Chuyên mục
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 1
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 2
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 3
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 4
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 5
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 5
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 6
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 6
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 7
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 10
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 12
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 16
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Phần 21
Phần 22
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 17
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 18
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 19
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Sách kỷ niệm
Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Kỷ Niệm Về Nhạc Sĩ Anh Bằng
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Kỷ niệm về thi sỹ Hà Thượng Nhân, Dòng thơ bất tử
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Sách Kỷ Niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ
Phần 1
Phần 2
Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Văn học
Văn
Thơ
Nghệ thuật
3 videos clips của buổi TalkShow trên đài truyền hình BYN
Âm nhạc
Âm nhạc
Archive
Music Online

There seems to be an error with the player !

Hình ảnh
Video Clip
Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm - Phần 3
Thứ sáu, 13 Tháng 5 2011 18:12
Mục Lục
Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm - Phần 3
TUYÊN NGÔN CỦA ĐẠO HUỆ NĂM 1172.
Tính lịch-sử của thuyết bất-vô.
Cụ Sáu đối diện với Văn Thân
Kẻ sĩ Chu An (1292- 1370)
Lê Hữu Mục: Câu chuyện âm nhạc
Sơ lược tiểu sử
Tất cả các trang

Thuyết Bất - Vô

Tư-tưởng là phần cốt lõi của văn-hoá. Văn-minh là thời-kì tư-tưởng ấy được thực-hiện rồi dừng lại trong những tác-phẩm kiến-trúc, điêu-khắc, hội-hoạ, trong những công-trình khoa-học, kĩ-thuât, văn-chương v.v… Văn-hoá Việt Nam sở dĩ trường-tồn và càng ngày càng phong-phú là nhờ ở nguồn tư-tưởng vô-tận mà nó chứa đựng trong lòng, đó là nguồn nước mà ta đã phân-tích ở trên. Vấn-đề là làm thế nào để vân-dụng nguồn nước ấy, nguồn tư-tưởng sinh-động ấy để bảo-đảm sự sinh-hoá của con người Việt Nam? Đó là nhờ thuyết bất-vô mà thiền-sư Đạo Huệ đã công-bố vào năm 1172. Khi tiết-lộ cho môn-đệ hiểu rõ yếu-chỉ của đời ông, Đạo Huệ không hẳn chỉ đơn-thuần áp-dụng một phương-pháp giáo-dục cá-nhân. Trước ông là hành bao nhiêu thế-kỉ đã suy-nghĩ như ông trước những vấn-đề mà đời sống đặt ra và phải giải-quyết. Trước ông đã có những nhân-vật kiệt-xuất như LẠC LONG QUÂN đã uy-dũng đánh thắng con ngư-tinh để giúp cho dân-chúng ổn-định đời sống. Con ngư-tinh ấy không phải chỉ là một con vật huyền-thoại. Nó là thuồng-luồng, là những con sấu hung-dữ phá-hoại mùa-màng, vườn-tược, nói chung là hệ sinh-thái của quần-chúng. Lạc Long Quân đã có công thuần-hoá những con quái-vật đó, bắt chúng phải sống hiền-lành hơn, có ích hơn cho loài người, nhờ đó mà lịch-sử thuần-hoá thiên-nhiên để phục-vụ cho quyền sống của con người được diễn ra rộng khắp, đáp-ứng với mọi vấn-đề trong đó có tư-tưởng. Thuyết bất-vô đã được hình-thành như thế nào? Nó có những liên-hệ gì với tư-tưởng sắc sắc không không của Phật-giáo, thuyết vô-vi của Lão-giáo, thuyết vô khả vô bất khả của Khổng-giáo?

Khái-quát về thuyết bất-vô trước Đạo Huệ.
Đạo Huệ sinh vào đời Lý ( ?-1172). Trước thiền-sư, cuộc tranh-luận về vô và hữu vẫn còn sôi-nổi giữa các thiền-sư Ấn-độ, Trung-hoa, kéo theo vấn-đề bất vô bất hữu cũng tranh-luận sôi-nổi không kém. Trong khuôn-khổ nhỏ hẹp của bài nói chuyện này, Tôi chỉ nhắc sơ qua đến hai quan-niệm đối-lập nhau, một bên chủ hữu là thuyết của Tăng Triệu, một bên chủ bất-vô của Huệ Năng.

Tăng Triệu (384-414) và thuyết bất chân không.
Tăng Triệu có hai chủ-trương chính gọi là thuyết chủ hữu, khẳng-định rằng những hiện-tượng ngoại-giới là có thực (Tăng Triệu, Bảo tạng luận). Thuyết thứ 2 trình-bày trong tác-phẩm Bất chân-không luận, cho rằng thế-giới hiện-tượng, chính vì nó là hiện-tượng, cho nên cũng có thể cho nó là giả, cho nó là “vô”, nhưng đã cho rằng có hiện-tượng thì cũng không thể không gọi chúng là “hữu” (Cao Xuân Huy, Tư-tưởng phương Đông, 1995, tr.600). Thuyết này được gọi là thuyết “bất chân-không”, coi hiện-tượng chẳng phải là chân vô, chẳng phải là thực hữu.

