Chuyên mục
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 1
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 2
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 3
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 4
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 5
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 5
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 6
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 6
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 7
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 8
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 9
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 10
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 11
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 12
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 14
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 15
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 16
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Phần 20
Phần 21
Phần 22
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 17
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Phần 19
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 18
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Tuyển Tập Văn Đàn Đồng Tâm 19
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Phần 10
Phần 11
Phần 12
Phần 13
Phần 14
Phần 15
Phần 16
Phần 17
Phần 18
Sách kỷ niệm
Giáo sư Lê Hữu Mục và Những Cây Bút Thân Hữu cùng Đồng Tâm
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Kỷ Niệm Về Nhạc Sĩ Anh Bằng
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 7
Phần 8
Phần 9
Kỷ niệm về thi sỹ Hà Thượng Nhân, Dòng thơ bất tử
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Sách Kỷ Niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ
Phần 1
Phần 2
Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4
Phần 5
Phần 6
Văn học
Văn
Thơ
Nghệ thuật
3 videos clips của buổi TalkShow trên đài truyền hình BYN
Âm nhạc
Âm nhạc
Archive
Music Online

There seems to be an error with the player !

Hình ảnh
Video Clip
Sách Kỷ Niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ - Phần 1
Thứ năm, 12 Tháng 5 2011 04:49
Mục Lục
Sách Kỷ Niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ - Phần 1
Còn Gì Quý Bằng Tình Tri Kỷ
Thơ tặng Doãn Quốc Sỹ lên đường du ngoạn trong thế giới ngôn ngữ dân tộc
TÂM HỒN NGHỆ SĨ CỦA DOÃN QUỐC SỸ
Thay Lời Tựa  -  dành cho tập truyện Cò Đùm của nhà văn Doãn Quốc Sỹ
TÌNH THẦY TRÒ và kiếp tha hương
Không Tâm Trong Thiền Học
Núi sông thêm một chỗ ngồi
Tạ Ơn Thầy Cũ (Nhân Mùa Lễ Tạ Ơn 2000)
Em Ngoài Đó
BIỆT KÍCH CẦM BÚT
Lòng Từ Trong Cõi Văn DOÃN QUỐC SỸ
Nhớ Kỷ Niệm Với Nhà Văn DOÃN QUỐC SỸ
Chân Dung Kẻ Sĩ
Vài Kỷ Niệm Với Nhà Văn DOÃN QUỐC SỸ
Câu Chuyện Văn Nghệ
Trái Tim Kẻ Sĩ
Tản Mạn về Ngụ Ngôn
GÌN VÀNG GIỮ NGỌC VỚI NHÀ VĂN DOÃN QUỐC SỸ
Lê Văn - đài VOA - Phỏng Vấn Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ
NHỮNG CẢM NHẬN KHI ĐỌC VĂN DOÃN QUỐC SỸ
Duyên Tri Ngộ
Từ Tâm Doãn Quốc Sỹ
Nắng bên kia trời, đồng vọng mênh mông…
Biên Khảo - DOÃN QUỐC SỸ, một người Việt đáng yêu
CHÚT KỶ NIỆM VỚI ANH DOÃN QUỐC SỸ
Vài Dòng Cảm Nghĩ Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ
Ước Mơ Thời Thơ Ấu
DOÃN QUỐC SỸ Một Tâm Hồn Thanh Thản, Đôn Hậu, Cao Thượng
Kinh-nghiệm văn-chương Doãn Quốc Sỹ
NGƯỠNG MỘ DANH THẦY
CHIẾC CHIẾU HOA CẠP ĐIỀU và EM TÔI.
SUY TƯ VỚI 'DÒNG SÔNG ÐỊNH MỆNH' CỦA DOÃN QUỐC SỸ
Tất cả các trang

VĂN ĐÀN ĐỒNG TÂM
Houston, Hoa kỳ 2007


Chân dung  Doãn Quốc Sỹ
Tranh do họa sĩ Phạm Thông
Copyright © 2006 by Đồng Tâm
All rights reserved
Distributed by Đồng Tâm
P.O. Box 692192
Houston, TX 77269-2192
Email: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
Phone: 281-370-0233 / 281-216-6491
Fax:     832-717-4486

                                
Sách Kỷ Niệm
Mừng Sinh Nhật Nhà Văn DQS
Mồng Hai Tết – Đinh Hợi
18 tháng 2 năm 2007     
      


Mục Lục

9.-Việt Hải                                                           Lời nói đầu
12- Vũ Hối                                                     Tình bạn tri kỷ
14.-Trần Thanh Hiệp                                     Thơ tặng DQS
16.-Nguyễn Thanh Liêm            Tâm hồn nghệ sĩ của DQS                                                
21.- Hoàng Khởi Phong             Lời tựa của một cuốn sách
30.- Đàm Trung Phán         Tình thầy trò và kiếp tha hương
36.- Doãn Quốc Sỹ                     Không tâm trong thiền học
45.- Luân Hoán                        Núi sông thêm một chỗ ngồi
47.- Đàm Trung Pháp                                      Tạ ơn thầy cũ
49.- Lê Phượng Nguyên                                   Em ngoài đó
51.- Hoàng Hải Thủy                                Biệt kích cầm bút
62.- Thái Tú Hạp                       Lòng từ trong cõi văn DQS
67.- Dương Viết Điền         Nhớ kỷ niệm với nhà văn DQS
73.- Đào Vũ Anh Hùng                                Chân dung kẻ sĩ
83.- Đàm Quang Hưng          Vài kỷ niệm với nhà văn DQS
90.- Doãn Quốc Sỹ                              Câu chuyện văn nghệ
98.- Phạm Quang Ngọc                                    Trái tim kẻ sĩ
102.- Tạ Xuân Thạc                            Tản mạn về ngụ ngôn
123.- Lm. Trần Cao Tường                      Gìn vàng giữ ngọc 
                                                    của nhà văn Doãn Quốc Sỹ
127.- Lê Văn                                  Phỏng vấn nhà văn DQS
130.- Mặc Giao                   Những cảm nghĩ của một người
                                                    khi đọc văn Doãn Quốc Sỹ
147.- Hồng Vũ Lan Nhi                                  Duyên tri ngộ
150.- Hà Phương Hoài                      Từ tâm Doãn Quốc Sỹ
151.- Hoàng Huy Giang                            Nắng bên kia trời,
                                                          đồng vọng mênh mông
160.- Lê Mộng Nguyên       DQS một người Việt đáng yêu
169.- Nguyễn Ngọc Bích          Chút kỷ niệm với anh DQS
172.- Nguyễn Văn Thành                       Vài dòng cảm nghĩ
176.- Nguyễn Ninh Thuận                     Ước mơ thời thơ ấu
183.- Nguyễn Văn Quảng Ngãi               DQS một tâm hồn
                                          thanh thản, đôn hậu, cao thượng

194.- Nguyễn Vy Khanh     Kinh nghiệm văn chương DQS
212.- Nhược Thu                               Ngưỡng mộ danh thầy
213.- Phong Vũ              Chiếc chiếu hoa cạp điều và em tôi
223.- Quyên Di                                  Suy tư với Dòng Sông
                                                Định Mệnh của nhà văn DQS
230.- Trần Nhất Lang                  Chúc thọ 84 nhà văn DQS
231.- Tiểu Thu                     DQS và Người Vái Tứ Phương
235.- Võ Phiến                                   Viết về Doãn Quốc Sỹ
236.- Việt Hải                                         Kỷ niệm về thầy Sỹ
251.- Đào Anh Dũng                                          Bán tự vi sư
254.-  Trường Hà                            Phỏng vấn nhà văn DQS
264.- Vũ Tiến Thăng             Đôi dòng về niên trưởng DQS
270.- Vũ Uyên Giang                 DQS nhà văn hậu chiến lớn
273.- Vương Trùng Dương                        ĐI của Hồ Khanh
278- Đường Sơn               Nét thiền của văn Doãn Quốc Sỹ
287.- Hương Kiều Loan                           Nam Tào Bắc Đẩu
290.- Minh Hồ & Minh Hồ Đào 
                                        Chúc thượng thọ 84 nhà văn DQS
291.- Ngọc Thủy                                    Sài-Gòn yêu dấu cũ
299.- Linh Vang                                   Thư -  kính gửi Thầy
302.- Trang Bích Diễm                Chúc mừng nhà văn DQS
303.- Thụy Vi                         Những giờ học với thầy DQS
311.- Như Phong      Thư Họa Từ Sáng Tạo Đến Đồng Tâm
313.- Mùi Qúy Bồng  Tranh minh hoạ chân dung Gs. DQS
314.- Bích Huyền    DQS niềm hãnh diện và hạnh phúc VN
318.- Trang Điền                                (tức Bác sĩ MORITA)
                                Kính chúc mừng nhà văn Giáo sư DQS
335.- Tạ Xuân Thạc                                            Lời Cảm tạ



