Chuyên mục
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 1
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 2
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 3
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 4
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 5
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 5
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 6
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 6
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 7
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 10
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 12
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 16
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Phần 21
Phần 22
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 17
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 18
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 19
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Sách kỷ niệm
Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Kỷ Niệm Về Nhạc Sĩ Anh Bằng
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Kỷ niệm về thi sỹ Hà Thượng Nhân, Dòng thơ bất tử
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Sách Kỷ Niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ
Phần 1
Phần 2
Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Văn học
Văn
Thơ
Nghệ thuật
3 videos clips của buổi TalkShow trên đài truyền hình BYN
Âm nhạc
Âm nhạc
Archive
Music Online

There seems to be an error with the player !

Hình ảnh
Video Clip
Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 2
Thứ tư, 08 Tháng 6 2011 09:06
Mục Lục
Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 2
Căn Cước Mới Cho Người Việt Và Tương Lai Của Đất Nước
Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm Và Tôi
Giáo Sư Cố Vấn VĐĐT Nói Về Chữ Tâm
Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm, Người Thầy Thời Gian
Hội Ngộ Với Thầy Nguyễn Thanh Liêm
Anh Liêm Như Tôi Đã Biết Từ Lâu...
Hữu Duyên Tương Ngộ
Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm,
Người Đẹp, Việc Đẹp: GS Nguyễn Thanh Liêm, Trường Petrus Kyù Và Nền Giáo Dục Miền Nam VN Trước Năm 1975
Hữu Duyên Thiên Lý
Không Thầy Đố Bạn Làm Nên
Vần Thơ Tặng Thầy
Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm, Người Bạn Đồng Môn và Bạn Đồng Nghiệp Của Tôi Tại Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký
Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm: Văn Hóa Và Giáo Dục
Về Một Nhân Vật Đàn Anh
Anh Hai
Vài Cảm Nghĩ Về Một Người Thầy
Tất cả các trang

Những Trở Ngại Lớn Trong Việc Phát Triển Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay

- Nguyễn Thanh Liêm -

Việt Nam chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế, và trong thời gian không xa có thể sẽ trở thành thành viên của WTO và các tổ chức kinh tế khu vực. Nhưng muốn hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam phải có chất lượng và khả năng cạnh tranh, và muốn có chất lượng và khả năng cạnh tranh với các nước tân tiến thì Việt Nam trước hết phải có một nền công kỹ nghệ tân tiến tiếp cận với các nước đó. Giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc đưa nước nhà ra khỏi cảnh chậm phát triển, nâng nước Việt lên hàng một quốc gia có nền khoa học kỹ thuật tân tiến. Đó là lý do tại sao vấn đề giáo dục được các nhà lãnh đạo đặt lên hàng đầu quốc sách trong những năm gần đây, nhất là trong một seminar về giáo dục hồi năm rồi tại Hà Nội. Nhiều vấn đề được mổ xẻ, nhiều kế hoạch phát triển được đề ra, và nhiều sách lược đổi mới được nói đến từ mấy năm nay. Nhưng như nhiều nhà giáo dục đã nhận định, cho đến giờ phút này, tình trạng giáo dục ở Việt Nam là vẫn giẫm chân tại chỗ, có nghĩa là càng ngày càng đi lùi xa phía sau các nước tân tiến trong khu vực cũng như trên thế giới. Sự thật như thế nào?

TÌNH TRẠNG GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM VÀO ĐẦU THẾ KỶ XXI

Việt Nam đã bắt đầu đổi mới từ giữa thập niên 1980. Từ lúc đổi mới đến đầu thế kỷ XXI , Việt Nam có đủ thời gian và điều kiện chính trị (đất nước hòa bình) để phát triển, thăng tiến giáo dục, nhưng thực tế cho thấy sự việc đã không xảy ra như vậy.
Dưới mắt những nhà giáo dục Việt Nam ở hải ngoại

Hồi tháng 11 năm 2001 hội Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam có tổ chức một hội thảo về “quan điểm về việc phát triển Việt Nam.” Trong buổi hội thảo này có hai bài thuyết trình về hiện trạng giáo dục ở Việt Nam. Bài thứ nhất của giáo sư tiến sĩ Nguyễn Lâm Kim Oanh, cho một cái nhìn khái quát về tình trạng của các trường trung tiểu học phổ thông. Những yÙ chính được ghi lại như sau trong đặc san 2002 của hội Khoa Học và Kỹ Thuật:
“Các trường rất nghèo nàn và thiếu thốn trợ huấn cụ, tài liệu giáo khoa, và điều kiện thực tập. Các lớp học thường rất đông học sinh, và chương trình học có tính cách từ chương và nhồi sọ. Mặc dù có nhiều chương trình huấn luyện giáo dục, nhất là của Liên Hiệp Quốc, giáo chức Việt Nam không thể áp dụng những điều học hỏi vì thiếu phương tiện và bận làm việc khác để sinh sống vì mức lương quá thấp...”

Bài thứ nhì của giáo sư tiến sĩ Nguyễn Văn Thùy, đặc biệt chú trọng về tình trạng đại học ở Việt Nam. Giáo sư Thùy đi sâu vào cơ cấu tổ chức giáo dục bậc đại học và những yếu kém của nền giáo dục vô cùng quan trọng này. Ý chính được tóm lược như sau trong đặc san 2002 của hội KH KT:
“Vấn đề đại học Việt Nam là một khía cạnh nhức nhối của chánh quyền hiện nay và của đất nước trong tương lai. Có quá nhiều trường đại học, có nhiều loại trường không thể phân biệt, và không theo đúng tiêu chuẩn quốc tế. Tổ chức đào tạo mánh mun, giáo dục bị thương mại hóa. Bố trí cơ sở có sự cách biệt giữa miền Bắc và miền Nam. Đào tạo chuyên ngành bị trục lợi nên gây ra tình trạng bè phái và thiếu trình độ. Việc tuyển sinh đại học không công bằng giữa các địa phương, buôn bán chỉ tiêu tuyển sinh, điểm thi của thí sinh càng ngày càng hạ thấp. Về việc học ở đại học và cao đẳng, sinh viên không có đầy đủ phương tiện như sách giáo khoa, phương tiện thông tin, và thư viện; giáo sư đại học có trình độ thấp, lương không đủ sống; tỉ lệ thất nghiệp của sinh viên thất nghiệp gia tăng.”

