt-quệ của quốc-gia sau khi vị tổng-thống đó mãn-nhiệm hay từ trần.

Vấn-đề đáng nói là mặc dù danh-từ tradtion hàm ý tương-tự như truyền-thống nhưng hiếm khi nào người Mỹ xử-dụng như trong tiếng Việt. Kiến-thức tôi hạn hẹp nhưng hình như tôi chưa gặp một hội đoàn Mỹ nào mang tên là hội truyền-thống của một người hay một tập-tục. Người Mỹ thường mở ra một hội, từ trong sinh-hoạt của hội người ta lập một truyền-thống thí-dụ họp mặt hàng năm vào một ngày lễ nhất-định nào đó, sự họp mặt hàng năm đó là một truyền-thống của hội. Cũng có nhưng rất hiếm tổ-chức mở ra nhằm gìn-giữ một số điểm tinh-thần hay sinh-hoạt của một người hay một tập-thể trong đó có thể gọi là truyền-thống. Ngay trong trường-hợp đó người Mỹ vẫn không đặt danh-từ tradition trong danh xưng của họ. Nói khác đi, Việt và Mỹ có thể có cùng một ý-niệm về chữ truyền-thống nhưng cách xử-dụng khác nhau. Tôi nghĩ vì người Mỹ không quan-tâm nhiều lắm về truyền-thống. Người Mỹ có lịch-sử và văn-hóa thành-văn chỉ mới hai trăm năm nên những tập-tục của họ không đủ dài để lập nên truyền-thống. Họ chưa từng qua giai-đoạn lịch-sử bất-thành-văn, lại không cùng trong một dòng máu, một chủng-tộc mà lớn lên, trừ những người Mỹ thổ dân Indians mà ảnh-hưởng của họ trên xã-hội Mỹ rất nhỏ, họ không có những truyền-thống truyền miệng cho nhau để mọi người cùng nhớ nằm lòng tạo thành truyền-thống tinh-thần từ thế-hệ này qua thế-hệ khác. Hơn thế nữa, tinh-thần tìm kiếm cái mới còn thắng thế hơn là bảo-thủ cái cũ. Những tiến-bộ khoa-học kỹ-thuật như những bước nhảy vọt với đôi hia bảy dậm khiến đời sống ở Mỹ phải tìm cách thích-ứng không ngừng để sống còn chứ đừng nói chuyện bảo-tồn. Cứ xem trong một gia-đình bình thường, con cái hấp-thụ và xử dụng những tiến-bộ kỹ-thuật và nghệ-thuật mới nhanh đến độ thế-hệ cha mẹ chưa kịp thích-ứng hay làm quen là đã qua đời. Sự xung khắc cũ và mới hầu như luôn luôn đem thắng lợi về cho cái mới. Tâm-lý xã-hội đó khiến những quan-niệm giữ truyền-thống phải dè-dặt. Tôi nghĩ thái-độ văn-hóa đó là lý-do chánh khiến người ta ít thấy những danh-xưng truyền-thống trong các hội-đoàn Mỹ, nếu không nói là họ tránh danh-từ đó để không bị coi là chậm tiến trong việc thích-ứng với cái mới hay tìm thêm cái mới.

Người Mỹ thường lấy tên các nhân-vật nổi tiếng để đặt cho các phi-trường, building hay hội đoàn, hoặc cho các giải thưởng là để kỷ-niệm tên người đó hơn là lấy tinh-thần của người đó làm truyền-thống tinh-thần. Hoặc người đó là một mạnh-thường-quân tặng tiền cho một sinh-hoạt hay cho giải-thưởng thì giải-thưởng hay sinh-hoạt đó sẽ mang tên của người đó. Lối đặt tên này không áp-dụng trong nhiều trường-hợp của các hội-đoàn Việt-Nam, và hoàn-toàn không áp-dụng trong trường-hợp danh-xưng của một hội đoàn truyền-thống như Hội Khuyến-Học Truyền-Thống Nguyễn Xuân Vinh.

Hội Khuyến-Học Truyền-Thống Nguyễn Xuân Vinh là một hội khuyến-học do phụ-huynh học-sinh tại địa-phương tự-nguyện thành-lập, sau đó, với sự đồng-ý của Giáo-Sư để đặt tên cho Hội và cho một Giải Thưởng học-sinh xuất-sắc nhất trong mỗi năm. Chủ-đích của các phụ-huynh học-sinh sáng lập là tìm gương sáng cho tuổi trẻ noi theo và đưa những tấm gương sáng đó về địa-phương để tuổi trẻ được tiếp-xúc trực-tiếp với những con người bằng xương bằng thịt có da vàng máu đỏ Việt-Nam đã vươn lên thành-công trong xã-hội này. Tấm gương sáng chói nhất mà phụ-huynh ở Saint Louis tìm thấy là Giáo-Sư Nguyễn Xuân Vinh.

Ở đây tôi không lập lại tiểu-sử của Giáo-Sư để chứng-minh cho việc tìm kiếm tấm gương sáng cho tuổi trẻ. Về công-trình của Giáo-Sư thì quá nhiều và chúng đều mang tầm vóc quốc-tế vượt ngoài sự hiểu biết về khoa-học của nhóm phụ-huynh ở địa-phương. Sự truyền-thừa về Toán-Học của Giáo-Sư thì ngành Khoa-Học Không-Gian quốc-tế đã là công-chứng. Vị-trí Hội-viên Hàn-Lâm và các giải-thưởng danh-dự về Giáo-dục mà Giáo-Sư được trao tặng đều ở cấp quốc-gia, liên-bang, tiểu-bang hay tối thiểu cũng từ các thành-phố lớn. Tất cả thành-quả đó thật khó cho bất cứ cá-nhân hay học sinh nào có thể theo dấu chân Thầy. Tư-tưởng này không phải là bi-quan nhưng chỉ nói lên một điều, trong giáo-dục nói chung, khi nêu một tấm gương cho tuổi trẻ, những công-trình và thành-quả của một cá-nhân là chuyên-biệt, không ai có thể bắt chước được. Người ta chỉ có thể nêu tấm gương tinh-thần, những bài học đằng sau cuộc đời đó. Thí dụ nói đến Nguyễn Trãi, không ai trên thế-gian này có thể làm lại được công-trình lịch-sử chính-trị và văn-hóa của Người, nhưng tinh-thần yêu nước, thương nhà, cuộc đời hy-sinh và lòng tận-tụy của Người cho dân-tộc thì đời sau có thể ráng học theo. Đến đây thì chữ truyền-thống có vẻ rõ hơn, đó là những tấm gương tinh-thần của một người mà đời sau có thể học hỏi.