Lời Nói Đầu

Văn Đàn Đồng Tâm ban đầu qui tụ một số nhỏ ngòi bút có chút đam mê văn chương, viết lách. Một ngày nọ giáo sư Doãn Quốc Sỹ ngỏ ý cùng nhà văn Tạ Xuân Thạc rằng: "chúng ta nên mở ra một nhóm thân hữu văn chương, cùng nhau đồng tâm hợp lực để viết lách trong ý hướng gìn giữ chữ Việt tại hải ngoại".
Anh Tạ Xuân Thạc lúc đầu hơi do dự, nhưng sau khi suy nghĩ đắn đo, anh đã ngỏ ý và tiến cử tôi vào để cùng nhau xây dựng nhóm Đồng Tâm. Công việc ban đầu của tôi là đi mời một số bạn bè văn hữu quen biết, trong đó có chị Hồng Vũ Lan Nhi (em út của nhà văn  Giáo sư Lê Hữu Mục), chị Hoàng Huy Giang, các anh Mạc Phương Đình, Dương Viết Điền, Tôn Thất Phú Sĩ, Hoàng Thy, Hà Phương Hoài, Đào Anh Dũng,  Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích, các cô Linh Vang, Minh Nguyệt,v.v. với nhiều bạn văn khác nữa, khắp nơi ở hải ngoại
Sau khi xuất bản 3 tuyển tập, Văn Đàn Đồng Tâm chính thức mở rộng với diễn đàn, và đặc biệt có trang nhà riêng do Phong Vũ đảm trách. Hiên nay số hội viên tham dự Đồng Tâm càng gia tăng với một con số đáng kể.
Một số anh chị em thành viên Đồng Tâm đã đưa  đề nghị nên ấn hành một ấn bản đặc biệt để kỷ niệm về niên trưởng của Văn đàn Đồng Tâm. Tôi đưa vấn đề này ra để hỏi nhỏ anh Tạ Xuân Thạc. Liền ngay sau đó anh Thạc thăm dò ý kiến hai anh Thái Tú Hạp và Đỗ Tiến Đức. Anh Hạp và Đức đều đồng ý nên có một quyển sách "Kỷ niệm về nhà văn Doãn Quốc Sỹ".

Thế là tôi xúc tiến trong việc gửi thư trân trọng mời các nhà văn thơ kỳ cựu và thân hữu cũng như một số học trò cũ của Cụ Doãn Quốc Sỹ, một số đã là thành viên Đồng Tâm, sau khi đã rõ mục đích, mọi người vui vẻ góp những cảm nhận về văn phong cũng như tư cách của giáo sư Doãn Quốc Sỹ, những kỷ niệm với hình ảnh thật đẹp của ông đã hiện rõ nét với tất cả mọi người rất khiêm nhu và trong sáng.

Nhà văn giáo sư Lê Mộng Nguyên, Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp quốc từ Paris gửi bài mà tôi xin trích dẫn ý như sau:

"Tôi nhận lời của nhà văn Trần Việt Hải (của Văn Đàn Đồng Tâm do Doãn Quốc Sỹ thành lập năm 2005, với Tạ Xuân Thạc)  mời viết vài dòng về  Giáo Sư Tiến Sĩ Doãn Quốc Sỹ nhằm vinh danh một nhà văn nước Việt, một học giả uyên thâm, một nhà biên khảo nhân văn học và nhân hậu, của nhóm Sáng Tạo nay chỉ còn Trần Thanh Hiệp, họa sĩ Duy Thanh, nhà thơ Tô Thùy Yên và tác giả Người Việt Đáng Yêu (sau khi Nguyễn Sỹ Tế, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền và họa sĩ Ngọc Dũng đã qua đời). Tập tuyển này gồm những bài do các bạn xa gần của DQS đóng góp, đặng tỏ tình văn nghệ và ngưỡng mộ trước một ánh sáng Việt Nam, một trình độ trí thức ngang hàng những bậc đàn anh trong lịch sử vẻ vang của sinh hoạt văn học nghệ thuật nước nhà.  Cũng như qua truyền thống những trường Đại Học Âu Tây, mỗi khi một giáo sư lẫy lừng trên mặt quốc tế sắp về hưu, các đồng nghiệp tổ chức ấn loát một tập tuyển vinh danh một nhân vật anh tuấn, Pháp ngữ gọi là : MÉLANGES en l'honneur de… (ESSAYS in honour of…)

Còn nhà văn Trần Thanh Hiệp trong một email đã cho tôi biết ý kiến về sách này sau khi ông được nhóm Đồng Tâm tiếp đón ngày 15 tháng 9, 2006 tại Nam Cali và trở lại Paris:
"Trong chuyến đi sang thăm nước Mỹ, tôi đã gặp nhiều rất nhiều bạn bè xưa, trong có người bạn đồng hành trong Nhóm Sáng Tạo với tôi sau khi di cư vào Nam là nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Hôm nay gặp lại anh Việt Hải tại Nam California (sau  buổi gặp mặt  ngày ra mắt sách Tuyển Tập Đồng Tâm 3 tại thành phố Houston), anh có mời tôi tham dự bài viết của sách "Kỷ niệm về nhà văn Doãn Quốc Sỹ". Nghe nói vậy, thú thực tôi rất trân quý việc làm của các anh em bạn trẻ này, tôi nhận lời ngay. Hơn nữa, với anh Doãn Quốc Sỹ thì ngoài tình bạn ra, anh là một nhà văn có nhiều đóng góp giá trị cho văn học Việt Nam. Nếu viết về Doãn Quốc Sỹ thì tôi cho là một niềm vui khi nhắc nhớ về một người bạn tốt và những kỷ niệm về lãnh vực văn chương ngày trước..."

Xin mời quý vị độc giả hãy cùng tôi đi tìm hiểu những ngòi bút của nhiều thế hệ khác nhau ghi nhận trên giấy trắng về một nhà văn được nhiều mến mộ từ bao năm qua. Chi tiết về gia đình nhà văn Doãn Quốc Sỹ cũng được ghi nhận ở phần phụ chú (1) ở cuối sách trang 333.

Xin mời quý vị bắt đầu vào sách với chúng tôi.

TM. Nhóm Chủ Trương,
VIỆT HẢI


 
Còn Gì Quý Bằng Tình Tri Kỷ
(thư hoạ của Vũ Hối)

Còn gì quý bằng tình tri kỷ
Bao nhiêu kỷ niệm vẫn còn ghi
Đâu ngờ gặp nhau trên đất khách
Thư hoạ đôi lời gởi cố tri
VŨ HỐI
Thương tặng anh DOÃN QUỐC SỸ,
người bạn cố tri, người bạn
cùng tù ở Trại Phan Đăng Lưu  1986


Thơ tặng Doãn Quốc Sỹ
lên đường du ngoạn
trong thế giới ngôn ngữ dân tộc.


- Trần Thanh Hiệp -

Đã lâu rồi, gần 30 năm, tôi không đọc văn anh Sỹ. Nay muốn viết về số lượng tác phẩm đồ sộ của anh thì phải bỏ công đọc lại mới dám viết. Nên đành trích dẫn một đoạn của bài thơ tôi làm năm xưa, lúc cùng viết cho Sáng Tạo với anh và có dịp suy nghĩ về công trình sáng tác của anh.
Trần Thanh Hiệp, Paris, 2006

1   
mỗi ngày tôi phải nói
tại sao
tôi chịu làm người lữ hành vùng sa mạc
tiếng ai gào thét trong cơn bão cát
và sau những khủng khiếp
cuộc đời bỗng là ánh sáng
mỗi vòm cây là ân nhân
mỗi giọt nước là sự sống
nhà ai mới dựng
trang sử ai mới viết.

2
người sau cùng là đôi cánh
bay không bao giờ mỏi
con chim từng rời bỏ thiên đường
về địa ngục làm tổ
mang theo những bài ca tiên giới
làm ngôn ngữ
bốn mùa quay tơ dệt áo
trao tặng khắp nơi
sang xuân bộ lạc họp mặt
hôm qua anh là trai làng

hôm nay anh là tráng sĩ
xuống núi với bài gươm múa giữa trời
vẽ thành những lớp mây ngũ sắc
diễn tả tháng ngày và giãi bày định mệnh
đoàn thuyền độc mộc trên đầu thác
hối hả trên lưng giòng nước lướt về
kinh đô mở hội
sống thêm nghìn năm
chúng tôi đều có mặt
chúng tôi đã đủ mặt
xin dâng lễ vật
đôi mắt, hai bàn tay và trái tim
ngọn lửa vẫn cháy từ khi mặt trời mọc
đêm và ngày cầm tay
gái làng đã múa xong vũ khúc
và quỳ xuống chào tiễn anh lên đường
vòng vây quân thù trùng điệp
anh có đôi tay
khối óc và những vần thơ
bộ lạc trao anh làm vũ khí
ngoài kia đang quay tròn
những bánh xe răng cưa nhọn hoắt khổng lồ
ngoài kia đang gầm thét
những tiếng kinh dị
lăm le nghiến nát vũ trụ
anh hãy trở về với thân thể nguyên vẹn
với khuôn mặt siêu thoát
hãy trở về nặng chĩu lúa chín, trái thơm
hãy trở về bất tử vòng dương liễu trên trán.

Trần Thanh Hiệp

(Trích bài thơ Bằng hữu và kiến trúc
trong tập thơ VÀO  ĐỜI
của Trần Thanh Hiệp,
nxb Sáng Tạo ấn hành,  Sài Gòn, 1966)

 


TÂM HỒN NGHỆ SĨ CỦA DOÃN QUỐC SỸ

- Nguyễn Thanh Liêm -

Mỗi nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, họa sĩ, hay người nghệ sĩ nói chung, có quan niệm riêng về nghệ thuật của mình. Quan niệm riêng đó có khi được viết ra thành văn một cách rõ ràng, hay nhiều khi chỉ được thể hiện bàng bạc trong những tác phẩm của họ. Trong trường hợp sau này, khán thính giả của họ chỉ có thể suy ra từ tác phẩm. Trường hợp của Doãn Quốc Sỹ khá đặc biệt. Ông không dành riêng một quyển sách hay một bài viết nói hẵn về chủ trương nghệ thuật của ông, nhưng qua một ít tác phẩm tiểu thuyết của ông người đọc có thể tìm thấy rõ ràng quan niệm đó.        