Huệ Năng (638-713) và thuyết bất -nhị. 
Huệ Năng không tán-thành thuyết chủ-hữu. Thiền-sư là học-trò của Hoàng Nhẫn đệ-ngũ tổ và đã được thầy trao y-bát sau khi trình-bày bài kệ chủ vô. Hai chủ-thuyết của Huệ Năng được thế-nhân truyền-tụng là thuyết vô-niệm và thuyết bất-nhị. Thuyết vô-niệm thường bị hiểu sai lầm là trạng-thái hoàn-toàn không có ý-niệm, trạng-thái tinh-thần của một người đầu ốc rỗng tuếch. Suzuki hiểu như vậy là dịch vô-niệm là no-mind (tiếng pháp là le non-mental). Nhà Phật-học Lucien Houlné, tác-giả cuốn Discours et sermons, nghiên-cứu  và phiên-dịch Pháp bảo-đàn kinh, tác-phẩm của Huệ Năng, đã kịch-liệt phê-bình quan-điểm của thiền-sư Suzuki và dịch vô-niệm là le non-attachement, nghĩa là không nắm bắt được. Ông Lucien Houlné dịch như vậy là đúng với chữ-nghĩa Kinh Kim Cương, đúng với chữ vô sở trụ trong câu ưng vô sở trụ nhi sinh kì tâm, chữ trụ này được từ-điển Phật-giáo dịch ra tiếng anh là: to maintain, firmly hold to, nghĩa là giữ chặt, nắm chặt (X. A dictionary of chinese buddhist terms của W.E. Soothil, tr. 224) Tôi căn-cứ vào cách hiểu từ vô-niệm của Lucien Houlné để tán-thành quan-điểm của Hoà-thượng Thích Mãn Giác khi thiền-sư rảo khắp cả nội-dung của Pháp bảo-đàn kinh để chứng-thực Huệ Năng là một người Việt Nam, bởi vì nếu vô-niệm có ý-nghĩa là không nắm bắt được thì chính chữ niệm phải được đọc bằng âm nôm là NẮM 念(vào thời cổ chắc phải phát-âm là NÁM, như cách đọc của đồng-bào Quảng-ngãi ngày nay). Nếu Huệ Năng là người Việt Nam thì học-thuyết phụ của ngài là thuyết bất-nhị phải có họ-hàng với thuyết bất-vô của Đạo Huệ. Hai thuyết bổ-sung cho nhau để nói lên một sự thật sâu-xa trong tâm-thức người Việt Nam là: “Ở trong tướng mà vẫn xa lìa tướng; tuy ở trong không mà vẫn không chấp-trước không”. (Pháp bảo-đàn kinh, bản dịch của Thích Mãn Giác, đoạn 46, tr. 86). Lục-tổ giảng rõ hơn: “Bóng tối tự nó không phải là bóng tối, vì có ánh sáng cho nên có bóng tối, bóng tối không tự nó là bóng tối bởi vì ánh sáng biến thành bóng tối, và bóng tối làm hiển-hiện ánh sáng. Ánh-sáng và bóng tối là sinh-nhân của nhau”(Nt). Ta có thể biết thêm 36 đối-pháp mà Huệ Năng liệt-kê đầy-đủ để nêu rõ những cặp mâu-thuẫn như trời / đất, mặt trời / mặt trăng, bóng tối / ánh sáng, âm / dương v.v… nhưng bằng nấy cũng tạm đủ để ta có thể đi vào học-thuyết bất-vô của Đạo Huệ

ĐẠO HUỆ (?-1172) VÀ THUYẾT BẤT-VÔ.
Trở lại 36 cặp đối-pháp mà Huệ Năng cẩn-thận liệt-kê trong Pháp bảo-đàn kinh, ta thấy có 5 cặp thuộc ngoại-cảnh vô-tình (5 extérieures inanimés), đó là:

Trời                          Đất
Mặt trời                 Mặt trăng
Bóng tối                 Ánh sáng
Âm                        Dương
Lửa                       Nước

12 cặp thuộc về ngôn-ngữ và pháp-tướng:
Hữu-vi                   Vô vi
Hữu-sắc                Vô-sắc
Hữu-tướng            Vô-tướng
Hữu lậu                 Vô lậu
Sắc                       Không
Động                     Tĩnh
Trong                     Đục
Phàm                    Thánh
Tăng                      Tục
Già                        Trẻ
Lớn                       Nhỏ
Dài                        Ngắn