Tìm ra được những đặc-điểm-truyền-thống khó hơn là tìm tiểu-sử của một nhân-vật mặc dù hai phần đó liên-hệ nhau như bóng với hình. Tiểu-sử là hình trong đó ghi chép những biến-cố trong cuộc đời, lúc thành khi bại, cùng những kết-quả cụ-thể và những liên-hệ gần xa với những biến-cố trên. Truyền-thống là bóng, cái tinh-thần hun-đúc nên những thành-quả lẫy-lừng nơi tiểu-sử. Một phi-thuyền bay lên cung trăng, ngày tháng phi-thuyền bay thành-công là tiểu-sử. Công-thức Toán để từ đó người ta vẽ phi-đạo cho phi-thuyền bay là truyền-thống. Thành-tích dừng lại ở chính nó. Khi nó trở nên một chứng-tích hiện-thực thì nó đi vào lịch-sử. Truyền-thống thì khác, nó còn được truyền lại cho đời sau học-hỏi, xử-dụng để phát-triển tương-lai.

Tiểu-sử chưa đủ để chứng-minh những đặc-điểm-truyền-thống. Tinh-thần của nhân-vật còn được tìm thấy và minh-chứng qua chính lối sống từ trong gia-đình ra ngoài xã hội, đặc-biệt nhất là từ những ước mơ ẩn tàng đây đó trong thơ, văn của nhân-vật đó. Trở về với Nguyễn Trãi, mặc dù ông đã thành-công tột đỉnh trong đường hoạn-lộ nhưng qua thơ văn của ông, như trong Ức-Trai Thi Tập, lác-đác ta bắt gặp biết bao tâm-trạng u-uất của ông, những dằn xé tâm can ông mỗi khi ông trở về với núi rừng Côn Sơn là nơi chôn nhau cắt rốn của ông mà ông coi như “một lời thề trở về với núi rừng.” Nhìn được toàn bộ cuộc đời ông, tìm hiểu được những ẩn tình đó, thấy được hoài-bão của ông và so với những gì ông làm, từ đó chúng ta mới hi-vọng thấy được sợi dây truyền-thống văn-hóa mà ông để lại cho đời sau. Chẳng hạn sau khi tìm hiểu thơ văn và tiểu-sử của Nguyễn Trãi, người ta có thể nói truyền-thống của Người là một tinh-thần sống vì độc-lập dân-tộc chẳng những về lãnh-thổ mà còn về văn-hóa bao gồm ngôn-ngữ, lễ nhạc và luật-pháp. Ngọn lửa hun-đúc cho truyền-thống đó là cha của ông thì bị giặc bắt mang gông dẫn về Tàu mất tích, nước nhà thì bị nô-lệ khổ đau, lòng dân thì ly-tán ngả nghiêng quên cả gốc nguồn.

Dựa trên những suy tư trên, chúng ta tìm lại về truyền-thống Nguyễn Xuân Vinh để thấy nhiều điều quí báu hầu truyền lại cho các thế-hệ sau.

Về cuộc đời cá-nhân thì Giáo-Sư đã phấn-đấu từ nhỏ đến quá tuổi về hưu. Ở bất kỳ giai-đoạn nào Thầy cũng chất chứa suy-tư để vươn lên. Khi nhỏ, hoàn cảnh đất nước không cho phép Thầy tiến thân về khoa-học kỹ-thuật, Thầy tìm cách vượt qua như trong Đời Phi-Công đã mô tả. Điểm tinh-thần ẩn-tàng là một ý-chí vượt qua thay vì lênh-đênh than thân trách phận của người thanh-niên trong câu chuyện đã khiến Đời Phi Công có sức thúc-giục tuổi trẻ từ trang đầu ngoài những mô tả về cái hào-hùng của chàng sinh-viên phi-công ở hải-ngoại ở những trang sau. Sau khi Giáo-sư đã trở thành Tư-Lệnh Không-Quân, Thầy vẫn rũ áo từ quan dễ-dàng để tiếp-tục con đường Toán Không-Gian. Thái-độ từ bỏ chức tước, chức Tư-Lệnh Không-Quân của một quốc-gia, để trở lại sống đời sinh-viên du-học quả đã đòi hỏi một suy tư sâu, một đam-mê nặng và một ý-chí vượt qua kiên-cường. Trong văn-chương của Thầy, không bao giờ người ta tìm thấy những bải-hoải chán-chường, những thê-lương sầu thảm. Đối với Thầy, vượt qua khó-khăn, vượt qua chính mình là lẽ sống vui đời. Chuyện học giỏi mà Hội Khuyến Học đề ra như một tiêu-chuẩn của học-sinh đoạt Giải Thưởng Danh-Dự Nguyễn Xuân Vinh không phải là chuyện tranh danh mà là một khuyến-khích vượt qua, vượt qua từ chuyện nhỏ như chuyên-cần học-tập lúc trẻ để đào-luyện ý-chí cho những vượt qua lớn hơn sau này.