Thiệu, nhân vật chính trong Dòng Sông Định Mệnh, sinh ra và lớn lên trong những thập niên 1930-40, ở Miền Bắc Việt Nam. Đây là thời Đại Chiến Thế Giới Thứ Hai sang chiến tranh Đông Dương. Yêu nước, theo phong trào kháng chiến chống Pháp, như nhiều thanh niên nghệ sĩ trí thức khác, nhưng Thiệu nhận thấy lần hồi có nhiều văn nghệ sĩ công phẫn trở về thành vì Đảng lãnh đạo có thái độ khinh khi tụi "nghệ sĩ tiểu tư sản". Sau hiệp định Genève, Thiệu lẳng lặng trở về thành. Từ đấy Thiệu hay suy tư về ý nghĩa cuộc đời. "Ai mà chẳng yêu Tổ Quốc, yêu nhân loại vô điều kiện? Nghệ thuật chân chính mặc nhiên phải vô tư, chính trị chân chính mặc nhiên phải vươn tới chỗ vô tư. Nghệ thuật không xa chính trị vì nghệ thuật bắt nguôn ở cuộc sống. Chính trị không xa nghệ thuật vì chính trị gia chính là người nghệ sĩ phụng sự cái đẹp trong hành động. Nếu đừng quá căn cứ vào gốc cạnh của tiếng nói nhân loại thì Thiệu có thể cả quyết rằng: Chân, Thiện, Mỹ là một! Người dân là những nghệ sĩ hồn nhiên, các nhà hiền triết là những nghệ sĩ điêu luyện, rồi các chính trị gia, rồi các văn nghệ sĩ . . . mỗi người ở địa vị riêng mà hoạt động với cả tấm lòng chí thành, thì mỗi địa vị là một khía cạnh của một chân lý toàn diện: đó là lòng hướng về Chân, Thiện, Mỹ; đó là những nỗ lực thường xuyên của con người đê nâng cao mức

sống tinh thần của con người!" ( Dòng Sông Định Mệnh, tr. 44). Thiệu là người rất lý tưởng, chỉ nghĩ đến cái đẹp, hay đúng ra là cả Chân, Thiện, Mỹ mà anh ta cho là cái đích mà mọi người phải hành động để vươn tới đó. Tâm hồn của anh ta là tâm hồn của một người nghệ sĩ rất vị nghệ thuật. Có điều là Thiệu không có thật, Thiệu chỉ là một nhân vật tiểu thuyết, một con người trong tưởng tượng của tác giả mà thôi. Những gì Thiệu nghĩ, Thiệu nói, đều là do tác giả đặt vào bộ óc và cửa miệng của anh ta.

Thiệu đi học ở ngoại quốc, học về hội họa, đang có cơ trở thành một họa sĩ. có tiếng. Thiệu có dịp quen biết Suzanne, một cô gái người Y Pha Nho, vừa rất đẹp vừa có ngón đàn dương cầm tuyệt vời. Một hôm Thiệu muốn Suzanne ngồi đánh đàn để Thiệu vẽ. Suzanne hỏi: Anh định vẽ tôi đánh đàn? Câu trả lời của Thiệu là: Không, tôi vẽ tiếng đàn của cô. Một bên là thế giới màu sắc đường nét phải lấy mắt mà nhìn, còn một bên là thế giới âm thanh phải lấy tai mà nghe, người ta có thể dùng giác quan này để làm công việc của giác quan kia được không? Thiệu có thể vẽ được âm thanh không? Chỉ có Suzanne mới có thể trả lời cho câu hỏi đó khi nàng xem qua những croquis của Thiệu. Suzanne đã thấy được hình ảnh soải tay xuống cung trầm là nhạc Chopin, còn những bông hoa xinh trên phím đàn cùng những con bướm xinh đậu trên mái tóc là nhạc Mozart. Tiếng đàn của nhạc sĩ đã được vẽ lên tranh người họa sĩ. Có sự tương quan giữa các giác quan của người ta. Trước đó, vào thập niên 1930, người thanh niên tân học cũng đã được đọc bài thơ Huyền Diệu của Xuân Diệu thể hiện ý tưởng "mùi hương, màu sắc và âm thanh đáp lời nhau"("Les parfums, les couleurs et les sons se répondent") qua các câu thơ:

Này lắng nghe em khúc nhạc thơm
Hãy tự buông cho khúc nhạc hường

Khúc nhạc thơm, và khúc nhạc màu hường ở đây cho thấy sự tương ứng giữa các cảm giác về âm thanh (nghe), mùi hương (ngửi) và màu sắc (thấy). Trường phái thơ Tượng Trưng (symbolism) của Pháp khai thác nhiều mối tương quan giữa các giác quan (correspondence des senses) mà Xuân Diệu là người chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất. Bên Trung Hoa thời xưa người ta

cũng đã nghiệm thấy liên hệ mật thiết giữa hai lãnh vực nghệ thuật thi ca và hội họa từ một tài năng nghệ sĩ, như khi đọc bài thơ của Vương Duy người ta thấy cả một bức tranh trong đó và ngược lại khi nhìn bức họa của Vương Duy người ta cũng thấy cả một bài thơ bên trong ("Quan Vương Duy chi thi, thi trung hữu họa, quan Vương Duy chi họa, họa trung hữu thi"). Các giác quan không làm việc riêng rẽ trong một con người, các cảm giác sẽ cùng phối hợp với nhau trong một tâm hồn, một trung tâm tâm lý hội nhập tất cả làm thành một nhận thức chung về thế giới bên ngoài. Tâm hồn nghệ sĩ là tâm hồn nhạy bén, rất dễ cảm xúc, cũng là tâm hồn vươn lên trên những cảm giác thông thường, để đến gần Chân, Thiện, Mỹ.  

Cũng như Thiệu, Tùng, nhân vật chính trong một tác phẩm khác của Doãn Quốc Sỹ ("Chàng Nhạc Sĩ") cũng là một nghệ sĩ. Nhưng Tùng không vẽ tranh như Thiệu mà là đàn và sáng tác nhạc. Anh chàng nhạc sĩ này cũng mê say nghệ thuật, coi thường tất cả những cái tầm thường của cuộc sống kể cả vợ con, và công việc làm ra tiền để nuôi sống cá nhân và gia đình. Tùng bước vào thế giới nghệ thuật với lý tưởng nghệ thuật vị nghệ thuật. Với lý tưởng đó, Tùng sống xa thực tế cho đến một ngày kia khi cơ hội tiếp xúc với người dân đưa Tùng đến một cái nhìn khác trong quan niệm về cái hứng để làm nghệ thuật. Tùng nói với người bạn thân: "Anh có lòng nghĩ đến tôi và Nghệ Thuật, nhưng tôi đã làm được những gì cho Nghệ Thuật dạo đó? Tôi đã không biết rằng mảnh trăng kia đẹp chính vì đã cài lên cành cây xứ Người ở, đã chiếu sáng lên mái nhà, hàng dậu của Người làm. Ánh sáng phải có đối tượng mới không bâng quơ, mà Nghệ Thuật là tiếng lòng rung lên khi bảy giây tình được va chạm với cuộc sống. . . Trước đây tôi đã trốn cuộc sống như rễ lười không chịu đi sâu vào lòng đất thì làm sao tránh được kết quả cây cằn hoa úa? . . . Bây giờ tư tưởng tôi đã "hạ sơn" để sống thực những ưu tư trên đời của kẻ làm người." Phải sống thực để có nguồn cảm hứng ngay từ cuộc sống thì nghệ thuật mới có kết quả. Tùng nói tiếp :"Thì ra chính cái tự do phóng túng của những mộng lớn bắt nguồn ở cuộc sống có bờ lũy kia. Miễn là mình phải sống cho đầy đủ cuộc sống đó." Người nghệ sĩ cũng là người, mà đã là người thì không thể không sống trong thế giới loài người, không thể tách rời cộng đồng người được. Nghệ thuật xuất phát từ con

người, nghệ thuật không thể chỉ có trong thế giới riêng cách biệt với cuộc sống hiện thực của con người. Tùng bảo:"Vấn đề chính vẫn là phải rung động thật. Khi đã sống thật để rung động thật rồi, sáng tác chỉ là biểu lộ cái bản ngã của mình."(Chàng Nhạc Sĩ, tr.177)

Trong câu chuyện "Tiếng Địch Quê Hương" người làm ra bản nhạc là chú Ba, người nghệ sĩ  nông thôn, một người như bao nhiêu người dân vô danh đã từng là những nghệ sĩ sáng tác hằng muôn ngàn câu ca dao cho nền văn chương dân tộc. Và người nghe, thấu hiểu, và hết lòng chiêm ngưỡng bản nhạc này là tác giả câu chuyện. Tác giả gọi người nhạc sĩ là chú Ba. Và theo tác giả, "chú Ba đã sáng tác khúc này sau khi xúc động sâu xa bởi hình ảnh người mù tiều tụy, con chó có nghĩa và bài học nhắc về thầy Tử Lộ của cái Tín. . . . những hình ảnh trên không phải chỉ rời rạc nông cạn có thế, trái lại kết hợp thành một khối để gợi lên một toàn thề điển hình của đất nước. Hình ảnh người mù tiều tụy cũng là hình ảnh đau thương của người Việt sau nạn đói 1945, hình ảnh con chó có nghĩa cũng là hình ảnh chung thủy ở bất cứ hoàn cảnh nào đã từng biểu lộ trong những câu tục ngữ ca dao: "Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo" và "Anh đi anh nhớ quê nhà, Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương". . .lòng hiếu hạnh của thầy Tử Lộ cũng là thứ tình cảm bàng bạc ở bất cứ một tâm hồn người Việt nào". Tác giả còn ghi nhận thêm rằng: "Tiếng địch của chú Ba không phải là một lời ca nô lệ cho ngoại vật mà là một triếng ca đạo đức khi hồn người chợt được giao cảm với thiêng liêng." (Tiếng Địch Quê Hương, tr. 185-86).