19 cặp trong dụng-khởi từ tự-tính:
Tà                         Chánh
Si                             Huệ
Ngu                       Trí
Loạn                      Định
Giới                      Sai
Thẳng                    Cong
Thực                     Hư
Dốc                       Bằng
Phiền-não              Bồ-đề
Từ                         Hại
Vui                        Giận
Xả                         Tiếc
Tiến                       Thoái
Sinh                      Diệt
Thường                 Vô thường
Pháp-thân              Sắc-thân
Hoá-thân                Báo-thân
Thể                       Dụng
Tính                       Tướng
Hữu tình                Vô tình

Tổ-tiên của Đạo Huệ, những người mà lịch-sử quen gọi là Lạc Việt, (mà ta hiểu là những người sống trên nước và dùng vớt để đánh cá) chắc sống với nước nên đã không lạ gì những vận-động có tính qui-luật của nước: chảy ngược chảy xuôi, chảy lên chảy xuống, chảy ngang chảy dọc v.v… Qui-luật phát-hiện ra là sự-vật nào cũng có bản-chất (nước) và hiện-tượng (sóng), cũng có những cặp đối-lập như nước rặc (xuống) nước ròng (lên), nắng / mưa, nóng / lạnh, nước / lửa. Long-quân nói với Âu-cơ: “Ta là nòi rồng, đứng đầu thuỷ-tộc, nàng là giống tiên, sống ở trên đất, tuy khí âm-dương hợp lại mà sinh ra con, nhưng nước lửa khắc nhau, dòng giống bất-đồng, khó ở với nhau được” (Trần Thế Pháp, Lĩnh-nam chích quái, Truyện Hồng-bàng), đó là tổ-tiên chúng ta đã phát-hiện được một cặp đối-lập mà dần-dần qua kinh-nghiệm của đời sống, ông và con cháu sẽ khái-quát hoá thành triết-lí âm-dương. Hai từ âm-dương này, gốc của nó hiển-nhiên xuất-phát từ miền Nam theo lời khẳng-định của nhóm triết-học Kim Định, nhưng ngay cả cái âm-ngữ, của từ này nhất-định cũng là gốc-gác thổ-âm miền Nam, đó là những âm IM và DANG. Im là trạng-thái không có biểu-hiện của hoạt-động, không có sự di-động, sự đổi chỗ (TĐTV, tr.301); dang là mở rộng ra cả hai phía, như nói dang tay (TĐTV, tr.260). Người Việt đã quan-sát thấy hiện-tượng này từ khi bắt đầu biết trồng lúa nước, vào khoảng 6.000 năm trước TCGS, sau Ấn-độ 3.000 năm, nhưng trước Trung-quốc khoảng 3.000 năm (Tôn-thất Trình, ngành trồng lúa ở Việt Nam, Vietnamologica số 4, Montréal, 1999). Lạc Long quân trong Lĩnh-nam chích quái có dùng từ âm-dương. Có thể từ nay chỉ là một từ hán mà các nhà nho đều biết và yên trí đó là những chữ hán gốc; tác-phẩm Lĩnh-nam chích quái lại chỉ được viết vào thế-kỉ XIV, XV thì lại càng biết chắc rằng chính tác-giả đã dùng từ âm-dương đó thay cho nhân-vật của ông. Nhưng vào thời Lạc Long quân, giả-định là khoảng thế-kỉ thứ 3, TTCGS, tôi khẳng-định là từ âm-dương đã xuất-hiện, nếu không dưới dạng yin / yang kiểu Trung-hoa thì cũng là im / dang kiểu Lạc Việt mà Trần Thế Pháp không có cách nào khác hơn là mượn hai chữ hán để biểu-âm, theo phương-pháp giả-tá. Cũng có thể chữ yin / yang của Trung-hoa là do từ việt-cổ ná / áng mà ra vì ná / áng hay áng / ná có nghĩa là cha mẹ, đúng như đầu-đề cuốn Cả blả ơn áng ná cực nặng giả-thiết là tác-phẩm của Nguyễn Trãi, dịch từ nguyên-bản hán-văn Đại báo phụ-mẫu ân trọng kinh, trong đó từ phụ-mẫu được dịch nôm là áng ná (Génibrel, tr.4) Tuy nhiên, khái-niệm âm-dương được hình-thành từ sự đối-lập giữa hai thao-tác mâu-thuẫn im / dang có thể là hợp-lí nhất.