Ý-chí vượt qua cộng với sự thông-minh sẵn có của Thầy đã đưa Thầy đến những thành công vượt bực trong mọi lãnh-vực mà Thầy tham-gia, từ đi học tới đi dạy, từ nghiệp võ tới nghiệp văn, từ khoa-học kỹ-thuật tới đời sống xã-hội. Dù Thầy đã sống thời-gian ở hải-ngoại gần cả đời người, dù trí-thức Thầy đã bay xa vào vũ-trụ mênh-mông, dù danh-vọng Thầy xem như tột đỉnh so với bao nhiêu tài-danh trong lịch-sử Việt-Nam, tinh-thần Thầy bao giờ cũng hướng về cội nguồn dân-tộc. Như nước sông ra biển vẫn bốc hơi và bay về nguồn, như cây cao đến đỉnh trời gốc vẫn bám vào đất mẹ, Thầy bao giờ cũng thể hiện lòng mình như vậy trong mọi cách ứng-xử giữa cuộc đời. Và trong thơ văn Thầy bao giờ cũng thể hiện điều đó. Thầy đã giành tên Nguyễn Xuân Vinh nguyên vị, không hoán chuyển, để ký dưới các công-trình Toán Học đăng trên những tập san quốc tế. Thầy tiếp-xúc với cộng-đồng từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất để nói chuyện, để khuyến-khích tuổi trẻ cũng không ngoài một tình yêu quê-hương.

Hồi còn ở Việt-Nam trước khi vượt biên, trong những buổi bàn phiếm với bạn-bè về chuyện vượt biên sao mà quá khó-khăn, về ước mơ ra nước ngoài tha hồ được học hỏi, thỉnh thoảng tôi và bạn-bè có nhắc đến tên Thầy như một vì sao ở xa tít trời cao. Nói nôm-na là chúng tôi nói để thèm chơi như Đường Minh-Hoàng mơ du nguyệt-điện vì chuyện đó biết đời nào mới xảy ra. Chừng qua Mỹ sống mấy năm đầu ở Michigan, thỉnh-thoảng được tiếp chuyện với Thầy ở nhà một bác-sĩ đàn anh là Đặng Vũ Vương, tôi ngạc-nhiên thấy Thầy thật bình-dị. Tôi thật bỡ-ngỡ như vẫn còn đi trong mơ khi được bắt bàn tay mềm mại của Thầy. Cũng ngạc-nhiên khi lên trường đại-học Michigan University ở Ann Arbor chỗ Thầy dạy học để mừng Xuân, tôi thấy Thầy trên khán-đài quyên tiền cho Hội Hồng Thập-Tự để làm chuyện gì đó cho cộng-đồng. Và càng ngạc-nhiên hơn nữa khi năm 1980, một nhóm học-sinh ở Detroit tổ-chức Tết mời Thầy đến nói chuyện, Thầy vẫn lặn-lội từ Ann Arbor về Detroit để chúc Tết bà con cộng-đồng và các em học-sinh Detroit qua một bài thơ thất-ngôn bát-cú. Sau này biết ra, có một vị Hàn-Lâm Học-sĩ nào từ xưa nay trong thế-gian, và riêng trong cộng-động Việt-Nam ở hải-ngoại, có một nhà khoa-học tài danh nào đã làm được như Thầy, cất công đến tiếp-xúc với tuổi trẻ và cộng-đồng trên khắp các thành-phố lớn nhỏ. Dĩ nhiên ai cũng bận rộn chuyện thường ngày trong đời, ai cũng hết nghiên-cứu rồi gia-đình, ai cũng có lý-do này hay lý-do khác, ai công đâu đi nói chuyện tứ xứ nếu không phải đằng sau những chuyến đi của Thầy là một tâm-tình chan-chứa với dân-tộc và tuổi trẻ.

Tôi nhớ hồi nhỏ học sách hình như là Quốc-Văn Giáo-Khoa Thư, bìa truớc in một hình nhỏ người đội nón lá đứng gieo giống. Hình ảnh Thầy lặn-lội đi khắp đó đây để tâm-tình với tuổi trẻ và đồng bào, để khuyến-khích xây-dựng cộng-đồng Việt-Nam, để khuyến-khích chuyện học cho con em, âu đó là cách gieo giống văn-hóa. Thầy đã được vinh danh tại Quốc-Hội ở những tiểu-bang Michigan và Oklahoma sau khi Thầy hoàn-mãn (Emeritus Professor) thành-công cả cuộc đời nghiên-cứu và dạy học ở các đại-học. Thầy đã được mời tới Toà Bạch Ốc để cùng với vào khoảng hơn một trăm người Mỹ gốc Á châu dự lễ tại Vườn Hồng khi Tổng Thống George H. W. Bush ký sắc-luật chỉ định tháng Năm hàng năm là tháng Truyền-Thống cho người Mỹ gốc Á-châu. Nhưng chính những cố-gắng dành-dụm từng giờ phút nhỏ của cuộc đời mình để tiếp xúc với tuổi trẻ Việt-Nam đã khiến Thầy cao lớn hơn nhiều và xứng đáng là một Vị Thầy trong truyền-thống văn-hóa Việt.

Nhiều người cho rằng ở trong gia-đình, mình chằn-chằn dạy con hằng ngày hằng bữa còn chưa xong, việc đi diễn-thuyết nói chuyện năm bảy phút thì có ảnh-hưởng chi tới tuổi trẻ. Kỳ thực không phải vậy. Cá-nhân của mỗi trẻ đều phải trải qua giai-đoạn tự định-hình cái ngã của mình để trả lời câu hỏi mình là ai? Trẻ em Việt-Nam còn đặc-biệt hơn, chúng lớn lên trong hai thứ văn-hóa khác nhau, Việt ở trong nhà, Âu hay Mỹ ra ngoài đường, nên chúng càng bối-rối hơn trong tiềm-thức. Sự hiện-diện của những gương mặt vừa đáng kính vừa thành-công trong xã-hội đều là những role model cần thiết. Các trẻ thông-minh như những trẻ đã học giỏi trong trường học thường rất nhạy cảm với những khích-lệ như vậy. Nhiều khi một câu nói, một dáng-dấp, một bài viết, một hình ảnh xúc-động đủ là kích-tố tạo sự nảy bật trong tâm thức các em. Chúng ta thử nghe lại giọng truyền-cảm của Tiến-Sĩ Cai Văn Khiêm trong lời mở đầu cho bài nói chuyện của ông khi ông đến chủ-tọa Lễ Phát Phần Thưởng Nguyễn Xuân Vinh năm 2001:

“... Hôm nay tôi đến với các em trong một niềm hân-hạnh đặc-biệt. Cùng khoảng thời gian này 30 năm trước, tháng 6 năm 1971, tôi cũng có danh-dự lãnh phần thưởng Trung-Học. Được gọi tên lên lãnh phần thưởng xong, khi quay lại, tôi đọc được một hàng chữ lớn ghi phía sau Đại Thính Đường. Hàng chữ như sau:
“Sách vở chỉ là xác khô.
Sinh-khí giáo-dục là lòng tự tin và tinh-thần phục-vụ quê-hương”
Tôi ghi hàng chữ ấy lên tập sách thường như một kỷ-niệm. Nhưng hàng chữ ấy đã theo tôi suốt 30 năm nay, hướng-dẫn tôi trong suốt cuộc đời đi học và nghiên-cứu khoa-học.”