Thời cuộc đổi thay. Hiệp định Genève ra đời. Nhiều người không chịu đựng được chế độ Cộng Sản, phải di cư vào Nam. Chú Ba cũng không chấp nhận chính sách độc tài, vô đạo đức, phản dân tộc của Đảng, nên cũng di cư vào Sài Gòn. Tác giả lại có cơ hội gặp lại người xưa. "Tôi thực không bao giờ ngờ lại được gặp chú Ba ở thủ đô miền Nam nước Việt tự do này. Chú Ba đến chiếu sáng hồn tôi một niềm vui rộng lớn. Được gần chú Ba, được gần Tiếng Địch Quê Hương tôi như được sống dạt dài lưu luyến trong một thế quân bình hiếm có của đạo đức và tình cảm." (Tiếng Dịch Quê Hương, tr. 199-200). Trên phần đất tự do, vào đêm ba mươi Tết, Tiếng Địch Quê Hương nổi lên "trầm

hùng bát ngát như tiếng hồn bất diệt của dân tộc hiền hòa và mãnh liệt." Và tác giả kết thúc bằng những khẩu hiệu:

Vũ trụ bất diệt
Hồn tổ tiên tôi bất diệt!
Dân tộc tôi bất diệt!
(Tiếng Địch Quê Hương, tr 204)

Tâm hồn nghệ sĩ của Doãn Quốc Sỹ là tâm hồn cao đẹp, rung động trước cái đẹp của vũ trụ tự nhiên, luôn hướng về Chân, Thiện, Mỹ, yêu chuộng tự do, phụng sự cho lý tưởng nghệ thuật vị nghệ thuật, nhưng nguồn hứng luôn xuất phát từ cuộc đời thực tế, từ mảnh đất quê hương, từ lòng yêu thương xứ sở và dân tộc. Tâm hồn nghệ sĩ đó không bao giờ có thể chấp nhận được loại văn chương tuyên truyền, ca tụng chế độ, xui giục đấu tranh giai cấp, với đường lối sáng tác đã được vạch sẵn. Người ta không ngạc nhiên khi thấy Doãn Quốc Sỹ rời bỏ Kháng Chiến, di cư vào Nam tìm tự do, để có điều kiện và cơ hội tạo nên sự nghiệp văn chương phong phú và giá trị của ông từ sau hiệp định Genève cho đến năm 1975.    

 
NGUYỄN THANH LIÊM   


Thay Lời Tựa  -  dành cho tập truyện Cò Đùm của nhà văn Doãn Quốc Sỹ
- Hoàng Khởi Phong -

"Ngã kim nhật tại tọa chi địa
Cổ chi nhân tằng tiên ngã tọa chi"


      Với tôi nhà văn Doãn Quốc Sỹ là bậc trưởng thượng. Khi tôi ra đời, ông đã bước vào tuổi hai mươi, đã hăm hở lên đường cứu nước. Bởi vì năm 1943, dân tộc Việt chúng ta có tới hai cái ách ngoại bang tròng vào cổ. Trước tiên là người Pháp, đã đặt nền bảo hộ hơn nửa thế kỷ đầy máu. Kế đó Đệ Nhị Thế Chiến đã mang Quân Đội Nhật vào trú đóng trên đất nước chúng ta, rêu rao chiêu bài Đại Đông Á. Nhưng mà người Nhật cũng không khác gì Pháp, cái họ mang tới không phải nền độc lập, sự thịnh vượng, mà chỉ thêm vào những dòng máu khác. Đó là chưa kể tới những cái ách, của chính người Việt choàng lên cổ lẫn nhau. Nên vì đó bất cứ một thanh niên nào nhiều nhiệt huyết, thao thức tới vận mệnh tổ quốc, đều không sớm thì muộn cũng sẽ hăm hở lên đường như Doãn Quốc Sỹ.  
      Nên tôi không lấy làm lạ, nếu như nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã có một thời gian bôn ba trong vùng kháng chiến. Khi người ta còn trẻ và lòng đầy lý tưởng, ngay cả việc hy sinh tính mạng cũng là một điều nhỏ, thì sá gì những chặng đường rừng, những ngọn đồi cao, những con sông rộng. Khi người ta còn trẻ và tràn đầy những giấc mộng lớn, thì sá kể gì bụng đói, trên thân người một manh áo mỏng, một chiếc quần vải thô. Bởi vì người ta đem thân ra đi, để sống muôn đời. Mưa và nắng gió đường xa chỉ có thể làm cho lý tưởng vững chắc hơn, chứ không bao giờ làm cho nhụt đi những tin tưởng mãnh liệt vào tương lai của tổ quốc. Chọn lựa vào đời đầu tiên của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, là tham gia vào bất cứ một tổ chức nào, đi trên bất cứ con đường nào, miễn sao cứu được tổ quốc ra khỏi cảnh khốn cùng. Ông đã đem tuổi thanh xuân của ông, cống hiến cho cuộc chiến đấu một mất, một còn của tổ quốc, như bất cứ một người tuổi trẻ nào, ý thức

được bổn phận của một công dân trong một xứ sở bị trị. Trước Doãn Quốc Sỹ nhiều thế hệ, những người thanh niên đã ra đi. Sau Doãn Quốc Sỹ sẽ còn nhiều thế hệ nữa tiếp tục lên đường.
      Thế nhưng chỉ vài năm sau, Doãn Quốc Sỹ đã mơ hồ nhìn thấy con đường ông chọn, rồi ra sẽ không đưa tổ quốc tới được một tương lai tươi sáng hơn, nếu không muốn nói là tăm tối hơn, tàn bạo hơn so với sự cai trị của người ngoại chủng. Chính vì đó mà ông đã trở về thành, yên tâm đến trường, hoàn tất việc học mà ông đã bỏ dở. Ông đã phải bỏ lại đằng sau, cuộc chiến đấu ông đã chọn lựa, để rồi năm 1954, ông đã dắt díu gia đình vào Nam, chiêm nghiệm lại sự thất bại của thế hệ ông trước những đòi hỏi của lịch sử. Chính vì đã vào thành, bỏ dở lý tưởng ông đã chọn trong lúc tuổi thanh xuân, ông đã phải tìm con đường khác, để hoàn thành giấc mộng cũ. Đó là một trong những lý do khiến ông trở thành nhà văn sau này. Bởi vì văn chương chính là một sức mạnh tiềm ẩn, người ta không thể nhìn thấy, không thể cân đo, đong đếm được sức mạnh của văn chương. Nhưng người ta cảm nhận được sức mạnh của văn chương, chữ nghĩa.
      2-
      Nhiều năm sau tôi bắt đầu thích đọc sách. Biết thế nào là những cuốn sách hay, và những cuốn sách biết hay không biết phân biệt thế nào là văn chương và thế nào là những chuyện hoang đường tưởng tượng. Tôi đã đọc Doãn Quốc Sỹ và mơ hồ nhận biết: Một tác phẩm lớn mở lối tới tương lai, khác với một cuốn tiểu thuyết hay, phục vụ cho thị hiếu bình thường của người đọc. Một tác phẩm kích thước, có thể thay đổi số phận nhiều con người, thường khi là một cuốn sách bán không chạy.
      Khi nhận biết được những điều này, tôi bước chân vào tuổi hai mươi. Tuổi của Doãn Quốc Sỹ khi ra đi tham gia trận chiến của ông. Thế hệ tôi lớn lên có một trận chiến khác. Nhưng rồi trận chiến nào cũng giống trận chiến nào. Cũng súng đạn ngoại bang, cũng máu xương dân Việt. Có khác chăng giữa hai trận chiến là diện mạo quân thù. Khi Doãn Quốc Sỹ chong mũi súng về phía đằng trước, thì trước mặt ông là những người thực dân Pháp da trắng, cùng những người lính đánh thuê da mầu. Phía trước mũi súng của tôi là những người đồng chủng, tệ hơn nữa