Trên đây là ý kiến của hai giáo sư tiến sĩ ở hải ngoại đã có dịp về thăm viếng, nghiên cứu về tình trạng giáo dục ở nước nhà từ Trung Tiểu học phổ thông đến đại học và cao đẳng chuyên nghiệp vào những năm 2000-01.
Theo báo chí trong nước:
Cơ quan chính thức của Đảng Cọng Sản, khi nhận định về giáo dục đào tạo, đã ghi những yếu kém sau đây:

(a) Chất lượng giáo dục nói chung còn thấp một mặt chưa tiếp cận được với trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, mặt khác chưa đáp ứng với các ngành nghề trong xã hội. (b) Hiệu quả hoạt động giáo dục chưa cao. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp: còn nhiều học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp chưa có việc làm. (c) Cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền đã được khắc phục một bước song vẫn còn mất cân đối. (d) Đội ngủ nhà giáo thiếu về số lượng và nhìn chung thấp về chất lượng. (e) Cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu thốn. Chưa thanh toán hết các lớp học 3 ca. (f) Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa. (g) Công tác quản lý giáo dục còn kém hiệu quả.
Ngoài những yếu kém nói trên, còn có những tệ trạng giáo dục chưa hay không giải quyết được. Báo Sài Gòn Giải Phóng ghi lại cuộc phỏng vấn một thứ trưởng giáo dục (ông Trần Văn Nhung) về tệ nạn phao thi như sau: “Cùng với hiện tượng thi hộ, thi kèm, trong kỳ thi ĐH-CĐ năm nay, tình trạng phao thi xuất hiện tràn lan đang khiến dư luận rất bức xúc, ông có thể cho biết vì sao lại có tình trạng này?”
Trong một cuộc phỏng vấn khác của báo Đảng Cọng Sản, với thứ trưởng giáo dục Lê Vũ Hùng nhà báo hỏi: Hàng chục ngàn sinh viên ra trường không có việc làm, vì sao? Ngành giáo dục đào tạo có bó tay trước tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan, tình trạng bằng thật, học giả? Hàng chục vạn giáo viên không đạt chuẩn sẽ làm gì và đi về đâu?
Dưới cái nhìn của một nhà báo Mỹ
Một nhà báo Mỹ (David Lamb), thăm viếng Việt Nam gần đây (2001) có những nhận định như sau về vấn đề giáo dục ở xứ này: Học sinh chăm chỉ và lễ phép nghe lời thầy cô giảng, ghi lại đúng những điều thầy cô nói, và yên lặng, trật tự ra về lúc hết giờ. Đến ngày thi học sinh viết lại thuộc lòng những gì đã học. Bàn cải, thách thức hay có câu hỏi gì đối với thầy cô là bị xem như vô lễ. Về sử chẳng hạn, David Lamb viết:” Sử là cái gì thầy cô nói – hay đúng hơn là cái gì Đảng Cọng Sản nói – Nó không được mở ra cho những cắt nghĩa nhận định” (“ History was what the teacher said – or more precisely, what the Communist Party said – It was not open to interpretation.”)
Chi phí hằng năm cho mỗi đầu học sinh là $41 (bậc trung học) trong khi ở những thành phố giàu ở Mỹ là $7300 (Western Connecticut). Lương giáo chức chỉ vào khoảng $30 mỗi tháng (trong khi ở Western Connecticut lương giáo chức có thể lên tới $60,000 một năm). Vì lương quá thấp, không đủ sống nên họ cần phải làm nhiều việc khác mới đủ sống, nhất là dạy thêm, dạy riêng thêm ngoài giờ học. Tệ nạn mua bán bằng cấp, mua bán thứ hạng cho học sinh ở đâu cũng có. Theo sự xếp hạng của cơ quan Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới thì Việt Nam đứng hàng thứ 53 trong tổng số 59 nước về phương diện tư thế cạnh tranh tổng thể. Về chỉ số tham nhũng (Corruption Index) do cơ quan Transparency International xuất bản thì Việt Nam là 1 trong 14 xứ tham nhũng nhất trong danh sách 100 nước. Vào năm 2001 cơ quan Hong Kong consultancy nâng Việt Nam lên hàng tham nhũng số 1 trong các nước tham nhũng nhất ở Á Châu. Nhìn chung dù đã có đổi mới, Việt Nam vẫn còn trong tình trạng kém mở mang và còn là một nước nghèo trong danh sách của những nước nghèo nhất thế giới. Kết luận của David Lamb: “Các chuyên viên phát triển quốc tế tin rằng cải tiến giáo dục là một trong ba hay bốn thách thức lớn nhất mà chánh phủ Việt Nam phải đương đầu nếu muốn trở thành một nước có tư thế cạnh tranh, bớt tham nhũng, và đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân.” ( “ Educational reform, international development experts believed, was one of the three or four biggest challenges the government had to confront if Vietnam was to become more competitive, less corrupt, and more in tune with the aspirations of its people.”)
Tóm lại tình trạng giáo dục ở Việt Nam vào đầu thế kỷ XXI có nhiều yếu kém, phải đương đầu với nhiều khó khăn về tất cả các phương diện: (1) trường sở, (2) cơ cấu tổ chức, (3) quản trị/điều hành, (4) chương trình giảng dạy, (5) tài liệu/học cụ giáo khoa, (6) hàng ngũ giáo chức, và (7) vấn đề thi cử /lượng giá học sinh.
BIỆN PHÁP CẢI TIẾN VÀ CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN
Tựa trên những lời tuyên bố của các nhà lãnh đạo giáo dục, những bài viết trên báo chí trong nước, những quyết định trong các đại hội đảng thứ VIII và thứ IX và của Thủ Tướng chính phủ, chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đề ra những mục tiêu phát triển cấp bậc học, trình độ và loại hình giáo dục như sau:
. Giáo dục mầm non: tăng tỷ lệ trẻ dưới 3 tuổi đến nhà trẻ từ 12% năm 2000 lên 15% năm 2005 và 18% năm 2010; tăng tỷ lệ trẻ 3-5 đến mẫu giáo từ 50% năm 2000 lên 58% năm 2005 và 67% năm 2010; tăng tỷ lệ trẻ 5 tuổi vào mẫu giáo chuẩn bị vào lớp Một từ 81% năm 2000 lên 85% năm 2005 và 95% năm 2010.
. Giáo dục phổ thông: tăng tỷ lệ học sinh trong độ tuổi từ 95% năm 2000 lên 97% năm 2005 và 99% năm 2010. Đạt chuẩn phổ cập Trung học cơ sở ở các thành phố, đô thị, vùng kinh tế phát triển năm 2005, trong cả nước năm 2010. Tăng tỷ lệ học sinh trong độ tuổi THCS từ 74% năm 2000 lên 80% năm 2005 và 90% năm 2010. Tăng tỷ lệ học sinh THPT từ 38% năm 2000 lên 45% năm 2005 và 50% năm 2010.
. Giáo dục cao đẳng, đại học và sau đại học: Nâng tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân từ 118 năm học 2000-2001 lên 200 vào năm 2010. Tăng quy mô đào tạo thạc sĩ từ 11,727 năm 2000 lên 38,000, nghiên cứu sinh từ 3,870 năm 2000 lên 15,000 vào năm 2010....
Đại khái còn một số các mục tiêu khác liên hệ đến các trường chuyên nghiệp, giáo dục không chính quy, giáo dục trẻ khuyết tật, vv... Nhìn chung đây là những mục tiêu phát triển về số lượng nhưng còn về phẩm chất thì như thế nào?