Trong đời thường, chúng ta hay học từ những cú chớp-nháng như vậy, nhất là đối với những ai còn giữ được bộ óc nhạy bén của tuổi trẻ. Những hạt giống gieo ra có thể bắt mầm lúc nào khó biết, nhưng nhân-quả là một nguyên-lý bất-biến. Vai trò của Nhà Giáo là cứ tiếp-tục gieo mầm. Giáo-Sư Nguyễn Xuân Vinh đã làm tốt đẹp vai trò Nhà Giáo trong cộng-đồng Việt-Nam. Chúng ta cũng ước-ao những người thành-công dù ở cấp nào, dù trong nghề-nghiệp nào cũng đừng bỏ rơi tuổi trẻ Việt-Nam, xin mỗi năm dành ra vài ngày để đến với các cộng-đồng tuổi trẻ. Mỗi lời xây-dựng, mỗi kinh-nghiệm giữa trường đời, mỗi câu nói khích-lệ là mỗi viên gạch tạo-dựng tương-lai dân-tộc. Khuyến-học trước hết là làm gương rồi quảng-bá tấm gương tốt đẹp đó.

Khuyến-học cũng không phải chỉ để giúp từng cá-nhân các học-sinh học giỏi đặng rồi lớn lên các em tham-gia vào trời khoa-học, kỹ-thuật, văn-chương, nghệ-thuật thế-giới, mà còn hướng tầm nhìn tuổi trẻ trở về với quê-hương khi thuận-lợi cho dân-tộc. Riêng ở điểm này, Giáo-Sư Nguyễn Xuân Vinh cùng với bao nhà văn-hóa từng nặng lòng với quê-hương đã có những đêm phải thao-thức trong hoàn cảnh trớ-trêu của Việt-Nam. Chính-trị trong nước không tạo nổi một sinh-khí chung cho toàn bộ xã-hội phát-triển lành mạnh hầu mở đường cho tuổi trẻ phát-kiến tự-do. Xã-hội là một cơ-cấu trong đó mọi thành-phần đan-kết chằng-chịt với nhau. Xã-hội chỉ phát-triển trong đồng bộ, như cái đồng-hồ chỉ chạy tốt khi phần lớn cơ-phận trong đó chạy tốt. Mỗi cá-nhân học-sinh giỏi chưa đủ, ước-mơ của nhà văn-hóa là làm sao cùng xây-dựng một lớp người cùng quan-niệm phóng-khoáng, cùng tầm nhìn lớn cho đại cuộc.

Chúng ta hãy nghe nhân-vật Phong của Giáo-Sư trong tập truyện “Tìm Nhau Từ Thuở” (sách chưa xuất-bản) viết cho Mây, nhân-vật nữ tượng-trưng cho tuổi trẻ:

“Mây à, em có biết không, một con én không đem lại được cả mùa xuân. Dù anh đã được huấn-luyện trọn vẹn ở cả hai trời Âu và Mỹ, và trong hơn mười năm qua lúc nào anh cũng cố-gắng làm hết sức mình, nhưng anh thật không xứng đáng với hai chữ anh-hùng như Mây đã trông đợi, và mong-mỏi cho anh gặp thời-thế để hoàn thành tâm-nguyện. Theo anh nghĩ thì phải có cả một lớp người, cùng chung một lý-tưởng xây-dựng một quốc-gia thịnh-vượng, có một nền giáo-dục nhân-bản để nâng cao dân-trí, cải-tổ lại guồng máy hành-chánh cho hữu-hiệu, mới mong thực-hiện được những gì mơ ước cho đất nước. Hiện giờ anh còn cô-đơn quá, vẫn là kẻ độc-hành đi trong đường đời…”

Trong văn-chương của Giáo-Sư Toàn-Phong Nguyễn Xuân Vinh, chúng ta thường nghe những tư-tưởng trầm-tĩnh để suy nghĩ, những hình ảnh lấy ý-chí hào-hùng để vượt qua những trở ngại, chứ hiếm khi nào, có thể nói là không bao giờ chúng ta nghe một tiếng kêu trầm-thống bi-thương đến như vậy. Mà có phải đó cũng là tâm-trạng nát lòng của sĩ-phu cả nước trong thời-đại này? Dĩ nhiên tự tiếng kêu đó không phải là truyền-thống Nguyễn Xuân Vinh nhưng chính một tấm lòng luôn luôn hướng về dân-tộc, mơ ước làm gì vinh-quang cho đất nước là một đặc-tính-truyền-thống Nguyễn Xuân Vinh mà tuổi trẻ trong cũng như ngoài xứ cần quan-tâm và suy nghĩ.

Tóm lại truyền-thống Nguyễn Xuân Vinh một phần nằm chung trong truyền-thống Rồng-Tiên là yêu nước. Phần khác, trong hoàn cảnh Việt Nam của thời-đại này, yêu nước là yêu sự toàn vẹn lãnh-thổ, là mến chuộng xã-hội nhân-bản và dân-chủ. Con đường yêu nước là khi còn trẻ thì lập chí, vượt qua trở ngại, tôi luyện cá-nhân về võ lẫn văn mà quan-trọng nhất là khoa-học kỹ thuật. Lớn lên thì tham-gia phụng-sự cộng-đồng nhân-loại và dân-tộc, cùng góp phần tạo một lớp người cùng mang lý-tưởng xây-dựng một quốc-gia thịnh-vượng có nền giáo-dục nhân-bản, một guồng máy hành-chánh hữu-hiệu.