có thể là những anh em con chú, con bác đã không di cư vào Nam như gia đình tôi. Nói một cách khác, thế hệ chúng tôi tiếp tục trận chiến bỏ dở của thế hệ Doãn Quốc Sỹ. Riêng Doãn Quốc Sỹ, ông đã chọn trận chiến của riêng ông, là gióng lên những thất bại của thế hệ ông, nhằm cảnh giác thế hệ chúng tôi trong thế trận mới.
      Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đến với tôi có một vị trí đặc biệt. Trước tiên do những thất bại của ông và của thế hệ ông, những thất bại vì không thể nhắm mắt đồng lõa với sự tàn bạo của con người, dành cho con người. Ông đã bỏ lại đàng sau, cái hàng ngũ đã reo rắc kinh hoàng, tang tóc cho một nửa nước phương Bắc. Ngay khi đặt chân xuống miền Nam, ông ngồi xuống bàn viết, và thế hệ chúng tôi nhận được bức thông điệp đầu tiên của ông. Trong tư cách một nhà văn, ông cổ súy cho: "Lòng nhân ái".
      Để chống lại sự tàn bạo đến phi nhân của kẻ địch, võ khí mà nhà văn sử dụng chính là lòng thương yêu. Năm mười tám tuổi, khi đọc "Dòng sông định mệnh - Chiếc chiếu hoa cạp điều" của ông, tôi bắt được những ý nghĩ trong lành trong từng trang sách.
      Nói một cách khác trong đời chiến đấu khá ngắn ngủi của ông, ngay khi phát giác những người sát cánh bên cạnh mình, là những con người bạo tàn với đồng loại, với ngay cả đồng bào của chính mình. Khi phát giác ra điều này, nhà văn phải lập tức quay lưng lại với quyền lực, không những quay lưng lại mà còn phải lớn tiếng tố cáo, chống lại những bạo lực này, bằng cách ghi lại những ao ước của mọi người, thể hiện những ao ước này bằng lòng thương yêu, nơi mọi nhân vật trong tác phẩm của mình. Tính nhân bản luôn là nét chính, trong các tác phẩm đầu tiên của nhà văn Doãn Quốc Sỹ.
      Năm 1963, tôi hai mươi tuổi, nằm trong quân trường Thủ Đức. Tôi đọc cuốn đầu của bộ trường thiên tiểu thuyết bốn cuốn"Khu rừng lau", của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Bên ngoài hàng rào quân trường, xã hội miền Nam đang trải qua những cơn bão tố chính trị. Thời đó ông chỉ mới hoàn tất cuốn đầu: "Ba sinh hương lửa - 1962", để rồi những năm sau, trôi nổi trong đời quân ngũ, lúc nào tôi cũng quan tâm đến các phần còn lại của bộ

trường thiên tiểu thuyết này: "Người đàn bà bên kia vĩ tuyến, 1964 - Tình yêu thánh hóa, 1965 và Đàm thoại độc thoại, 1966".
      Cách ông đặt tên cho toàn bộ trường thiên, cũng như từng phần cho thấy trong tác phẩm này, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã bầy trước mặt ông quá nhiều vấn đề, quá nhiều mong ước. Éo le thay giải quyết các vấn đề này, cũng như làm đầy những ước mơ này, không nằm trong tay các nhà văn. Đau lòng hơn thế, suốt trong hơn hai thế kỷ cận đại, chưa bao giờ số phần của dân tộc Việt Nam, nằm trong tay dân tộc Việt Nam. Trong bộ trường thiên này, người đọc nhận thấy những biến đổi của chính trị, xã hội bên ngoài, khiến cho Doãn Quốc Sỹ nhìn lại chỗ đứng của ông. Ông đã chọn lầm vị trí khi rời nhà ra đi, tham gia kháng chiến. Chẳng lẽ ông lại lầm một lần nữa?
      Một đàng là những bạo tàn đến từ phương Bắc, một đàng là những ung thối của miền Nam. Nhà văn đứng giữa cô đơn biết dường nào. Doãn Quốc Sỹ đã ký thác tâm trạng băn khoăn của chính ông, đan những suy nghĩ dầy dặc của ông, vào hành động của các nhân vật trong bộ trường thiên này. Ông vẫn giữ được trọn vẹn lòng nhân ái cũ, nhưng chen vào đó là những phút bâng khuâng, những câu hỏi về ngày mai. Giọng văn tha thiết với người, với đời còn đó, nhưng niềm tin bạt núi vào tương lai quả có sứt mẻ khá nhiều. Trong cung cách một nhà giáo, đào tạo những nhà giáo khác của ngành Sư Phạm, may thay ông còn được một ngõ thoát khác: Ông đã trực tiếp chuyển những chân thành nơi ông, sang những người học trò của ông nơi ghế nhà trường, ủy thác cho những nhà giáo tương lai việc trao truyền lại "thông điệp nhân ái", mà ông đã dùng những tác phẩm văn chương của ông như một phương tiện để truyền đạt.
 3-
      Năm 1975 ập tới, thế hệ của tôi mang về cho tổ quốc một kết quả tương tự như thế hệ Doãn Quốc Sỹ. Thế hệ của ông tuy thất bại, dẫu sao nữa vẫn còn giữ được cho chúng tôi một khoảnh đất tự do, một chút vốn liếng cuối cùng. Thế mà thế hệ chúng tôi nỡ lòng nào đánh mất cái vốn liếng cuối cùng này, để đến nỗi toàn bộ xứ sở chìm trong tù ngục.  Tháng Tư năm 75, khi những người Cộng Sản ngoài Bắc tràn vô chiếm lãnh Sài Gòn, Doãn

Quốc Sỹ đã không may mắn như năm 54. Ông ở lại và nhận lấy hậu quả nơi những dòng chữ chuyên chở lòng thương yêu của ông. Ông bị Cộng Sản giam giữ cùng với nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo của miền Nam. Nhiều người đã nằm xuống trong hàng rào, nhiều người được phóng thích, nhưng khi ra khỏi cổng nhà giam, chỉ còn là một thân xác bất động, thân nhân chỉ còn một thời gian rất ngắn kịp chạy ma chay. Tha về để trại giam tiết kiệm được một xuất cơm mỗi ngày, vài viên thuốc hết hạn, và một vài miếng ván đóng quan tài.
      Cũng như bao người khác, thoạt mới bị giam giữ Doãn Quốc Sỹ bị bao trùm bởi sự sợ hãi. Nhưng nhờ đã có kinh nghiệm với người Cộng Sản trước kia, và nhờ ý chí mạnh ông đã qua khỏi được giai đoạn kinh hoàng khi mới bị bắt giam. Ông tiết kiệm từng hơi thở, gìn giữ mỗi cử chỉ, cốt để cho những người quản giáo không có cơ hội xúc phạm tới nhân phẩm của ông. Ông hít sâu vào lồng ngực, thở ra chậm chạp, như thở của một tu sĩ trong cơn tọa thiền. Vả lại nhà văn là những người có khả năng phân thân, có thể nhẩy lùi lại quá khứ, sống cuộc đời trăm năm trước, hay phóng mình tới xã hội của trăm năm sau, do đó thân tuy bị giam trong ngục tối, nhưng hồn thì ở cuối chân trời. Tuy bị bóng tối bao phủ, nhưng trong mắt nhìn của nhà văn, ông bắt gặp những mầu sắc tươi đẹp của ngày mai.
      Doãn Quốc Sỹ là một trong những nhà văn của miền Nam được "chiếu cố" kỹ nhất. Nếu như trước kia ông không về thành, với khả năng của ông, có thể ông đã là một trong những người di rao giảng chiến thắng. Nhưng hơn hai chục năm trước, ông đã chọn vị trí cho riêng ông, ông đã đứng trong hàng ngũ của kẻ hôm nay chiến bại, nên vì thế mà những tác phẩm ông viết, đã bị những người được gọi là "nhà văn" xăm soi từng chữ, từng dòng. Người ta dùng kính lúp chiếu lên từng cái chấm, từng dấu phẩy trong những trang sách này, mong tìm tòi gán ghép cho nhà văn, những tội danh không tưởng. Song song với việc khai báo trong những lần làm việc với "chấp pháp", lúc nào ông cũng nghĩ tới việc sử dụng ngòi bút khi ra tù. Chính vì vậy mà những năm đầu 80, sau khi ông được thả lần đầu, độc giả hải ngoại được đọc tác phẩm "Đi" của "Hồ Khanh", từ trong nước chuyển ra hải ngoại. Hồ Khanh chính là bút hiệu "viết chui" của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Trước sau ông bị bắt đi thả lại nhiều lần. Ông bị