Nhằm cải tiến phẩm chất của giáo dục nhà lãnh đạo nêu ra các giải pháp:
. Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục,
. Phát triển đội ngủ nhà giáo, đổi mới phương pháp giáo dục,
. Đổi mới quản lý giáo dục,
. Tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và phát triển mạng lưới
trường, lớp, cơ sở giáo dục,
. Tăng cường nguồn tài chính, cơ sở vật chất cho giáo dục,
. Đẩy mạng xã hội hóa giáo dục,
. Đẩy mạng hợp tác quốc tế về giáo dục.

Chúng ta thấy có một số những đổi mới được nêu ra ở đây nhưng không thấy nói rõ cái mới đây là cái gì và phải làm gì để đổi mới. (Trước đây giáo sư Đỗ Bá Khê có nhận xét về sự đổi mới các đại học ở Việt Nam là thật sự trở về cái cũ, tức là cái đã có ở miền Nam hồi trước năm 1975). Những biện pháp trên đây thật ra cũng đã được các nhà lãnh đạo nói đến trong đại hội VIII của Đảng Cộng Sảnï. Họ đã đề ra và họ đã cố áp dụng nhưng kết quả không được bao nhiêu. Trong seminar về giáo dục tổ chức từ ngày 3/6 đến ngày 25/9/2004 (với 5 lần họp) tại Hà Nội, nhiều nhà giáo dục trong cũng như ngoài nước, khi nhận định về tình trạng giáo dục hiện thời ở Việt Nam đều xác nhận là không có hiệu quả, ngược lại còn đi thụt lùi một cách rất đáng ngại. Ngoài những con số cho thấy đà phát triển bình thường về số lượng của một quốc gia, phẩm chất của giáo dục (phần chính yếu giúp tân tiến hóa và hiện đại hóa xã hội) vẫn trong tình trạng rất yếu kém so với các nước khác trong khu vực. Trong seminar này các nhà giáo dục đã dưa ra một bản kiến nghị gồm ba phần. Phần thứ nhất phân tích tình trạng giáo để tìm ra cái gốc của các khó khăn và bất cập hiện nay, phần thứ hai đề xuất phương hướng hiện đại hóa giáo dục để khắc phục các khó khăn và bất cập một cách cơ bản, và phần ba trình bày một số giải pháp cấp bách cần thực hiện để trả lại môi trường hoạt động bình thường cho giáo dục, và mở đường chuyển dần sang cải cách, hiện đại hóa toàn hệ thống. Trong phần 1, bản kiến nghị ghi:
“Ai cũng biết vai trò quan trọng của giáo dục đối với tiền đồ dân tộc. Thế nhưng từ nhiều năm, chúng ta đã để cho giáo dục Việt Nam tụt hậu khá xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nhìn chung cả nước, hệ thống giáo dục chưa ra khỏi trạng thái lộn xộn bất bình thường, hoạt động không theo quy luật khoa học, hiệu quả kém, chất lượng thấp, đang có nguy cơ bị thương mại hóa theo xu hướng ngược với lý tưởng công bằng và dân chủ của xã hội. . . . sự sút kém của giáo dục hoàn toàn không xứng với tiềm năng của dân tộc, cả về tinh thần, trí tuệ, vật chất cũng như vận hội. . . . tuy chúng ta đã có nhiều cố gắng để vực giáo dục lên, song những căn bệnh chính của nó không hề giảm, trái lại ngày càng trầm trọng và kéo dài chưa biết đến bao giờ. . . .”
Tại sao?
Những yếu tố quyết định (determining factors) trong việc nâng cao phẩm chất giáo dục là nhân sự và phương tiện. Về nhân sự, từ các nhà lãnh đạo giáo dục đến các cán bộ cao cấp, cần phải là những người có căn bản học vấn cao, có quan niệm giáo dục tân tiến hiện đại, có kiến thức khoa học vững chắc, có tinh thần khai phóng, có sáng kiến và có tinh thần phụng sự quốc gia dân tộc. Giáo sư đại học phải có căn bản học vấn cao và vững chắc, và họ cần có tự do để nghiên cứu, phân tích, lựa chọn cái hay, có phương tiện vật chất và tinh thần để hoạt động của họ thật sự có hiệu năng. Rất tiếc là những yếu tố này không có ở Việt Nam hiện nay. Các nhà lãnh đạo vẫn ôm ấp chính sách độc tài, độc quyền của đảng, nghi kỵ những sáng kiến lạ, khư khư ôm chặt những cái đang có, tránh xa tính cách tự do, khai phóng của giáo dục tiến bộ. Một số lớn các giáo sư đại học thật sự có giá trị trước kia đã ra đi vì không thể làm việc được dưới chế độ cọng sản. Thay vào đó là những người được gởi đi học ở Nga Sô và các nước cộng sản Đông Âu. Những tiến sĩ/phó tiến sĩ xuất thân từ các nước này thường chỉ mang về tờ giấy bằng cấp có tính cách nghi thức ngoại giao hơn là thực học. Những kiến thức về khoa học và xã hội của họ không sâu xa tiên tiến như kiến thức của những người được đào tạo trong các xứ văn minh của thế giới tự do. Nhưng họ lại là người của đảng cọng sản, và chính quyền vẫn còn giữ khuynh hướng “hồng hơn chuyên,” và chế độ “bao che” cho nên họ đã chiếm những địa vị then chốt trong cơ cấu giáo dục. Thành phần cốt cán này sẽ làm gì được để nâng cao phẩm chất của nền giáo dục nước nhà hay chỉ ngồi ôm chặt cái ghế của mình để áp dụng những kiến thức chật hẹp, lỗi thời. Một số các nhà lãnh đạo cọng sản cũng thấy sự sai lầm, thiếu sót đó. Họ cũng muốn đem giáo sư giỏi, hải ngoại về phục vụ. Nhưng người giỏi ở hải ngoại có thể về làm việc ở Việt Nam được không? Được nhưng mà không. Được, có nghĩa là chánh quyền sau khi điều tra cẩn thận có thể cho phép người nước ngoài về phục vụ đại học trong nước. Nhưng không vì không có điều kiện và phương tiện để phục vụ hữu hiệu. Muốn dạy cái gì thì phải tự mình soạn tài liệu giáo khoa, trình lên chính quyền, được chính quyền duyệt qua, chấp thuận cho thì mới được dạy, và phải dạy đúng những gì đã được chấp thuận. Giáo sư không có cái tự do cần thiết của giáo sư đại học mà ta thường thấy ở đây. Lương thì quá thấp, học liệu, học cụ đều không có. Thành ra người nước ngoài dù có thiện chí muốn giúp phát triển cũng không giúp được.