Nhân viết ít câu chuyện truyền-thống liên-hệ tới Hội Khuyến Học Truyền-Thống Nguyễn Xuân Vinh, tôi xin được nhắc lại một kỷ-niệm đi ăn kem tối với Thầy và những suy nghĩ tản-mạn trong những tối thao-thức về sau. Truyền-thống Nguyễn Xuân Vinh mà Hội Khuyến-Học được vinh-dự mang tên Thầy đã nêu ra cho Giải Thưởng Nguyễn Xuân Vinh hàng năm đã được viết lại cho phù-hợp với tuổi trẻ là Học-giỏi, Phụng-sự xã-hội và Hướng về quê-hương. Riêng tên tiếng Mỹ của hội bây giờ vẫn theo văn-hóa Mỹ là không có chữ tradition, mà là “Nguyễn Xuân Vinh Scholarship Foundation”. Còn quán kem Ted Drewes gọi là quán-kem-truyền-thống Saint Louis cũng chỉ là cách nói của người Việt ở địa-phương chứ Mỹ cũng không dùng chữ tradition, họ chỉ nói tên Ted Drewes là mọi người đều biết đó là quán kem nổi tiếng lâu đời nằm trên đường Chippawa và mà ai tới đây vào mùa Hè-Thu dự Lễ Phát Phần Thưởng cũng nên ghé một lần.

Hy-vọng Hội Khuyến Học Truyền-Thống Nguyễn Xuân Vinh không phải chỉ mở ở Saint Louis mà thôi mà nó sẽ có mặt trên nhiều thành-phố khác để ước-mơ của Phong trong “Tìm Nhau Từ Thuở” trở thành hiện-thực một ngày thật gần.



Lễ Phát Thưởng năm 2003 & Phù hiệu Hội Khuyến-Học Truyền-Thống Nguyễn Xuân Vinh

 



 
Gửi góp ý
Tiêu đề
Nội dung

Những tin mới hơn

  • Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 3
    Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 3

    Nói Về Anh Liêm

    - Mai Thanh Truyết -

    G:\P1030171.JPG

    Việt Hải trong Văn đàn Đồng Tâm có điện thư cho tôi như sau:” Anh Truyết, cùng là nhà giáo, cùng là học trò LPK (Lycée  Petrus Ký) mà sao VH chưa bao giờ thấy anh nói hay viết về GS Nguyễn Thanh Liêm hết?”. Xin thưa, hôm nay, nhân gần đến ngày lễ thượng thọ cho anh Liêm do Văn đàn Đồng Tâm tổ chức, tôi cũng xin góp vài lời viết về anh Liêm của tôi. Trước hết, sở dĩ tôi gọi bằng anh Liêm, vì giữa tôi và anh Liêm có nhiều kỷ niệm với nhau trong suốt thời gian sinh hoạt cộng đồng ở tại đất nước Hoa Kỳ.

    (08/06/2011)
  • Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 2
    Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 2
    Untitled Document

    Những Trở Ngại Lớn Trong Việc Phát Triển Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay

    - Nguyễn Thanh Liêm -

    Việt Nam chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế, và trong thời gian không xa có thể sẽ trở thành thành viên của WTO và các tổ chức kinh tế khu vực. Nhưng muốn hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam phải có chất lượng và khả năng cạnh tranh, và muốn có chất lượng và khả năng cạnh tranh với các nước tân tiến thì Việt Nam trước hết phải có một nền công kỹ nghệ tân tiến tiếp cận với các nước đó. Giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc đưa nước nhà ra khỏi cảnh chậm phát triển, nâng nước Việt lên hàng một quốc gia có nền khoa học kỹ thuật tân tiến...

    (08/06/2011)
  • Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 1
    Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 1

    Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm

    Nhà Văn Biên Khảo, Nhà Giáo Khả Kính.

     

     

    LEAD Technologies Inc. V1.01 Năm 2010

    Tủ sách: Đồng hành với những cây viết trẻ Vinh danh những nhà văn hoá nhân bản của VĂN ĐÀN ĐỒNG TÂM

    ISBN 987-0-98230922-3

    Copyright @ 2010 by Đồng Tâm

    (08/06/2011)
  • Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 6
    Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 6

    Phần Phụ Lục

    Lời Giới Thiệu

    Qua những trang sách của nhiều tác giả trình bầy trước đây, chúng ta đã có được một sự nhìn tổng thể về những hoạt động của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh qua bốn cái Nghiệp, Nghiệp Binh, Nghiệp Giáo, Nghiệp Văn, Nghiệp về ngành Khoa học Không Gian. Qua những lời giáo sư tâm sự cũng như những bài các thân hữu viết về ông, chúng ta cũng có thể mường tưởng được sự kính nể cùa chính phủ Hoa Kỳ, và của giới khoa học và giáo dục ở các nước tiền tiến đối với ông. Sự trân trọng này được thể hiện qua những bảng vinh danh, những sự bầu vào những Hàn Lâm Viện Khoa Học Quốc Tế, những thư mời chủ toạ những buổi hội thảo quốc tế hay thư mời tới giảng dậy đến từ các nước. Ban chủ trương đã được Hội Khuyến Học Truyền Thống Nguyễn Xuân Vinh cung cấp cho một số chứng liệu và chúng tôi đã lựa ra những bản văn cơ bản để trình bầy trong phần Phụ Lục này. Đặc biệt với những bảng vinh danh, chúng tôi chỉ trình bầy tượng trưng từ cấp tiểu bang trở lên mà thôi.

    (05/06/2011)
  • Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 5
    Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 5

    Cuộc Đời Thành Tựu Khoa Học Của Joseph-Louis Lagrange, Toán Gia Lỗi Lạc Nhất Thế Kỷ 18   Bài viết này đưọc trích ra trong chương “Những Vương Công Trong Toán Học” của cuốn sách Vui Ðời Toán Học của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Mỗi bài viết là một câu chuyện thích thú được tác giả kể với ngòi bút bác học của mình. Ðiều đặc biệt ở đây là dù kể chuyện xẩy ra ở nước người, ông cũng đưa vào chút hình ảnh của quê hương và chen thêm kỷ niệm và tâm sự riêng của mình. Cuộc Đời Thành Tựu Khoa Học Của Joseph-Louis Lagrange, Toán Gia Lỗi Lạc Nhất Thế Kỷ 18

    (31/05/2011)

Những tin cũ hơn

  • Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 2
    Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 2

    Vài cảm nghĩ về một nhân tài của đất nước - Lê Văn -

    Tôi được đọc văn của tác giả Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh lần đầu tiên vào khoảng cuối thập niên 1950, ngay từ trước khi được biết ông là một người tài kiêm văn võ, một sĩ quan cao cấp, một phi công hào hùng, từng giữ chức tư lệnh Không Quân VNCH.