giam hơn 10 năm, và đặt chân tới Mỹ tháng Hai năm 1995. Ông đã 72 tuổi, đủ để bước vào cái tuổi mà các cụ cho là thất thập cổ lai hy. Ngay khi đặt chân xuống vùng đất mới, con người nhà văn trong ông sống lại, ông làm quen với những độc giả cũ của ông với ba tác phẩm: "Mình lại soi mình, Người vái tứ phương, Dấu chân cát xóa" mà trong đó có cuốn "Dấu chân cát xóa" là một tác phẩm được viết vào năm 1974, chưa kịp mang đến nhà in thì tai họa đã ập xuống đầu cả nước.
      Những ai đã từng yêu Doãn Quốc Sỹ, nhận ngay ra văn phong của ông trong ba tác phẩm này. Ông là một ngòi bút dùng để tuyên dương điều thiện, cái đẹp, thế mà ông bị giam hãm trong một vùng đất mà tính ác và điều xấu bao trùm tới khóm cây ngọn cỏ. Thêm vào đó gần hai chục năm đắm chìm trong suy nghĩ, không có dịp cầm bút, nên cái nhịp của các tác phẩm này chậm chạp, các nhân vật ít linh hoạt hơn, so với những nhân vật trong các tác phẩm trước kia của Doãn Quốc Sỹ.
      4-
      Tác phẩm mới nhất của nhà văn Doãn Quốc Sỹ có tên là "Cò Đùm". Đây là một tác phẩm mới mà cũ, bởi vì ông đã viết truyện ngắn này vào năm 71. Cuốn sách được ông quyết định mang in sau khi ông đã hít thở không khí tự do của nước Mỹ chẵn tròn một năm. Trong một năm đó, gót chân ông đã vân du hai ba đại lục. Ông đã nhìn thấy tận mắt, đã nghe tận tai, đã thấy thế nào là hoan hô, đả đảo. Ông có dịp quan sát từ đối cực này sang đối cực khác. Những năm trong tù giúp ông có thời gian nghiền ngẫm lịch sử. Ông chiêm nghiệm được một điều: Trong các cuộc biến thiên của lịch sử bất lợi cho đất nước, trong mọi cuộc chiến tranh, đặc biệt là trong các cuộc nội chiến, lớp người thiệt thòi, khổ đau nhất là những nông dân, mà nhân vật "Cò Đùm" là một thí dụ. Nhưng cũng chính những người nông dân này có sức chịu đựng bền bỉ nhất. Chính những người nông dân này, đã oằn vai sốc vác gánh nặng của lịch sử trong những thời khoảng đen tối nhất. Họ là những mạch sống ngầm của dân tộc, hệt như những mạch nước do địa thế không thể chẩy lộ thiên, đã ngấm xuống và chẩy ngầm trong lòng đất. Khác với dòng nước sông Hồng đỏ ngầu máu địch, họ là những cái giếng trong cho mỗi một ngôi làng. Trong những lũy tre xanh, mỗi một ngôi làng là một cứ

điểm tích lũy vốn sống của tổ tiên. Dưới mái ngói của mỗi ngôi đình là một niềm tự hào riêng của từng địa phương, mà ở đó những người dân quê tuy hiền lành, nhưng bướng bỉnh duy trì những mạch đời, liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác.
      Sự khôn ngoan của "Cò Đùm", không thể là cái khôn ngoan rút được từ trong sách vở. Sự khôn ngoan đó là kinh nghiệm sống của nhiều kiếp con người. Những kinh ngiệm đó không phải thứ kinh nghiệm ù lì. Mà trái lại đó là những ứng dụng đầy sáng tạo. Trong những điều kiện thật khắc nghiệt của lịch sử, quân thù giới hạn việc di chuyển, thông thương. Mỗi một ngôi làng vẫn có thể tồn tại được, cho dù không được tiếp xúc, giao thương với các làng khác. Những cải tổ nông nghiệp thường khởi đi từ dân chúng, thí dụ như cách làm khoán cho từng gia đình, là sáng tạo của người nông dân Việt Nam, trước việc làm chung hợp tác xã cái kiểu cha chung không ai khóc được ứng dụng tại Trung Cộng trong những năm của thập niên 60. Muời năm trước Sài Gòn là một thành phố buồn thảm, như một cái cây trụi lá trong mùa đông, hiện nay đã có những tàn lá xanh, tuy chưa phải là mùa xuân, nhưng ít ra thành phố đã có mầu sắc. Sự thay đổi này được khởi đi từ dân chúng, không phải bởi những sắc lệnh "đổi mới" được ban bố từ trên xuống. 
      Hãy tưởng tượng những "Cò Đùm" của đất nước chúng ta, trong thời Bắc thuộc, khi chưa có bà Trưng, bà Triệu, Phùng Hưng, Triệu Quang Phục... cho tới khi lịch sử sản xuất một Ngô Quyền. Thế rồi trên dòng trường giang của lịch sử, khi nòi Hán với các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh xâm lăng từ bên ngoài, mà nước Việt chưa kịp có những Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung... Rồi gần chúng ta hơn nữa, trong thời Pháp thuộc, cái bạo tàn của thực dân được hỗ trợ bởi sự nhu nhược của triều đình, cộng thêm với sự nhũng lạm của các tham quan đã khiến cho dân chúng phải gầm mặt mà sống. Phải sống mà chờ một người anh hùng áo vải của ngày mai.
      Để có thể sống còn khi mà lịch sử còn đang u u, minh minh, những lũy tre làng hữu hiệu hơn các đô thị. Mỗi một ngôi làng là một cứ điểm đơn độc lặng lẽ sống, kiên nhẫn chờ, cho đến khi bóng dáng người anh hùng thực xuất hiện, bởi vì hơn bao giờ hết

 thời đại của chúng ta có quá nhiều anh hùng giả. Khi những người của lịch sử xuất hiện, thì ngàn vạn ngôi làng, ức triệu con người như "Cò Đùm" ngẩng mặt lên, nhất tề đứng dậy xếp hàng sau lưng người của muôn đời dựng lại lịch sử. Hãy tưởng tượng những "Cò Đùm" hôm nay, đang cúi mặt xuống, sống để mà sống. Ôi những người nông dân sông Tiền, sông Hậu, những người nông dân Nam Định, Thái Bình... Đã bao đời nay họ sinh ra để làm nông dân, không phải để làm đảng viên. Họ có thể bị chóa mắt bởi những lời phỉnh phờ, bởi những thủ đoạn của những người thực dân xâm lược, bởi những ông quan khệnh khạng trong triều, bởi những người làm chính trị nhiều thủ đoạn, và bây giờ là những người đảng viên Cộng Sản u tối đầy bạo lực. Họ có thể bị lừa năm, mười, hai mươi năm, và rồi cái vốn sống tiềm ẩn của bao nhiêu đời tích lũy, sẽ giúp họ giữ được bản chất hiền hòa của tiền nhân, nhẫn nhục sống chờ một ngày mai lịch sử thăng hoa, và muôn triệu con người có một kiếp người.
      Những người nông dân, những "Cò Đùm" của đất nước hiện nay, không có phương tiện để phản đối như chúng ta tại hải ngoại, không có báo, không có đài phát thanh, truyền hình, không có những diễn đàn cờ quạt, biểu ngữ, bích chương, khẩu hiệu. Cũng không có quần áo đẹp trịnh trọng phát biểu trước những dẫy micro, tuôn ra những lời nói kêu mà rỗng, hay những lời đả kích cho sướng miệng. Đã nhiều năm nay, tôi thấy những bài diễn văn của chúng ta, chỉ vang vang trong các hội trường, trong các góc phố, nơi các địa điểm tổ chức mít tinh, biểu tình. Những bài diễn văn của chúng ta hệt như những viên sỏi ném xuống một ao bèo, chỉ tạo được vài gợn sóng lăn tăn, rồi trả lại sự phẳng lặng cho mặt nước. Đã muôn đời nay, nông dân là những lớp sóng người, nhấp nhô theo vận nước. Họ làm nên sức mạnh chịu đựng trong mọi cơn khốn cùng của lịch sử, để rồi khi mạch sống dân tộc vươn lên, những lớp sóng người này cũng không được hưởng những vinh quang. Cái mà họ cần, chính là một cuộc sống ấm no hơn, con người ăn ở với nhau tử tế hơn, nhân ái hơn. "Cò Đùm" là một tập truyện ngắn, đã được nhà văn Doãn Quốc Sỹ viết không phải để phô diễn văn chương, mà để nói lên những chiêm nghiệm của ông trước những cơn ba đào của lịch sử, như hầu hết những tác phẩm cũ của ông. 

      Cách ông viết bây giờ, là lấy ngón tay chỉ mặt trăng. Hãy chú trọng tới mặt trăng, còn ngón tay chỉ là phương tiện.
      5-
      Ở vào tuổi thất thập cổ lai hy, những tác phẩm mới của nhà văn Doãn Quốc Sỹ quả đúng là "Văn Dĩ Tái Đạo". Trong văn chương, ông chống lại mọi guồng máy làm cho sức sống của dân tộc bị trì trệ. Bất kể guồng máy đó thuộc về phía nào. Ông viết từ tốn, không khoa đại ngôn ngữ, song thái độ của ông là một thái độ quyết liệt với bạo lực và tăm tối.  
      Với tôi nhà văn Doãn Quốc Sỹ là một bậc trưởng thượng. Trên con đường văn nghiệp, ông đã khởi hành trước tôi 20 năm. Với tên tuổi, và những tác phẩm ông đã đóng góp với dòng văn học gần nửa thế kỷ nay, ông không cần một bài tựa. Bài viết này nghĩ cho cùng chỉ là những lời cám ơn, của một người khởi hành sau ông một khoảng thời gian, cách ông một thôi đường. Trong hành trình tiến tới tương lai, có thể ông sẽ nằm xuống trước tôi. Điều quan trọng chính là những nhát búa mở đường của ông và của thế hệ ông để lại, đã giúp cho hậu sinh chúng tôi tiến về phía trước thêm được một khoảng cách. Tôi tin rằng thế hệ của tôi cũng sẽ làm những việc tương tự, phóng những nhát búa, phạt những đường dao khác tiến tới phía trước.
      Tôi cầu chúc nhà văn Doãn Quốc Sỹ sức khỏe, sống lâu trăm tuổi để có thể thấy những "Cò Đùm" của ông nơi quê nhà, rồi ra sẽ không còn cúi mặt.