TS Đỗ Nguyên Phương, trưởng ban khoa giáo trung ương đảng CSViệt Nam, nhận định là việc đào tạo nhân lực ở Việt Nam trong 20 năm qua chưa bám sát cơ cấu lao động, chất lượng đào tạo nhân lực, nhất là ở bậc đại học, còn thấp so với mục tiêu giáo dục, với yêu cầu nhân lực phục vụ phát triển kinh tế–xã hội và với trình độ các nước trong khu vực. Nội dung, phương pháp dạy đại học chưa đáp ứng tốt yêu cầu chuẩn bị nhân lực cho công nghiệp hóa và trình độ chưa theo kịp phát triển khoa học công nghiệp hiện đại. Đặc biệt là công tác bồi dưỡng và sử dụng nhân tài chưa được quan tâm đúng mức. Cơ chế quản lý hoạt động khoa học, công nghệ và văn hóa còn nhiều dấu ấn của lối quản lý hành chánh, quan liêu, bao cấp. Chánh sách đối với người tài không rõ ràng, đồng bộ nên người có thực tài vươn lên khó khăn gây chán nản trong hàng ngũ trí thức. Thiếu những cơ chế đủ mạnh để chuyển những người không có khả năng nghiên cứu sang những công việc khác thích hợp với năng lực hoặc sàng lọc những người bất tài sa sút đạo đức nghiêm trọng. Cơ chế hiện nay vẫn “dành chỗ đứng” cho những người làm việc cầm chừng, dung túng sự lười biếng trong sáng tạo, không tạo được sự đua chen cần thiết và chính đáng về tài năng và cống hiến. Số cán bộ khoa học và công nghệ và nhà giáo có trình độ cao còn ít mà lại không được sử dụng tốt. Cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý chủ yếu được đề bạt rồi mới đào tạo nên thường hụt hẫng, chấp vá, thiếu chuyên sâu. Một số người khác đang bị lão hóa, ít có điều kiện cập nhật hóa kiến thức mới. Sự hẫng hụt cán bộ nghiêm trọng nhất là trong lãnh vực khoa học cơ bản. CNH và HĐH rất cần thiết để Việt Nam phát triển và tiến bộ gần với các nước tiền tiến khác. Trong CNH và HĐH trí thức đóng vai trò chủ yếu nhưng theo ông Phương thì cho đến nay vấn đề xây dựng đội ngũ trí thức còn bị nhiều hạn chế: thiếu chiến lược và quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, chưa gắn kết và đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH, chưa xây dựng được những trường đại học đạt chuẩn quốc tế, chưa có chính sách phát hiện đãi ngộ trí thức. (Kinh phí bình quân cho mỗi cán bộ KH-CN hiện nay là 10 triệu/năm, dưới 1000 USD, cán bộ giảng dạy ở đại học là 300USD trong khi ở Thái Lan là 18,000 USD, và Nhật Bản là 194,000 USD. Một giáo sư hải ngoại về dạy đại học Việt Nam lãnh 100 USD mỗi tháng). Không thể sống bằng lương nên số đông trí thức phải xoay sở đủ cách (chính đáng hay không chính đáng) để tăng thu nhập. Họ không có điều kiện để tập trung vào công tác chuyên môn, vào nghiên cứu, học hỏi nâng cao trình độ.
Một tệ nạn khác, cũng từ một tệ nạn chung của cả quốc gia, có nhiều ảnh hưởng tai hại cho giáo dục: đó là nạn tham nhũng, tham nhũng từ những cách “rút ruột” (trong những công trình xây cất, mua sắm) đến những “phong bì” (đút lót để mua bằng cấp, gian lận thi cử, mua chức vụ, mua chổ học trong những trường tốt), đến nạn dạy thêm lan tràn, vv. . . tất cả những sự việc tiêu cực này đều có công dụng chung là hạ thấp giá trị nền giáo dục quốc gia.
Nhân sự và phương tiện (vật chất lẫn tinh thần) cùng với tệ trạng tham nhũng đến nay vẫn còn là những trở ngại lớn lao cho việc phát triển giáo dục hiện thời ở Việt Nam. Nhưng nghĩ cho cùng thì đó cũng chỉ là những viên đá to chắn ngang đường đi ở đằng sau một tảng đá vỉ đại ở phía trước. Chướng ngại lớn lao đó là chính sách gò bó độc tài chuyên chính của chính thể hiện hữu. Những người có thiện chí, có khả năng muốn giúp dọn sạch những chướng ngại đó đi thì phải đi vòng qua tảng đá vĩ đại kia để cố dẹp bớt những chướng ngại nhỏ ở phía sau còn tảng đá không lồ kia thì chắc khó bề lay chuyển. Tảng đá vĩ đại đó là chế độ và đảng cộng sản độc tài độc đoán đang cai trị nước Vịệt Nam.
KẾT LUẬN
Nếu những chướng ngại vẫn còn nằm ì ra đó thì 10 năm nữa hay 20 năm nữa chưa chắc gì xã hội Việt Nam đã được công nghiệp hóa và hiện đại hóa như các nhà lãnh đạo giáo dục muốn, chưa chắc gì nước Việt Nam thoát được tình trạng vẫn là một trong những nước nghèo nhất của thế giới văn minh, và chưa chắc gì người dân Việt có được đời sống hạnh phúc ấm no như người dân các xứ khác trong khu vực. Thế hệ trẻ Việt Nam chưa chắc đã có thể có cơ hội và điều kiện để học hỏi, tiến thân, phụng sự quê hương như thế hệ trẻ ở các nước tiền tiến trên thế giới. Đó là những ưu tư của người làm giáo dục vậy.
Đã có một số người có đủ tiền của gởi con đi học ở xứ ngoài như Mỹ, Pháp, và một ít các nước văn minh khác. Có cơ hội hấp thụ văn hóa dân chủ tự do những người trẻ này có giúp được gì chăng? Có nên hy vọng ở lớp người này chăng trên con đường đổi mới giáo dục, CNH và HĐH nước nhà trong thời gian sắp tới? Hay là nên mong mỏi cho trở ngại lớn nhất vừa nói trên kia được dẹp đi để cho lớp trẻ có thiện chí trong cũng như ngoài nước có cơ hội cải tiến giáo dục, làm giàu quốc gia, đem hạnh phúc về cho nhân dân? Hy vọng tất nhiên là phải có nhưng rất mong manh. Ánh sáng ở cuối đường hầm vẫn xa xôi mù mịt.