    Hồi ấy tôi chỉ là một sinh viên mới bước chân vào ngưỡng cửa đại học, tuổi còn rất trẻ, hăng hái, nồng nàn, tâm hồn đầy ắp những giấc mộng hải hồ có đôi chút viển vông, lãng mạn. Trên bàn viết lúc nào cũng đề sẵn mấy câu châm ngôn chẳng biết của ai để tự nhắc nhở mình:

    Không đi khắp bốn phương trời, Vùi đầu án sách uổng đời làm trai

    (24/05/2011)
  • Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 1
    Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 1

    Kỷ niệm về Nhà Văn, Nhà Giáo, Chiến sĩ và Khoa Học Gia

    Toàn Phong NGUYỄN XUÂN VINH

    Năm 2008

    (24/05/2011)
  • Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm - Phần 6
    Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm - Phần 6

    CHƯƠNG 3

    CÙNG ĐỒNG TÂM

    Tên thật Cao Minh Hưng (Anthony Hưng Cao) Sinh năm 1969 tại Sài gòn, Việt nam. Sau năm 1975, theo gia đình về sống ở Bình Dương. Định cư ở Hoa Kỳ từ năm 1988. Theo học ngành Sinh Vật Học (Biology) ở UCLA. Tốt nghiệp nha khoa từ trường đại học Loma Linda, California năm 1996. Hiện hành nghề nha sĩ tại Costa Mesa, California. Sở thích: Sáng tác nhạc, viết văn, làm thơ, và tập võ Vovinam. Hiện là Phụ tá Chủ bút Tuyển Tập Đồng Tâm . Trụ sở chính tại Houston, Texas. Xuất bản mỗi năm 2 kỳ vào mùa Xuân và mùa Thu
    (18/05/2011)
  • Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm - Phần 5
    Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm - Phần 5

    Trao đổi với Lê Hữu Mục về một số nhận định của ông qua Tiếng nói Đoàn Thị Điểm trong Chinh Phụ ngâm khúc

    - Alexandre Lê - Tưởng niệm thầy Hoàng Xuân Hãn

    Cách đây một năm, Lê Hữu Mục và Phạm Thị Nhung cho ra mắt độc giả một công trình nghiên cứu về bản diễn âm Chinh phụ ngâm khúc 征 婦 吟 曲 hiện hành. Công trình có mục đích giải quyết vấn đề tác giả qua văn bản và bối cảnh lịch sử-văn học. Sách được chia làm hai phần do phân công nghiên cứu. Phạm Thị Nhung là tác giả của phần phân tích văn học, còn Lê Hữu Mục đảm nhiệm phần nghiên cứu nôm học. Tôi đặc biệt chú ý đến phần nôm học vì qua đó cũng có một số vấn đề mà tôi rất quan tâm và mong đợi như văn bản học, ngữ âm học lịch sử,...
    (16/05/2011)
  • Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm - Phần 4
    Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm - Phần 4

    CHƯƠNG 2: NHỮNG CÂY BÚT THÂN HỮU

    Giáo sư Doãn Quốc Sỹ chúc  Giáo sư Lê Hữu Mục

    Nhiều người đã biết về văn tài hán nôm của GS Lê Hữu Mục, những vị thấu triệt cặn kẽ về văn chương hán nôm hẳn chẳng còn mấy ai. Do vậy mà khi VĐĐT bàn thảo với ban chủ trương viết về Giáo Sư Lê Hữu Mục trong loạt sách nhằm vinh danh những nhà văn hoá nhân bản thì nhiều vị cho rằng đề tài hán nôm này khó quá nên ngần ngại ... ông bạn già của tôi là GS Đàm Quang Hưng, Giám đốc Cơ sở Trung Tâm giáo dục Pacific Learning Center vùng Southwest Houston Texas, là người cũng thông thạo về môn hán nôm, khi được hỏi về GS Lê Hữu Mục, ông đã trả lời liền rằng: “Đúng, Lê Hữu Mục là vị Giáo sư rất giỏi về môn Hán Nôm”. Tôi cũng biểu đồng tình với ý kiến của Giáo Sư Đàm Quang Hưng.

    (16/05/2011)
Tin tức
  • Phóng Sự Ra Mắt TTDT số 12 và Web site VDDT
    Phóng Sự Ra Mắt TTDT số 12 và Web site VDDT

    CHƯƠNG TRÌNH GIỚI THIỆU

    TUYỂN TẬP ĐỒNG TÂM SỐ 12 & WEB SITE

    www.VanDan-DongTam.org TẠI HOUSTON TEXAS VÀO NGÀY 15 THÁNG 05 NĂM 2011

    Từ mấy tuần trước ngày Giới Thiệu Sách (GTS), tôi đã nhận được thông báo qua email, và qua diễn đàn của Văn Đàn Đồng Tâm rằng: vào ngày 15- 5- 2011, Văn Đàn Đồng Tâm (VĐĐT) sẽ có buổi giới thiệu Tuyển Tập Đồng Tâm số 12, chủ đề Xuân Hy Vọng, và chính thức ra mắt web site vandan-dongtam.org, được tổ chức tại nhà hàng Phố Núi 8282 đường Bellaire, khu Southwest Houston. 