HOÀNG KHỞI PHONG


TÌNH THẦY TRÒ
và kiếp tha hương


- Đàm Trung Phán -

Một buổi tối mùa hè năm nay (2006) khi tôi đi bách bộ trên vỉa hè của thành phố Toronto, Canada, bỗng một cơn gió mát thổi tới làm lay động ngọn cây trên đầu đồng thời cũng làm tâm hồn tôi lay động theo cơn gió luôn. Tự dưng tôi mường tượng được trở về lại cái thời còn đi học Trung học đệ nhất cấp tại trường Trần Lục ở Sàigòn. Tôi cảm thấy như đang được trở về với lớp học của những ngày tháng học Ðệ Ngũ, Ðệ Tứ vậy. Tôi nghĩ có lẽ đây là thời điểm mà tôi đã hấp thụ được rất nhiều nền giáo dục của miền Nam nước Việt trong cuối thập niên 50 như để sửa soạn cho tôi trở thành một nhà giáo tại hải ngoại trong những năm về sau.

Hai anh em chúng tôi cùng học trường Trần Lục cho đỡ phải đạp xe đi quá xa. Anh P. học trên tôi một lớp. Chúng tôi thường hay nói chuyện với nhau về các thầy cô nên tôi biết được khá nhiều các thầy cô mặc dù là tôi không là học trò của các vị này. Ở tuổi tôi bây giờ, khi tôi đã về hưu sau bao nhiều năm trong ngành giáo dục tại Canada, tôi thấy rõ là những năm đầu đời của tôi tại trung học ở Saigon đã rèn luyện và để lại nhiều ấn tượng khó quên trong tôi, vừa đẹp mà lại vừa sâu đậm trong đời. Tôi đã có những người bạn cùng lớp, đồng niên khóa mà bây giờ, tuy chúng tôi đã trên 60 tuổi và trở thành ông bà, cha mẹ mà chúng tôi vẫn "mày mày, tao tao" mỗi khi chúng tôi nói chuyện với nhau. Chúng tôi thường nhắc đến tên của các thầy, cô với sự quý trọng và thân thương, một điều hiếm thấy trong môi trường sinh hoạt của nhiều học sinh, sinh viên Bắc Mỹ! Có nhiều khi chúng tôi đã bị thầy cô la mắng vì cái tính nghịch ngợm, quấy phá nhưng tuyệt nhiên, chúng tôi không hề oán trách các thầy cô. Ðiều này làm tôi trân quý nền nếp giáo dục của miền Nam nước Việt ngày xưa vô cùng sau khi tôi đã trở thành một giáo sư thực

thụ tại Canada: có điều người Việt mình có mà người Tây Phương lại không có!

Tôi nhớ nhất những giờ học Việt văn năm Ðệ Ngũ với giáo sư Doãn Quốc Sỹ. Thầy Sỹ dáng người cao ráo, mắt sáng như sao, miệng luôn luôn tươi cười với học trò. Giáo Sư đã đọc những vần thơ tự do cho chúng tôi nghe, chẳng hạn như của Phùng Quán trong vụ Trăm Hoa Ðua Nở:

…"Dù ai ngon ngọt nuông chiều,
Tôi cũng không đổi yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết,
Tôi cũng không nói ghét thành yêu!" …

Tôi ngồi im lặng mà lắng tai nghe, mặc cho lũ bạn trong "xóm nhà lá" quấy phá. Cũng chính trong thời gian này, giáo sư Sỹ đang say mê với ngành viết văn của thầy và chúng tôi đã được nghe thầy kể cho nghe những truyện đã viết của thầy. Tôi chăm chú và thích thú ngồi lắng nghe nhưng vì đã hơn nửa thế kỷ rồi nên tôi không còn nhớ được các chi tiết nữa.

Tôi bẵng quên đi các âm điệu của các thể thơ tự do cho đến khi tôi học Triết với giáo sư Trần Bích Lan năm Ðệ Nhất tại Chu Văn An. Trong những giờ học Triết, nhà thơ Nguyên Sa đã đọc cho học sinh chúng tôi nghe nhiều bài thơ tình mà tôi nhớ nhất vần thơ

"Hôm nay Nga buồn như con chó đói …"

Tôi lại ngẩn người ra mà ngồi nghe những dòng thơ tự do trong "khu nhà lá" giữa những tiếng cười đùa, nghịch phá của bạn bè. Tôi rất thích nghe thơ văn nhưng hồi đó, tôi đã quyết tâm không đi vào ngành văn chương mà tôi sẽ đi vào ngành Y Khoa hay Kỹ Sư.

"Dòng Ðời Ðịnh Mệnh" đã đưa đẩy tôi vào ngành Kỹ Sư Công Chánh tại Úc Ðại Lợi. Tôi phải học hùng hục, học chối chết để "sống còn" (survive) với những khó khăn của các sinh viên du học: Anh văn, văn hóa mới, nền giáo dục và cách thi cử mới, nỗi

nhớ nhà và đang tuổi mới lớn mà phải sống một thân, một mình… Chúng tôi đã bắt buộc phải hội nhập với thế giới tây phương và trong nhiều năm vì không dùng tiếng Việt thường xuyên nên tôi đã quên ít nhiều những ngôn từ tiếngViệt.

Cũng vì cái nỗi nhớ nhà mà anh chị em sinh viên chúng tôi tại Sydney đã "cả gan" cho ra một tờ báo Xuân. Nhân sự lèo tèo (chừng khoảng 10 người) và chúng tôi nhớ đến câu "giặc đến nhà, đàn bà cũng phải đánh" nên chúng tôi đã "tổng động viên" tất cả nhân lực để chúng tôi thực hiện cuốn đặc san mùa Xuân này. Tôi được giao trách nhiệm viết sớ Táo Quân, đóng vai ông Táo và làm thơ.

Làm thơ?! - Thú thực với Quý Vị là chưa bao giờ tôi thấy lo lắng và dại dột như lúc đó - Trong đầu óc tôi văng vẳng "tiếng nói của phe đối lập: biết cái khỉ khô gì mà thơ với văn!" Nhiều đêm tôi thức thật khuya để chờ Nàng Thơ tới … "với đau thương!".

Chờ mãi chẳng thấy nàng thơ tới mà chỉ thấy đau đầu và sót ruột! Tôi bèn phịa ra mấy câu vè Táo Quân và chép đại xuống trong lúc "chờ Nàng Thơ tới cứu đời dại dột của tôi!" Cũng may là nhờ cái sườn bài vè Táo Quân mà tôi đã ngồi xuống sửa đi, sửa lại cho có vần, có điệu và hợp lý, hợp tình. Thế rồi một đêm, Nàng Thơ Tự Do đã đến với tôi trong một giấc mơ và tôi thấy rõ trong đầu một bài thơ … tình! Tôi tỉnh dậy, chép ngay ra trên giấy vì sợ để sáng mai tôi sẽ quên khuấy đi mất. Thế là thoát cái nạn dại dột và đánh dấu "bước đường thơ văn của tôi"!

Tôi không ngờ rằng những lúc tôi ngồi nghe giáo sư Doãn Quốc Sỹ và giáo sư Trần Bích Lan đọc thơ Tự Do trong lớp hồi Ðệ Ngũ và Ðệ Nhất, các "memory cells" (tế bào chứa đựng) của tôi đã âm thầm chất chứa (store) những âm điệu của thể thơ Tự Do. Theo thời gian, các "memory cells" này đã trở thành một "lớp thủy tra thạch" bị dòng nước cuộc đời của tôi nó lấp phủ lớp này trên lớp kia để rồi bỗng chốc những gì đã được tích lũy trong Tâm Thức đã trở về lại với chính tôi .

Tôi vui mừng vì tôi đã kiếm lại được những gì mà tôi tưởng là tôi đã đánh mất: tôi đã thấy hăng say và vui thú khi đọc và nghe

thơ văn Việt Nam để cân bằng hóa đời sống máy móc Tây Phương mà tôi đã vô hình chung lọt vào vòng quỹ đạo. Tuy rằng tôi đã quên tiếng Việt ít nhiều, lâu lâu Nàng Thơ "đến thăm tôi một chiều đông" và tôi ghi vội xuống để rồi sau đó, tôi ngồi gọt và rũa cho đúng với tiếng Việt mẹ đẻ của tôi.

Tôi bận rộn với đời di dậy và đời sống gia đình. Sau biến cố 75, theo dõi báo chí, tôi được biết giáo sư Doãn Quốc Sỹ  bị "nhà nước CSVN" bắt giam. Tôi chỉ biết thở dài và liên tưởng đến vụ Trăm Hoa Ðua Nở mà Giáo Sư đã hằng nói tới trong các giờ Việt văn mà giờ đây Giáo Sư đang "đóng một vai chính" trong "vở tuồng đang diễn lại" này! Tôi những tưởng chẳng bao giờ tôi gặp lại được người thầy khả kính này thì mùa Hè năm 1995, tôi được cộng đồng Việt Nam vùng Toronto báo tin cho biết nhà văn Doãn Quốc Sỹ sẽ tới Toronto nói chuyện và tôi đã được Ban Tổ Chức mời lên đọc thơ. Tôi cảm thấy thật vui mừng, giống hệt như khi tôi gặp lại gia đình tôi sau biến cố 75 vậy. Tôi đã đọc bài thơ "Tôi đã gặp" (*) và bài này là một sản phẩm của âm điệu thơ Tự Do mà giáo sư Doãn Quốc Sỹ đã gieo vào trong đầu óc của tôi hồi Trung Học. Ðặc biệt là Nàng Thơ Tự Do đã đến "thăm" tôi trong lúc tôi đang coi thi môn "Công Chánh Ðại Cương" khi trời đang bão tuyết vào tháng 12 tại Canada!