GS Nguyễn Thanh Liêm

 



 
Gửi góp ý
Tiêu đề
Nội dung

Những tin mới hơn

  • Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 3
    Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 3

    Nói Về Anh Liêm

    - Mai Thanh Truyết -

    G:\P1030171.JPG

    Việt Hải trong Văn đàn Đồng Tâm có điện thư cho tôi như sau:” Anh Truyết, cùng là nhà giáo, cùng là học trò LPK (Lycée  Petrus Ký) mà sao VH chưa bao giờ thấy anh nói hay viết về GS Nguyễn Thanh Liêm hết?”. Xin thưa, hôm nay, nhân gần đến ngày lễ thượng thọ cho anh Liêm do Văn đàn Đồng Tâm tổ chức, tôi cũng xin góp vài lời viết về anh Liêm của tôi. Trước hết, sở dĩ tôi gọi bằng anh Liêm, vì giữa tôi và anh Liêm có nhiều kỷ niệm với nhau trong suốt thời gian sinh hoạt cộng đồng ở tại đất nước Hoa Kỳ.

    (08/06/2011)

Những tin cũ hơn

  • Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 1
    Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 1

    Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm

    Nhà Văn Biên Khảo, Nhà Giáo Khả Kính.

     

     

    LEAD Technologies Inc. V1.01 Năm 2010

    Tủ sách: Đồng hành với những cây viết trẻ Vinh danh những nhà văn hoá nhân bản của VĂN ĐÀN ĐỒNG TÂM

    ISBN 987-0-98230922-3

    Copyright @ 2010 by Đồng Tâm

    (08/06/2011)
  • Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 6
    Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 6

    Phần Phụ Lục

    Lời Giới Thiệu

    Qua những trang sách của nhiều tác giả trình bầy trước đây, chúng ta đã có được một sự nhìn tổng thể về những hoạt động của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh qua bốn cái Nghiệp, Nghiệp Binh, Nghiệp Giáo, Nghiệp Văn, Nghiệp về ngành Khoa học Không Gian. Qua những lời giáo sư tâm sự cũng như những bài các thân hữu viết về ông, chúng ta cũng có thể mường tưởng được sự kính nể cùa chính phủ Hoa Kỳ, và của giới khoa học và giáo dục ở các nước tiền tiến đối với ông. Sự trân trọng này được thể hiện qua những bảng vinh danh, những sự bầu vào những Hàn Lâm Viện Khoa Học Quốc Tế, những thư mời chủ toạ những buổi hội thảo quốc tế hay thư mời tới giảng dậy đến từ các nước. Ban chủ trương đã được Hội Khuyến Học Truyền Thống Nguyễn Xuân Vinh cung cấp cho một số chứng liệu và chúng tôi đã lựa ra những bản văn cơ bản để trình bầy trong phần Phụ Lục này. Đặc biệt với những bảng vinh danh, chúng tôi chỉ trình bầy tượng trưng từ cấp tiểu bang trở lên mà thôi.

    (05/06/2011)
  • Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 5
    Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 5

    Cuộc Đời Thành Tựu Khoa Học Của Joseph-Louis Lagrange, Toán Gia Lỗi Lạc Nhất Thế Kỷ 18   Bài viết này đưọc trích ra trong chương “Những Vương Công Trong Toán Học” của cuốn sách Vui Ðời Toán Học của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Mỗi bài viết là một câu chuyện thích thú được tác giả kể với ngòi bút bác học của mình. Ðiều đặc biệt ở đây là dù kể chuyện xẩy ra ở nước người, ông cũng đưa vào chút hình ảnh của quê hương và chen thêm kỷ niệm và tâm sự riêng của mình. Cuộc Đời Thành Tựu Khoa Học Của Joseph-Louis Lagrange, Toán Gia Lỗi Lạc Nhất Thế Kỷ 18

    (31/05/2011)
  • Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 4
    Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 4

    Đôi dòng về vị thầy khả kính

    - Nguyễn Ngọc Minh -

    Khi xưa tôi mới vào lớp đệ thất, người thầy dạy môn Việt Văn bắt chúng tôi học thuộc lòng bài văn "Tôi Đi Học". Đây là một truyện ngắn của nhà văn Thanh Tịnh. Tôi nhớ đoạn mở đầu như sau:

    "Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng. Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã. Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học."

    (30/05/2011)
  • Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 3
    Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 3

    Truyền thống Nguyễn Xuân Vinh - Việt-Vũ - Nguyễn Tri Phương - (Thư-ký Hội Khuyến-Học Truyền-Thống Nguyễn Xuân Vinh)

    Saint Louis không phải là thành phố du-lịch nhưng nếu khách tới thăm cũng có chỗ đi thăm. Cầu Vồng ở downtown bên bờ sông Mississipi tượng-trưng cho cửa ngõ trên đường Tây tiến của người Mỹ di-dân. Động đá vôi Meramec tương-truyền là chỗ ẩn-núp của anh em hai tên cướp lừng danh Jessy James từng tổ-chức cướp táo-bạo những chuyến xe lửa xuyên bang đem về ẩn chứa trong các hang động này.

    (25/05/2011)
Tin tức
  • Phóng Sự Ra Mắt TTDT số 12 và Web site VDDT
    Phóng Sự Ra Mắt TTDT số 12 và Web site VDDT

    CHƯƠNG TRÌNH GIỚI THIỆU

    TUYỂN TẬP ĐỒNG TÂM SỐ 12 & WEB SITE

    www.VanDan-DongTam.org TẠI HOUSTON TEXAS VÀO NGÀY 15 THÁNG 05 NĂM 2011

    Từ mấy tuần trước ngày Giới Thiệu Sách (GTS), tôi đã nhận được thông báo qua email, và qua diễn đàn của Văn Đàn Đồng Tâm rằng: vào ngày 15- 5- 2011, Văn Đàn Đồng Tâm (VĐĐT) sẽ có buổi giới thiệu Tuyển Tập Đồng Tâm số 12, chủ đề Xuân Hy Vọng, và chính thức ra mắt web site vandan-dongtam.org, được tổ chức tại nhà hàng Phố Núi 8282 đường Bellaire, khu Southwest Houston. 

     

    (29/05/2011)
  • Doãn Quốc Vinh - ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’
    Doãn Quốc Vinh - ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’
      Doãn Quốc Vinh Dùng Nghệ Thuật Để ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’

     

    Doãn Quốc Vinh, hậu duệ của nhà văn lão thành Doãn Quốc Sỹ - cố Vấn VĐĐT, đã sáng tác và thực hiện những tập thơ  được chuyền tay nhau qua các bạn hữu thân thương và những anh chị em trong gia đình của tác giả. Thơ anh chuyên chở nhiều tâm sự - như nhắn nhủ hay hồi tưởng về quá khứ. Những vần thơ âm hưởng lục bát thật ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một bầu trời thênh thang,  tình cảm của tác giả rộng mở chan chứa tình quê hương, dân tộc. Bằng vào sự thiết tha với gia đình cha mẹ anh em, với người tình, với bạn bè thân yêu, cho mọi người xa gần ngay cả với các thành viên của Đồng Tâm chúng ta nữa. Xin cám ơn họa sĩ DQV của ĐT vì ngoài những hoạ phẩm riêng cho TTĐT anh còn gửi thêm qua thi phẩm những nỗi niềm đau thương chua xót hay yêu thương trìu mến của tác giả đối với những điều trông thấy biểu hiện trong 4 tập thơ :  Lục Bát Tùy Bút ,  Lục Bát Đôi Bờ, Lục Bát Ru Hời  và  Lục Bát Tình của Doãn Quốc Vinh DOÃN QUỐC VINH với đêm dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng 9,” sẽ được tổ chức vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011, tại nhà hàng Mon Amour, thuộc thành phố Anaheim, California.