     

    (29/05/2011)
  • Doãn Quốc Vinh - ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’
    Doãn Quốc Vinh - ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’
      Doãn Quốc Vinh Dùng Nghệ Thuật Để ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’

     

    Doãn Quốc Vinh, hậu duệ của nhà văn lão thành Doãn Quốc Sỹ - cố Vấn VĐĐT, đã sáng tác và thực hiện những tập thơ  được chuyền tay nhau qua các bạn hữu thân thương và những anh chị em trong gia đình của tác giả. Thơ anh chuyên chở nhiều tâm sự - như nhắn nhủ hay hồi tưởng về quá khứ. Những vần thơ âm hưởng lục bát thật ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một bầu trời thênh thang,  tình cảm của tác giả rộng mở chan chứa tình quê hương, dân tộc. Bằng vào sự thiết tha với gia đình cha mẹ anh em, với người tình, với bạn bè thân yêu, cho mọi người xa gần ngay cả với các thành viên của Đồng Tâm chúng ta nữa. Xin cám ơn họa sĩ DQV của ĐT vì ngoài những hoạ phẩm riêng cho TTĐT anh còn gửi thêm qua thi phẩm những nỗi niềm đau thương chua xót hay yêu thương trìu mến của tác giả đối với những điều trông thấy biểu hiện trong 4 tập thơ :  Lục Bát Tùy Bút ,  Lục Bát Đôi Bờ, Lục Bát Ru Hời  và  Lục Bát Tình của Doãn Quốc Vinh DOÃN QUỐC VINH với đêm dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng 9,” sẽ được tổ chức vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011, tại nhà hàng Mon Amour, thuộc thành phố Anaheim, California.

     

    Văn Đàn Đồng Tâm (VDDT) xin hân hạnh giới thiệu và thân mời quý văn thi hữu và đồng hương tham gia ủng hộ thật đông đảo.

     

     

    * * * * *

    Từ “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” Gần đây, tôi được dịp đọc lại “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” trên trang SángTạo.org. Đọc công khai, đọc bao nhiêu lần tùy thích. Càng đọc, càng thích. Càng đọc, càng u ẩn niềm quê. Càng đọc, càng muốn khóc cho cái điêu linh của quê hương, dân tộc, cho cái nhục nhằn của sinh linh. Càng đọc, càng muốn đi tìm tác giả, để cám ơn ông đã cho tôi được sống với đất nước trong một giai đoạn trước khi tôi chào đời. Càng đọc, càng nhớ lại cái lần đầu tiên gặp Doãn Quốc Sỹ trong cái tủ kính khóa chặt của ông Ngoại tôi ở một vùng quê miền Tây Nam đất Việt. Tôi đọc lén. Lén cái chính quyền sau 1975. Lén cả ông Ngoại tôi, vì sách quý, con nít biết gì mà động vào. Tuy sau này tôi mới biết, ông tôi không hề cấm con cháu đọc sách của ông, dù ông quý sách hơn cả vàng (nên tôi oai hùng mượn ông quyển “Ba Sinh Hương Lửa” và vác về nhà đọc một cách hết sức chính quy). “Ngàn vàng dễ kiếm, lời tốt khó tìm.” Quý là đúng. Và quý nhất là cái thông điệp mà nhà văn, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã trân trọng gửi gắm cho độc giả ở cuối truyện. Với cái ngôn ngữ giản dị và một tâm hồn thuần Nho, ông nói lên một sự thật và một thực tế mấu chốt của thời đại chúng ta. “Ở thế giới thực dân tư bản, người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn. Ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.” “Tình thương yêu rộng rãi và chân thành.” Tình thương yêu ấy, nó có mùi vị gì, màu sắc ra sao, kích cỡ thế nào, hình dáng làm sao? Theo tôi, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã xuất sắc trong việc tề gia, để câu trả lời nằm chính ngay trong huyết mạch lưu truyền của ông. Đến “Niêu Cơm Quê Nhà” Con nhà tông, nên chắc chắn phải giống lông giống cánh. Doãn Quốc Vinh, hậu duệ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, đã được bú mớm cái dòng sữa của mẹ và cái dòng tư tưởng của cha từ trong nôi. Doãn Quốc Vinh được biết đến nhiều như một họa sỹ, qua các cuộc triển lãm “Ao Nhà Lung Linh” hay “Chuyện Trò Với Lá,” vừa xuất thần trong bản sắc dân tộc, vừa bật tung những sáng tạo hiện đại. Nhưng Doãn Quốc Vinh cũng dính líu với chữ nghĩa, có lẽ vì cái duyên nghiệp viết lách còn quá nồng nàn giữa hai thế hệ của Doãn gia. Tôi đặc biệt quan tâm đến “Niêu Cơm Quê Nhà,” một bài thơ Doãn Quốc Vinh viết tặng cho người thân ở xa, khi anh còn ở tại Sài Gòn, vào năm 2005.