Sau khi đã chiêm-nghiệm các cặp đối-lập về mặt cơ-cấu, tổ-tiên ta quan-sát những cặp ấy về mặt liên-hệ. Vì sống ở những vùng sông nước, các cụ ta được hưởng một đặc ân của trời đất là rất bén-nhậy, rất thính, thính về mắt, về mũi, và nhất là về tai. Về phương-diện này có thể nói mỗi một người Việt Nam là một nhạc-sĩ. Khi chú-ý đến các cặp đối-lập, người xưa đã không quên lắng nghe những âm-thanh và những nhịp-điệu phát ra, cứ hai thanh ngắn đi trước thì một thanh sau kéo dài, cứ hai nhịp nhẹ đi trước thì một nhịp nặng đến sau, tỉ-dụ:              
Hiện nay ta vẫn còn được nghe nhịp-điệu này trong những đám múa lân. Múa lân gốc là một trò chơi của trẻ em Việt Nam, nguyên là múa long, sau chuyển sang tay người Trung-hoa trở thành múa lân. Mỗi lần nghe các em múa lân gõ trống, ta phải để ý tới nhịp 2 dồn-dập thoát ra từ chiếc trống cái và các trống con. Cụ Sáu đã giữ được nhịp-điệu này trong ban trống của nhà xứ Phát Diệm. Đây là nhịp trống mà ai gốc Phát Diệm cũng đã được nghe từ hồi còn nhỏ, trong những ngày lễ lớn:
Nhịp-điệu cổ-sơ này dần dần được khái-hoá thành - - — hai vạch ngắn là hai vạch con tượng-trưng cho 2 tiếng nhẹ, ngắn, nhỏ, nét dài tượng-trưng cho 1 tiếng nặng, mạnh kéo dài. Khi khái-niệm âm-dương thành hình thì 2 vạch ngắn bắt-buộc là phải được dùng để chỉ âm, vạch dài chỉ dương. Tại sao hai vạch nhỏ lại đi trước vạch lớn lại đi sau? Đó là vì sự tất-yếu của nhịp-điệu, phù-điệu dài bao giờ cũng chấm dứt nhạc-phẩm, trong khi nhịp ngắn dùng để bắt đầu, điều này rất dễ hiểu nếu ta quan-sát một bản nhạc dù là nhạc phổ-thông. Phù-điệu đi trước đứng về mặt trái, phù-điệu đến sau đứng về mặt phải, do đó phía trái bao giờ cũng quan-trọng hơn phía bên phải. Chúa Kitô lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha, tức là Đức Chúa Cha ngồi bên trái, quan-trọng hơn Đức Chúa Con.



 
Gửi góp ý
Tiêu đề
Nội dung

Những tin mới hơn

  • Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 3
    Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 3

    Nói Về Anh Liêm

    - Mai Thanh Truyết -

    G:\P1030171.JPG

    Việt Hải trong Văn đàn Đồng Tâm có điện thư cho tôi như sau:” Anh Truyết, cùng là nhà giáo, cùng là học trò LPK (Lycée  Petrus Ký) mà sao VH chưa bao giờ thấy anh nói hay viết về GS Nguyễn Thanh Liêm hết?”. Xin thưa, hôm nay, nhân gần đến ngày lễ thượng thọ cho anh Liêm do Văn đàn Đồng Tâm tổ chức, tôi cũng xin góp vài lời viết về anh Liêm của tôi. Trước hết, sở dĩ tôi gọi bằng anh Liêm, vì giữa tôi và anh Liêm có nhiều kỷ niệm với nhau trong suốt thời gian sinh hoạt cộng đồng ở tại đất nước Hoa Kỳ.

    (08/06/2011)
  • Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 2
    Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 2
    Untitled Document

    Những Trở Ngại Lớn Trong Việc Phát Triển Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay

    - Nguyễn Thanh Liêm -

    Việt Nam chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế, và trong thời gian không xa có thể sẽ trở thành thành viên của WTO và các tổ chức kinh tế khu vực. Nhưng muốn hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam phải có chất lượng và khả năng cạnh tranh, và muốn có chất lượng và khả năng cạnh tranh với các nước tân tiến thì Việt Nam trước hết phải có một nền công kỹ nghệ tân tiến tiếp cận với các nước đó. Giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc đưa nước nhà ra khỏi cảnh chậm phát triển, nâng nước Việt lên hàng một quốc gia có nền khoa học kỹ thuật tân tiến...

    (08/06/2011)
  • Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 1
    Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 1

    Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm

    Nhà Văn Biên Khảo, Nhà Giáo Khả Kính.

     

     

    LEAD Technologies Inc. V1.01 Năm 2010

    Tủ sách: Đồng hành với những cây viết trẻ Vinh danh những nhà văn hoá nhân bản của VĂN ĐÀN ĐỒNG TÂM

    ISBN 987-0-98230922-3

    Copyright @ 2010 by Đồng Tâm

    (08/06/2011)
  • Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 6
    Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 6

    Phần Phụ Lục

    Lời Giới Thiệu

    Qua những trang sách của nhiều tác giả trình bầy trước đây, chúng ta đã có được một sự nhìn tổng thể về những hoạt động của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh qua bốn cái Nghiệp, Nghiệp Binh, Nghiệp Giáo, Nghiệp Văn, Nghiệp về ngành Khoa học Không Gian. Qua những lời giáo sư tâm sự cũng như những bài các thân hữu viết về ông, chúng ta cũng có thể mường tưởng được sự kính nể cùa chính phủ Hoa Kỳ, và của giới khoa học và giáo dục ở các nước tiền tiến đối với ông. Sự trân trọng này được thể hiện qua những bảng vinh danh, những sự bầu vào những Hàn Lâm Viện Khoa Học Quốc Tế, những thư mời chủ toạ những buổi hội thảo quốc tế hay thư mời tới giảng dậy đến từ các nước. Ban chủ trương đã được Hội Khuyến Học Truyền Thống Nguyễn Xuân Vinh cung cấp cho một số chứng liệu và chúng tôi đã lựa ra những bản văn cơ bản để trình bầy trong phần Phụ Lục này. Đặc biệt với những bảng vinh danh, chúng tôi chỉ trình bầy tượng trưng từ cấp tiểu bang trở lên mà thôi.