     

    Văn Đàn Đồng Tâm (VDDT) xin hân hạnh giới thiệu và thân mời quý văn thi hữu và đồng hương tham gia ủng hộ thật đông đảo.

     

     

    * * * * *

    Từ “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” Gần đây, tôi được dịp đọc lại “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” trên trang SángTạo.org. Đọc công khai, đọc bao nhiêu lần tùy thích. Càng đọc, càng thích. Càng đọc, càng u ẩn niềm quê. Càng đọc, càng muốn khóc cho cái điêu linh của quê hương, dân tộc, cho cái nhục nhằn của sinh linh. Càng đọc, càng muốn đi tìm tác giả, để cám ơn ông đã cho tôi được sống với đất nước trong một giai đoạn trước khi tôi chào đời. Càng đọc, càng nhớ lại cái lần đầu tiên gặp Doãn Quốc Sỹ trong cái tủ kính khóa chặt của ông Ngoại tôi ở một vùng quê miền Tây Nam đất Việt. Tôi đọc lén. Lén cái chính quyền sau 1975. Lén cả ông Ngoại tôi, vì sách quý, con nít biết gì mà động vào. Tuy sau này tôi mới biết, ông tôi không hề cấm con cháu đọc sách của ông, dù ông quý sách hơn cả vàng (nên tôi oai hùng mượn ông quyển “Ba Sinh Hương Lửa” và vác về nhà đọc một cách hết sức chính quy). “Ngàn vàng dễ kiếm, lời tốt khó tìm.” Quý là đúng. Và quý nhất là cái thông điệp mà nhà văn, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã trân trọng gửi gắm cho độc giả ở cuối truyện. Với cái ngôn ngữ giản dị và một tâm hồn thuần Nho, ông nói lên một sự thật và một thực tế mấu chốt của thời đại chúng ta. “Ở thế giới thực dân tư bản, người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn. Ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.” “Tình thương yêu rộng rãi và chân thành.” Tình thương yêu ấy, nó có mùi vị gì, màu sắc ra sao, kích cỡ thế nào, hình dáng làm sao? Theo tôi, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã xuất sắc trong việc tề gia, để câu trả lời nằm chính ngay trong huyết mạch lưu truyền của ông. Đến “Niêu Cơm Quê Nhà” Con nhà tông, nên chắc chắn phải giống lông giống cánh. Doãn Quốc Vinh, hậu duệ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, đã được bú mớm cái dòng sữa của mẹ và cái dòng tư tưởng của cha từ trong nôi. Doãn Quốc Vinh được biết đến nhiều như một họa sỹ, qua các cuộc triển lãm “Ao Nhà Lung Linh” hay “Chuyện Trò Với Lá,” vừa xuất thần trong bản sắc dân tộc, vừa bật tung những sáng tạo hiện đại. Nhưng Doãn Quốc Vinh cũng dính líu với chữ nghĩa, có lẽ vì cái duyên nghiệp viết lách còn quá nồng nàn giữa hai thế hệ của Doãn gia. Tôi đặc biệt quan tâm đến “Niêu Cơm Quê Nhà,” một bài thơ Doãn Quốc Vinh viết tặng cho người thân ở xa, khi anh còn ở tại Sài Gòn, vào năm 2005.