    Bài thơ dung dị và dân dã như cái niêu cơm, như ý niệm quê nhà, như mối tình thôn quê thuần nông nghiệp. Bài thơ được ‘nấu’ như thế này: “…lạy trời , lạy đất , lạy mây lạy cho lúa chín trĩu đầy hạt thơm lạy cho xó bếp nhiều rơm để tôi thổi chín niêu cơm quê nhà mời anh , mời chị ở xa ghé chơi … xơi chén cơm cà với tôi bát canh bông bí ngọt chồi vại dưa , khoanh cá, khúc dồi … chân quê dăm năm thu vén bộn bề này anh, này chị đường về nhớ chăng?” Doãn Quốc Vinh đã thể hiện “tình thương yêu rộng rãi và chân thành” một cách thật cụ thể trong bài thơ này. Anh cầu khẩn cho có được những điều kiện cần thiết để nấu một bữa cơm nhà quê, để mời những anh những chị đang sống xa quê, vài năm “thu vén bộn bề” một lần, về lại. Anh mong họ được hưởng lại cái không gian quê nhà ngay trên đầu lưỡi. Không dưng anh làm cho tôi thèm mùi khói rơm quá! Nhưng cái sự chuyên cẩn trong từng cái lạy, cái chọn món, cái ‘thổi’ cơm (rất dân dã, và hầu như chỉ còn ở thôn quê Việt Nam vì sự bành trướng của bếp ga, bếp điện) – tất cả bày ra một mâm cỗ của yêu thương, thông cảm, chia sớt. Người-ở-lại Doãn Quốc Vinh đã “chân thành” và cũng rất “rộng rãi” với tâm sức của mình khi đi ngược dòng thời gian, thổi một “niêu cơm quê nhà” để làm ấm lòng người đi xa. Cho đến khi chính anh cũng là người đang đi xa, thì anh lại tiếp tục ‘thổi’ cơm để gửi về cho những đồng bào ở lại, nhất là những đồng bào nghèo khó. Dùng hội họa để “Cho Em Niềm Hy Vọng 9” Doãn Quốc Vinh đã ‘thổi’ cơm cho những người nghèo khổ trên quê hương bằng cách nào? Anh không lạy trời lạy mây nữa. Anh vẽ. Anh đã chọn những bức tranh ưng ý của mình để bán gây quỹ cho SAP-VN tại đêm dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng 9,” sẽ được tổ chức vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011, tại nhà hàng Mon Amour, thuộc thành phố Anaheim. Nếu tình người bàng bạc trong văn chương chữ nghĩa của cha con họ Doãn, thì tình người là một nếp sống hằng ngày trong gia đình này. Doãn gia đã cưu mang bao người cơ bần, ngay giữa lúc họ Doãn cũng phải đối diện với khó khăn thời chiến. Họ Doãn đã dùng cái “tình thương yêu rộng rãi và chân thành” để sống và làm chủ đạo cho dòng tộc mình. Cho nên việc họa sĩ Doãn Quốc Vinh đưa cái “tình thương yêu rộng rãi” ấy đến góp tay với SAP-VN để phục vụ đồng bào trong cảnh khốn cùng, âu chỉ là một việc tất yếu. SAP-VN, với tất cả những thành quả trong hoạt động từ thiện gần hai thập niên qua, đã đón nhận sự giúp đỡ hết mình của biết bao nhân tài và mạnh thường quân. Nhưng sự giúp đỡ của Doãn Quốc Vinh lần này làm cho tôi xúc động theo lũy thừa đôi, có lẽ vì anh diễn đạt cái ‘tình quê’ một cách tự nhiên và sâu sắc, nhất là qua những bài thơ và phát biểu của anh. Trong thời gian chuẩn bị cho ngày gây quỹ, thân mẫu của anh, bà Doãn Quốc Sỹ, nhũ danh Hoàng Thị Thảo, đã hấp hối và qua đời đầu tháng Chín tại Houston, Texas. Có lẽ bà là một trong những người đàn bà hạnh phúc nhất, vì đã có một người phối ngẫu giàu lòng nhân ái như vị văn tài Doãn Quốc Sỹ, đã cùng bà nuôi nấng những người con có tấm lòng tha thiết với quê hương và với đồng bào như Doãn Quốc Vinh. Kính mời quý đồng hương cùng đến, thưởng lãm những “niêu cơm quê nhà” mà Doãn Quốc Vinh đã ‘thổi’ bằng óc sáng tạo và nét cọ tài ba, để cùng SAP-VN thắp sáng tình quê trên những vùng nhân sinh nghèo khổ của quê hương. Nếu không có quý vị, “niêu cơm quê nhà” của Doãn Quốc Vinh sẽ không “chín” nổi vì thiếu lửa. Quý đồng hương có thể mua vé trước tại Nhà Sách Tự Lực (714 531 5290, 714 531 5290), hoặc Tiệm Kính Optometry (714 418 0190, 714 418 0190), hay qua email tại (sapvntix@gmail.com). Nếu có thắc mắc về chương trình gây quỹ, xin quý vị gọi số điện thoại 714-901-1997, 714-901-1997. Xin hẹn cùng ‘ăn cơm quê nhà’ với quý vị lúc 4:30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011 tại Nhà hàng Mon Amour (Mon Cheri 2 cũ), tọa lạc tại 3150 W. Lincoln Ave, #134, Anaheim, CA 92801.

     

    Trangđài Glassey-Trầnguyễn

     

     

     

    (10/10/2011)
  • Ra Mắt Tuyển Tập VDDT 12 - Xuân Hy Vọng
    Ra Mắt Tuyển Tập VDDT 12 - Xuân Hy Vọng

     

                               

     

    Thư Mời

    Văn Đàn Đồng Tâm (VDDT) trân trọng kính mời quý văn nghệ sĩ và đồng hương thân hữu, vui lòng dành chút thời gian đến tham dự buổi liên hoan văn nghệ giới thiệu tuyển tập VDDT số 12, chủ đề Xuân Hy Vọng, được tổ chức tại nhà hàng Phố Núi, địa chỉ 8282 Bellaire Blvd. Houston TX 77072, vào chiều Chúa nhật, ngày 15 tháng 05 năm 2011, từ 4PM đến 9PM.

     

    Chương trình gồm nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc, hấp dẫn do nhiều nghệ sĩ tham gia trình diễn (Hoàng Kim Khánh, Sonny Phan, Lệ Ngọc, Nguyệt Khánh, J. Ngọc, Nhật Hạnh, Phan Thanh, v.v…)

     

    Vào Cửa Tự Do. Phục vụ Ẩm Thực Miễn Phí.

    Tặng Quà Lưu Niệm. Dạ Vũ Vui Nhộn.

     

    Sự hiện diện của quý vị là một vinh dự và niềm khích lệ lớn lao đối với VDDT.

    Trân trọng kính mời

     

    Thay mặt Ban Tổ Chức

     

    Cù Hoà Phong

    281-975-9782

     

    P.S. Vì chỗ ngồi có giới hạn, xin quý vị vui lòng sớm ghi danh tham dự qua email vandandongtam@gmail.com hay điện thoại cho Tạ Xuân Thạc (281-370-0233), Cù Hoà Phong (281-975-9782) để nhận vé mời.

    Xin chân thành cám ơn.

     

     

                            

     

     

     

     

     

     

    (12/05/2011)
Quảng cáo
PharmTrustPharmacy
TRỢ CẤP TÀN TẬT – SSI
drmainguyen
Northside Domestic & Import
Nguyen Phi Loi
KS Bellaire
nicolasdetal
Mark D.Le M.D.,P.A
Nguyen Quoc Dung
Tofu
Nhan Hien