    (05/06/2011)
  • Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 5
    Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 5

    Cuộc Đời Thành Tựu Khoa Học Của Joseph-Louis Lagrange, Toán Gia Lỗi Lạc Nhất Thế Kỷ 18   Bài viết này đưọc trích ra trong chương “Những Vương Công Trong Toán Học” của cuốn sách Vui Ðời Toán Học của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Mỗi bài viết là một câu chuyện thích thú được tác giả kể với ngòi bút bác học của mình. Ðiều đặc biệt ở đây là dù kể chuyện xẩy ra ở nước người, ông cũng đưa vào chút hình ảnh của quê hương và chen thêm kỷ niệm và tâm sự riêng của mình. Cuộc Đời Thành Tựu Khoa Học Của Joseph-Louis Lagrange, Toán Gia Lỗi Lạc Nhất Thế Kỷ 18

    (31/05/2011)

Những tin cũ hơn

  • Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm - Phần 2
    Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm - Phần 2

    Đối với giới trẻ Việt Nam sống trên đất Mỹ

    - LÊ HỮU MỤC -

    Từ khi nghiên-cứu và phiên-dịch LĨNH NAM CHÍCH QUÁI (1960) đến nay, tôi vẫn chú-trọng tới hai vấn-đề, thứ nhất là vấn-đề tác-giả và tôi vẫn khẳng-định là Trần Thế Pháp, một nhà nghiên-cứu vô-danh, thích dã-sử hơn chính-sử; tác-giả ấy không thể lầm lẫn với Vũ Quỳnh (1452-1516), tiến-sĩ năm 1478, tác-giả Đại Việt thông giám (1511), một sử-quan tuy có nhiều đóng góp vào việc biên-soạn bộ Đại Việt sử-kí toàn-thư nhưng khi hiệu-đính cuốn Lĩnh-nam chích quái của Trần Thế Pháp đã tự ý sửa lại nhiều chi-tiết độc-đáo của tác-giả. Vấn-đề thứ 2 là tôi vẫn tiếp-tục nghe thấy tiếng nước chảy rì-rào suốt tác-phẩm Lĩnh-nam chích quái.

    (14/05/2011)
  • Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm - Phần 1
    Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm - Phần 1

    Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm

     

    (13/05/2011)
  • Kỷ niệm về thi sỹ Hà Thượng Nhân, Dòng thơ bất tử - Phần 5
    Kỷ niệm về thi sỹ Hà Thượng Nhân, Dòng thơ bất tử - Phần 5

    Hà Thượng Nhân: Kẻ sĩ thời đại Trong sinh hoạt văn học của Việt Nam Cộng hoà, thi sĩ Hà Thượng Nhân là một trường hợp lạ lùng, hy hữu. Theo chỗ chúng tôi biết, thì trong hơn 20 năm ở Miền Nam, cụ Hà chưa chính thức cho xuất bản một thi phẩm nào, nhưng ngqay từ thời Đệ nhất Cộng Hoà, khi có Giải Văn Học Nghệ Thuật, thường được gọi là Giải Văn học Tổng Thống, vì do đích thân Tổng Thống chủ toạ, hầu như năm nào thi sĩ Hà Thượng Nhân cũng được mời vào Hội Đông Tuyển Trạch.

    (13/05/2011)
  • Kỷ niệm về thi sỹ Hà Thượng Nhân, Dòng thơ bất tử - Phần 4
    Kỷ niệm về thi sỹ Hà Thượng Nhân, Dòng thơ bất tử - Phần 4

    Viết cho Vui Tuổi Hạc

    uổi Hoa Giáp làm thơ bảo họa Cổ Lai Hy lại dọa nhau thơ Trời cho từ nhỏ đến giờ ... Làm sao chẳng phất khi cờ đến tay Mà phải họa cho hay mới khó Phải đừng nhăn đừng nhó mới vui Đấu tranh trải đã đủ mùi Nay già cứ tiến chẳng lùi hay sao? Già, tính nết thế nào cũng dễ Không lẽ còn ngạo nghễ như xưa Ngang tàng ngày trước sẵn thừa...