    Bài thơ dung dị và dân dã như cái niêu cơm, như ý niệm quê nhà, như mối tình thôn quê thuần nông nghiệp. Bài thơ được ‘nấu’ như thế này: “…lạy trời , lạy đất , lạy mây lạy cho lúa chín trĩu đầy hạt thơm lạy cho xó bếp nhiều rơm để tôi thổi chín niêu cơm quê nhà mời anh , mời chị ở xa ghé chơi … xơi chén cơm cà với tôi bát canh bông bí ngọt chồi vại dưa , khoanh cá, khúc dồi … chân quê dăm năm thu vén bộn bề này anh, này chị đường về nhớ chăng?” Doãn Quốc Vinh đã thể hiện “tình thương yêu rộng rãi và chân thành” một cách thật cụ thể trong bài thơ này. Anh cầu khẩn cho có được những điều kiện cần thiết để nấu một bữa cơm nhà quê, để mời những anh những chị đang sống xa quê, vài năm “thu vén bộn bề” một lần, về lại. Anh mong họ được hưởng lại cái không gian quê nhà ngay trên đầu lưỡi. Không dưng anh làm cho tôi thèm mùi khói rơm quá! Nhưng cái sự chuyên cẩn trong từng cái lạy, cái chọn món, cái ‘thổi’ cơm (rất dân dã, và hầu như chỉ còn ở thôn quê Việt Nam vì sự bành trướng của bếp ga, bếp điện) – tất cả bày ra một mâm cỗ của yêu thương, thông cảm, chia sớt. Người-ở-lại Doãn Quốc Vinh đã “chân thành” và cũng rất “rộng rãi” với tâm sức của mình khi đi ngược dòng thời gian, thổi một “niêu cơm quê nhà” để làm ấm lòng người đi xa. Cho đến khi chính anh cũng là người đang đi xa, thì anh lại tiếp tục ‘thổi’ cơm để gửi về cho những đồng bào ở lại, nhất là những đồng bào nghèo khó. Dùng hội họa để “Cho Em Niềm Hy Vọng 9” Doãn Quốc Vinh đã ‘thổi’ cơm cho những người nghèo khổ trên quê hương bằng cách nào? Anh không lạy trời lạy mây nữa. Anh vẽ. Anh đã chọn những bức tranh ưng ý của mình để bán gây quỹ cho SAP-VN tại đêm dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng 9,” sẽ được tổ chức vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011, tại nhà hàng Mon Amour, thuộc thành phố Anaheim. Nếu tình người bàng bạc trong văn chương chữ nghĩa của cha con họ Doãn, thì tình người là một nếp sống hằng ngày trong gia đình này. Doãn gia đã cưu mang bao người cơ bần, ngay giữa lúc họ Doãn cũng phải đối diện với khó khăn thời chiến. Họ Doãn đã dùng cái “tình thương yêu rộng rãi và chân thành” để sống và làm chủ đạo cho dòng tộc mình. Cho nên việc họa sĩ Doãn Quốc Vinh đưa cái “tình thương yêu rộng rãi” ấy đến góp tay với SAP-VN để phục vụ đồng bào trong cảnh khốn cùng, âu chỉ là một việc tất yếu. SAP-VN, với tất cả những thành quả trong hoạt động từ thiện gần hai thập niên qua, đã đón nhận sự giúp đỡ hết mình của biết bao nhân tài và mạnh thường quân. Nhưng sự giúp đỡ của Doãn Quốc Vinh lần này làm cho tôi xúc động theo lũy thừa đôi, có lẽ vì anh diễn đạt cái ‘tình quê’ một cách tự nhiên và sâu sắc, nhất là qua những bài thơ và phát biểu của anh. Trong thời gian chuẩn bị cho ngày gây quỹ, thân mẫu của anh, bà Doãn Quốc Sỹ, nhũ danh Hoàng Thị Thảo, đã hấp hối và qua đời đầu tháng Chín tại Houston, Texas. Có lẽ bà là một trong những người đàn bà hạnh phúc nhất, vì đã có một người phối ngẫu giàu lòng nhân ái như vị văn tài Doãn Quốc Sỹ, đã cùng bà nuôi nấng những người con có tấm lòng tha thiết với quê hương và với đồng bào như Doãn Quốc Vinh. Kính mời quý đồng hương cùng đến, thưởng lãm những “niêu cơm quê nhà” mà Doãn Quốc Vinh đã ‘thổi’ bằng óc sáng tạo và nét cọ tài ba, để cùng SAP-VN thắp sáng tình quê trên những vùng nhân sinh nghèo khổ của quê hương. Nếu không có quý vị, “niêu cơm quê nhà” của Doãn Quốc Vinh sẽ không “chín” nổi vì thiếu lửa. Quý đồng hương có thể mua vé trước tại Nhà Sách Tự Lực (714 531 5290, 714 531 5290), hoặc Tiệm Kính Optometry (714 418 0190, 714 418 0190), hay qua email tại (sapvntix@gmail.com). Nếu có thắc mắc về chương trình gây quỹ, xin quý vị gọi số điện thoại 714-901-1997, 714-901-1997. Xin hẹn cùng ‘ăn cơm quê nhà’ với quý vị lúc 4:30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011 tại Nhà hàng Mon Amour (Mon Cheri 2 cũ), tọa lạc tại 3150 W. Lincoln Ave, #134, Anaheim, CA 92801.

     

    Trangđài Glassey-Trầnguyễn

     

     

     

    (10/10/2011)
  • Ra Mắt Tuyển Tập VDDT 12 - Xuân Hy Vọng
    Ra Mắt Tuyển Tập VDDT 12 - Xuân Hy Vọng

     

                               

     

    Thư Mời

    Văn Đàn Đồng Tâm (VDDT) trân trọng kính mời quý văn nghệ sĩ và đồng hương thân hữu, vui lòng dành chút thời gian đến tham dự buổi liên hoan văn nghệ giới thiệu tuyển tập VDDT số 12, chủ đề Xuân Hy Vọng, được tổ chức tại nhà hàng Phố Núi, địa chỉ 8282 Bellaire Blvd. Houston TX 77072, vào chiều Chúa nhật, ngày 15 tháng 05 năm 2011, từ 4PM đến 9PM.

     

    Chương trình gồm nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc, hấp dẫn do nhiều nghệ sĩ tham gia trình diễn (Hoàng Kim Khánh, Sonny Phan, Lệ Ngọc, Nguyệt Khánh, J. Ngọc, Nhật Hạnh, Phan Thanh, v.v…)

     

    Vào Cửa Tự Do. Phục vụ Ẩm Thực Miễn Phí.

    Tặng Quà Lưu Niệm. Dạ Vũ Vui Nhộn.

     

    Sự hiện diện của quý vị là một vinh dự và niềm khích lệ lớn lao đối với VDDT.

    Trân trọng kính mời

     

    Thay mặt Ban Tổ Chức

     

    Cù Hoà Phong

    281-975-9782

     

    P.S. Vì chỗ ngồi có giới hạn, xin quý vị vui lòng sớm ghi danh tham dự qua email vandandongtam@gmail.com hay điện thoại cho Tạ Xuân Thạc (281-370-0233), Cù Hoà Phong (281-975-9782) để nhận vé mời.

    Xin chân thành cám ơn.

     

     

                            

     

     

     

     

     

     

    (12/05/2011)
Quảng cáo
KS Bellaire
nicolasdetal
drmainguyen
Nguyen Quoc Dung
Nguyen Phi Loi
Northside Domestic & Import
PharmTrustPharmacy
Mark D.Le M.D.,P.A
TRỢ CẤP TÀN TẬT – SSI
Nhan Hien
Tofu