    (13/05/2011)
  • Kỷ niệm về thi sỹ Hà Thượng Nhân, Dòng thơ bất tử - Phần 3
    Kỷ niệm về thi sỹ Hà Thượng Nhân, Dòng thơ bất tử - Phần 3

    Giai thoại Văn Chương Và Thơ Họa – Họa Thơ HÀ THƯỢNG NHÂN

    Hà Thượng Nhân với bài thơ: Trăng Thu Năm 1935 tôi được ông Nguyễn Tiến Lãng, chuyên viết văn Pháp hỏi: “Cậu có muốn đi dự hội thơ không?” Tôi mừng quá liền thưa ngay: rất muốn. Trung Thu năm đó tôi theo ông lên Vỹ Dạ. Biệt thự của nhà thơ Ưng Bình. Tôi đi theo chứ không được mời nên không có chỗ ngồi. Khách toàn vào hạng trung, lão niên , hầu hết đều mặc quốc phục và đeo bài ngà. Đầu đề bài thơ hôm đó là Trăng Thu, nhưng có một điều cấm kỵ: trong bài tuyệt đối không được dùng chữ Trăng cũng như chữ Thu
    (13/05/2011)
Tin tức
  • Phóng Sự Ra Mắt TTDT số 12 và Web site VDDT
    Phóng Sự Ra Mắt TTDT số 12 và Web site VDDT

    CHƯƠNG TRÌNH GIỚI THIỆU

    TUYỂN TẬP ĐỒNG TÂM SỐ 12 & WEB SITE

    www.VanDan-DongTam.org TẠI HOUSTON TEXAS VÀO NGÀY 15 THÁNG 05 NĂM 2011

    Từ mấy tuần trước ngày Giới Thiệu Sách (GTS), tôi đã nhận được thông báo qua email, và qua diễn đàn của Văn Đàn Đồng Tâm rằng: vào ngày 15- 5- 2011, Văn Đàn Đồng Tâm (VĐĐT) sẽ có buổi giới thiệu Tuyển Tập Đồng Tâm số 12, chủ đề Xuân Hy Vọng, và chính thức ra mắt web site vandan-dongtam.org, được tổ chức tại nhà hàng Phố Núi 8282 đường Bellaire, khu Southwest Houston. 

     

    (29/05/2011)
  • Doãn Quốc Vinh - ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’
    Doãn Quốc Vinh - ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’
      Doãn Quốc Vinh Dùng Nghệ Thuật Để ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’

     

    Doãn Quốc Vinh, hậu duệ của nhà văn lão thành Doãn Quốc Sỹ - cố Vấn VĐĐT, đã sáng tác và thực hiện những tập thơ  được chuyền tay nhau qua các bạn hữu thân thương và những anh chị em trong gia đình của tác giả. Thơ anh chuyên chở nhiều tâm sự - như nhắn nhủ hay hồi tưởng về quá khứ. Những vần thơ âm hưởng lục bát thật ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một bầu trời thênh thang,  tình cảm của tác giả rộng mở chan chứa tình quê hương, dân tộc. Bằng vào sự thiết tha với gia đình cha mẹ anh em, với người tình, với bạn bè thân yêu, cho mọi người xa gần ngay cả với các thành viên của Đồng Tâm chúng ta nữa. Xin cám ơn họa sĩ DQV của ĐT vì ngoài những hoạ phẩm riêng cho TTĐT anh còn gửi thêm qua thi phẩm những nỗi niềm đau thương chua xót hay yêu thương trìu mến của tác giả đối với những điều trông thấy biểu hiện trong 4 tập thơ :  Lục Bát Tùy Bút ,  Lục Bát Đôi Bờ, Lục Bát Ru Hời  và  Lục Bát Tình của Doãn Quốc Vinh DOÃN QUỐC VINH với đêm dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng 9,” sẽ được tổ chức vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011, tại nhà hàng Mon Amour, thuộc thành phố Anaheim, California.

     

    Văn Đàn Đồng Tâm (VDDT) xin hân hạnh giới thiệu và thân mời quý văn thi hữu và đồng hương tham gia ủng hộ thật đông đảo.

     

     

    * * * * *

    Từ “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” Gần đây, tôi được dịp đọc lại “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” trên trang SángTạo.org. Đọc công khai, đọc bao nhiêu lần tùy thích. Càng đọc, càng thích. Càng đọc, càng u ẩn niềm quê. Càng đọc, càng muốn khóc cho cái điêu linh của quê hương, dân tộc, cho cái nhục nhằn của sinh linh. Càng đọc, càng muốn đi tìm tác giả, để cám ơn ông đã cho tôi được sống với đất nước trong một giai đoạn trước khi tôi chào đời. Càng đọc, càng nhớ lại cái lần đầu tiên gặp Doãn Quốc Sỹ trong cái tủ kính khóa chặt của ông Ngoại tôi ở một vùng quê miền Tây Nam đất Việt. Tôi đọc lén. Lén cái chính quyền sau 1975. Lén cả ông Ngoại tôi, vì sách quý, con nít biết gì mà động vào. Tuy sau này tôi mới biết, ông tôi không hề cấm con cháu đọc sách của ông, dù ông quý sách hơn cả vàng (nên tôi oai hùng mượn ông quyển “Ba Sinh Hương Lửa” và vác về nhà đọc một cách hết sức chính quy). “Ngàn vàng dễ kiếm, lời tốt khó tìm.” Quý là đúng. Và quý nhất là cái thông điệp mà nhà văn, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã trân trọng gửi gắm cho độc giả ở cuối truyện. Với cái ngôn ngữ giản dị và một tâm hồn thuần Nho, ông nói lên một sự thật và một thực tế mấu chốt của thời đại chúng ta. “Ở thế giới thực dân tư bản, người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn. Ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.” “Tình thương yêu rộng rãi và chân thành.” Tình thương yêu ấy, nó có mùi vị gì, màu sắc ra sao, kích cỡ thế nào, hình dáng làm sao? Theo tôi, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã xuất sắc trong việc tề gia, để câu trả lời nằm chính ngay trong huyết mạch lưu truyền của ông. Đến “Niêu Cơm Quê Nhà” Con nhà tông, nên chắc chắn phải giống lông giống cánh. Doãn Quốc Vinh, hậu duệ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, đã được bú mớm cái dòng sữa của mẹ và cái dòng tư tưởng của cha từ trong nôi. Doãn Quốc Vinh được biết đến nhiều như một họa sỹ, qua các cuộc triển lãm “Ao Nhà Lung Linh” hay “Chuyện Trò Với Lá,” vừa xuất thần trong bản sắc dân tộc, vừa bật tung những sáng tạo hiện đại. Nhưng Doãn Quốc Vinh cũng dính líu với chữ nghĩa, có lẽ vì cái duyên nghiệp viết lách còn quá nồng nàn giữa hai thế hệ của Doãn gia. Tôi đặc biệt quan tâm đến “Niêu Cơm Quê Nhà,” một bài thơ Doãn Quốc Vinh viết tặng cho người thân ở xa, khi anh còn ở tại Sài Gòn, vào năm 2005.

    Bài thơ dung dị và dân dã như cái niêu cơm, như ý niệm quê nhà, như mối tình thôn quê thuần nông nghiệp. Bài thơ được ‘nấu’ như thế này: “…lạy trời , lạy đất , lạy mây lạy cho lúa chín trĩu đầy hạt thơm lạy cho xó bếp nhiều rơm để tôi thổi chín niêu cơm quê nhà mời anh , mời chị ở xa ghé chơi … xơi chén cơm cà với tôi bát canh bông bí ngọt chồi vại dưa , khoanh cá, khúc dồi … chân quê dăm năm thu vén bộn bề này anh, này chị đường về nhớ chăng?” Doãn Quốc Vinh đã thể hiện “tình thương yêu rộng rãi và chân thành” một cách thật cụ thể trong bài thơ này. Anh cầu khẩn cho có được những điều kiện cần thiết để nấu một bữa cơm nhà quê, để mời những anh những chị đang sống xa quê, vài năm “thu vén bộn bề” một lần, về lại. Anh mong họ được hưởng lại cái không gian quê nhà ngay trên đầu lưỡi. Không dưng anh làm cho tôi thèm mùi khói rơm quá! Nhưng cái sự chuyên cẩn trong từng cái lạy, cái chọn món, cái ‘thổi’ cơm (rất dân dã, và hầu như chỉ còn ở thôn quê Việt Nam vì sự bành trướng của bếp ga, bếp điện) – tất cả bày ra một mâm cỗ của yêu thương, thông cảm, chia sớt. Người-ở-lại Doãn Quốc Vinh đã “chân thành” và cũng rất “rộng rãi” với tâm sức của mình khi đi ngược dòng thời gian, thổi một “niêu cơm quê nhà” để làm ấm lòng người đi xa. Cho đến khi chính anh cũng là người đang đi xa, thì anh lại tiếp tục ‘thổi’ cơm để gửi về cho những đồng bào ở lại, nhất là những đồng bào nghèo khó. Dùng hội họa để “Cho Em Niềm Hy Vọng 9” Doãn Quốc Vinh đã ‘thổi’ cơm cho những người nghèo khổ trên quê hương bằng cách nào? Anh không lạy trời lạy mây nữa. Anh vẽ. Anh đã chọn những bức tranh ưng ý của mình để bán gây quỹ cho SAP-VN tại đêm dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng 9,” sẽ được tổ chức vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011, tại nhà hàng Mon Amour, thuộc thành phố Anaheim. Nếu tình người bàng bạc trong văn chương chữ nghĩa của cha con họ Doãn, thì tình người là một nếp sống hằng ngày trong gia đình này. Doãn gia đã cưu mang bao người cơ bần, ngay giữa lúc họ Doãn cũng phải đối diện với khó khăn thời chiến. Họ Doãn đã dùng cái “tình thương yêu rộng rãi và chân thành” để sống và làm chủ đạo cho dòng tộc mình. Cho nên việc họa sĩ Doãn Quốc Vinh đưa cái “tình thương yêu rộng rãi” ấy đến góp tay với SAP-VN để phục vụ đồng bào trong cảnh khốn cùng, âu chỉ là một việc tất yếu. SAP-VN, với tất cả những thành quả trong hoạt động từ thiện gần hai thập niên qua, đã đón nhận sự giúp đỡ hết mình của biết bao nhân tài và mạnh thường quân. Nhưng sự giúp đỡ của Doãn Quốc Vinh lần này làm cho tôi xúc động theo lũy thừa đôi, có lẽ vì anh diễn đạt cái ‘tình quê’ một cách tự nhiên và sâu sắc, nhất là qua những bài thơ và phát biểu của anh. Trong thời gian chuẩn bị cho ngày gây quỹ, thân mẫu của anh, bà Doãn Quốc Sỹ, nhũ danh Hoàng Thị Thảo, đã hấp hối và qua đời đầu tháng Chín tại Houston, Texas. Có lẽ bà là một trong những người đàn bà hạnh phúc nhất, vì đã có một người phối ngẫu giàu lòng nhân ái như vị văn tài Doãn Quốc Sỹ, đã cùng bà nuôi nấng những người con có tấm lòng tha thiết với quê hương và với đồng bào như Doãn Quốc Vinh. Kính mời quý đồng hương cùng đến, thưởng lãm những “niêu cơm quê nhà” mà Doãn Quốc Vinh đã ‘thổi’ bằng óc sáng tạo và nét cọ tài ba, để cùng SAP-VN thắp sáng tình quê trên những vùng nhân sinh nghèo khổ của quê hương. Nếu không có quý vị, “niêu cơm quê nhà” của Doãn Quốc Vinh sẽ không “chín” nổi vì thiếu lửa. Quý đồng hương có thể mua vé trước tại Nhà Sách Tự Lực (714 531 5290, 714 531 5290), hoặc Tiệm Kính Optometry (714 418 0190, 714 418 0190), hay qua email tại (sapvntix@gmail.com). Nếu có thắc mắc về chương trình gây quỹ, xin quý vị gọi số điện thoại 714-901-1997, 714-901-1997. Xin hẹn cùng ‘ăn cơm quê nhà’ với quý vị lúc 4:30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011 tại Nhà hàng Mon Amour (Mon Cheri 2 cũ), tọa lạc tại 3150 W. Lincoln Ave, #134, Anaheim, CA 92801.

     

    Trangđài Glassey-Trầnguyễn

     

     

     

    (10/10/2011)
  • Ra Mắt Tuyển Tập VDDT 12 - Xuân Hy Vọng
    Ra Mắt Tuyển Tập VDDT 12 - Xuân Hy Vọng

     

                               

     

    Thư Mời

    Văn Đàn Đồng Tâm (VDDT) trân trọng kính mời quý văn nghệ sĩ và đồng hương thân hữu, vui lòng dành chút thời gian đến tham dự buổi liên hoan văn nghệ giới thiệu tuyển tập VDDT số 12, chủ đề Xuân Hy Vọng, được tổ chức tại nhà hàng Phố Núi, địa chỉ 8282 Bellaire Blvd. Houston TX 77072, vào chiều Chúa nhật, ngày 15 tháng 05 năm 2011, từ 4PM đến 9PM.

     

    Chương trình gồm nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc, hấp dẫn do nhiều nghệ sĩ tham gia trình diễn (Hoàng Kim Khánh, Sonny Phan, Lệ Ngọc, Nguyệt Khánh, J. Ngọc, Nhật Hạnh, Phan Thanh, v.v…)

     

    Vào Cửa Tự Do. Phục vụ Ẩm Thực Miễn Phí.

    Tặng Quà Lưu Niệm. Dạ Vũ Vui Nhộn.

     

    Sự hiện diện của quý vị là một vinh dự và niềm khích lệ lớn lao đối với VDDT.

    Trân trọng kính mời

     

    Thay mặt Ban Tổ Chức

     

    Cù Hoà Phong

    281-975-9782

     

    P.S. Vì chỗ ngồi có giới hạn, xin quý vị vui lòng sớm ghi danh tham dự qua email vandandongtam@gmail.com hay điện thoại cho Tạ Xuân Thạc (281-370-0233), Cù Hoà Phong (281-975-9782) để nhận vé mời.

    Xin chân thành cám ơn.

     

     

                            

     

     

     

     

     

     

    (12/05/2011)
Quảng cáo
Mark D.Le M.D.,P.A
Nguyen Phi Loi
drmainguyen
TRỢ CẤP TÀN TẬT – SSI
nicolasdetal
Northside Domestic & Import
PharmTrustPharmacy
Nguyen Quoc Dung
Tofu
KS Bellaire
Nhan Hien