ĐÀM TRUNG PHÁN
Giáo sư Thực thụ  Canada
Hiện tại đã nghỉ hưu tại  CANADA


(*) TÔI ĐÃ GẶP

Những mái tóc bạch kim, đen, vàng và đỏ
Đang đắm chìm trong không khí trường thi.
Tôi ngồi đây trong im lặng suy nghĩ
Thả hồn về quãng đời xa lắc ngày xưa.

Nơi đây miền đất lạnh với các dân tứ xứ
Tôi người Việt da vàng, quê hương tôi hùng cứ ở nơi nào?
Tuổi niên thiếu, tôi thấy điêu tàn khói lửa,
Làng quê tôi đầy bom đạn và bắn giết nhau!

Trong cái nhiệm mầu
Tôi khôn lớn nơi trời tây phương xa lạ,
Không gia đình, cha mẹ và người Việt thân yêu.
Có những buổi chiều
Khao khát tình ruột thịt thương yêu
Tôi lang thang dọc theo bờ biển
Lái xe vào đại lục Úc Châu.
Đâu đâu tôi cũng thấy một mầu
Sầu biệt xứ nơi cô liêu hoang dã.
Những chiều tà trong công trường thủy điện
Nhìn nước trôi, tôi chạnh nhớ quê hương.
Tôi đã ra trường với mảnh bằng đại học
Quê hương tôi đi vào cơn gió lốc,
Biết làm gì để giúp lương dân?

Cộng sản vào Nam mang theo nhiều đau thương tang tóc,
Hàng vạn người dùng biển rộng làm bãi tha ma!
Tôi đã gặp nhiều gia đình tan nát,
Biết nói gì để xoa dịu vết đau thương?

Tôi đã gặp những người trong lứa tuổi yêu đương
Nơi các học đường
Và trong bảng vàng
Tôi đã đọc thấy những tên Việt Nam quen thuộc
Nguyễn, Lê, Trần, Hoàng, Vũ ... rất êm tai.

Buổi chiều nay tuyết phủ ngập sân trường
Sinh viên lớp tôi đến từ các Đại Dương
Nhìn họ đang đắm chìm trong đề thi, sách vở
Tôi cầu mong quê hương tôi có ngày rạng rỡ
Cho tôi trở về với mái trường bên lớp trẻ Việt Nam.

 Nguyễn Đàm Duy Trung
 Mùa Tuyết Rơi tại Canada
Tháng 12, 1991

 


Không Tâm Trong Thiền Học
                                                      
- Doãn Quốc Sỹ -

Xin thưa ngay: dùng ngôn ngữ hữu hạn của tha nhân để nói về Thiền thật chẳng khác nào muốn vồ bướm bằng cành tre, muốn đựng mây hồng trong hộp sắt. Do đó xin quý vị thông cảm trước mà thứ lỗi cho những sai sót lời bất cập ý! Ôn lại thuở xa xưa, tôi chẳng nhớ mình đã để ý đến Thiền từ bao giờ, chỉ biết chắc rằng những ý tưởng nhuốm màu Thiền đã nhật tích nguyệt lũy thấm dần vào tôi như những giọt nước rơi liên tục làm lõm phiến đá. Trên các sách báo, gặp bất kỳ đoạn nào bài nào nói về Thiền tôi cũng đọc. Rồi cái gì hợp với mình thì nhớ -- nhiều khi chỉ nhớ mamg máng -- còn cái gì rơi vào quên lãng ắt là những cái vô bổ với tạng mình! Tôi vẫn nghĩ một cách chủ quan rằng thái độ học Thiền như vậy mới thật là ... Thiền! (Nghĩa là hồn nhiên, vô tư, thanh thản!)

Nhớ lại mùa hạ 1967 tôi đương theo học tại FSU (Florida State University) -- tại ngay Tallahassee, thủ phủ Tiểu Bang -- và đã được một người bạn Mỹ yêu đạo Phật tặng cho cuốn sách Thiền xinh xinh mang tên Zen Buddhism xuất bản tại New York năm 1959. Lần đó tôi được đọc những giai thoại dí dỏm về Thiền giữa màu sắc bừng sáng của những loại hoa cúc, hoa hải đường, hoa đỗ quyên (azalea)... phảng phất mùi hương thanh thanh của hoa mộc lan (magnolia). Đôi khi vào dịp cuối tuần tôi ngồi đọc say sưa dưới bóng rừng ngợp màu rêu, loại rêu ngan ngát tím bao phủ lấy các cành cây và rũ xuống như tơ liễu. (Quý vị nào đã từng ở hoặc có dịp qua thăm Florida, hẳn còn nhớ phong cảnh với những màu sắc đặc biệt này của miền Nam nước Mỹ). Những dụ ngôn, những giai thoại về Thiền được đọc vào dịp đó, trong khung cảnh đó, đã giúp tôi suy tư và tự khám phá thấy cái bất lực thê thảm của lý trí đơn thuần.

Dòng đời như dòng sông không một sát-na nào ngừng trôi chảy. Nô lệ cho lý trí đơn thuần, ham cắt xén thì chỉ thấy được cái ngưng đọng, cái chết! Nhưng khái niệm con đẻ của lý trí chật hẹp và khô cứng kia làm sao chộp được dòng thực tại không ngừng, triền miên trong thế tương sinh tương lập -- đối tượng của Thiền?!

Mỗi chúng ta là một que diêm sáng! Không ai sáng hộ ta -- ta phải tự sáng lấy, tự chiêm nghiệm lấy Thiền! Que diêm khi tắt đi, chút khói xanh để lại... Rồi chính chút khói xanh đó cũng tan loãng nốt và biến hẳn -- như vết chân cát xóa! Tuy nhiên cũng nên chộp lấy chút ít khói xanh còn trong giây phút phiêu lãng đó -- bởi dù cho khái niệm không chuyên chở được thực tại, nhưng người ta vẫn có thể nương vào khái niệm để tìm đến thực tại. Vì vậy vào năm đó tôi mới quyết tâm viết tập sách mang đầu đề VÀO THIỀN và cho xuất bản lần đầu vào năm 1970 -- thấm thoát cách đây đã ngót 30 năm -- trên một phần tư thế kỷ rồi.

VÀO THIỀN cuốn sách mỏng xinh có 60 trang, thuở đó khi vừa được ấn hành đã được độc giả đón nhận nồng nhiệt -- và tôi đã phải cho tái bản lại khoảng năm, sáu lần trong vòng chưa đầy hai năm. Tôi xin thuật lại một vài giai thoại trong tập VÀO THIỀN đó.

1. Một Cách Đạt Ý Vô Ngôn Hảo Diệu

Một thiền viện mới được thành lập, thiền sư Hyakujo cần tuyển chọn một người để trông nom thiền viện đó. Tiên sinh cho gọi đám môn đệ tới, chỉ một chiếc bình chứa đầy nước và nói. "Trong các con, liệu có ai giải thích được cái này là cái gì mà không cần gọi đến đích danh nó?"
Thiền sinh trưởng phòng được phép phát biểu trước.
Anh chàng nói:
-"Nó đứng thẳng, nó rỗng lòng nhưng nó chẳng phải là chiếc giày bằng gỗ!"
Một thiền sinh khác dùng lời gợi ý.
- "Nó chẳng phải là cái ao, bởi người ta khênh nó được!"
Thiền sinh em út phụ trách việc bếp nước, lẳng lặng đứng lên lấy chân đạp chiếc bình vỡ lăn chiêng, nước tung tóe ra sàn. Một cách đạt ý vô ngôn hảo diệu! Ý thức dính liền với thực tại khi bình vỡ lăn chiêng, khi nước chảy lênh láng! Sư phụ ưng ý! Thiền sinh được cử trông coi thiền viện!

2.Chân Không Diệu Hữu.

Nói đến Thiền là nói đến Không Tâm. Nhưng xin đừng quên phần đi song hành với Không tâm là diệu hữu. Bỏi vì nếu chỉ đơn thuần có không tâm thôi thì đó là ngoan không, cái không trống rỗng, không có gì.

Một thiền sinh trẻ tuổi kia, lần đầu tiên tới thăm một thiền sư. Vừa ngồi xuống anh chàng đã huênh hoang lấy le, cất giọng thao thao.
- "Làm gì có tâm, làm gì có trí, làm gì có thân xác! Làm gì có thiện, làm gì có ác! Thày chẳng có, trò cũng không, chẳng có cái cho đi, chẳng có cái lấy về, có cái gì trên đời này mà là thật đâu? Cái chính thật là Hư Vô!

Vị thiền sư ngậm ống điếu bình thản ngồi nghe, không thốt nửa lời. Chợt tiên sinh với lấy chiếc roi bất thần giáng xuống một cái thật mạnh lên người thiền sinh.

Thiền sinh hốt hoảng vùng dậy, không giấu được vẻ giận dỗi, nhưng còn lúng túng chưa biết nói sao.

Thiền sư điềm tĩnh cất lời:

- "Nếu quả thực chẳng có gì trên đời này là thực và tất cả là hư vô thì sự giận dữ của ngươi từ đâu đến? Hãy suy nghĩ thêm về điều đó!"

Thiền sư ắt hẳn đã muốn dạy thiền sinh đệ tử bài học về Chân Không Diệu Hữu -- đồng thời còn hàm ý nhắc lại tinh thần phá chấp của Thiền.

Từ xưa Không tâm vẫn là một trong nhiều đề tài cơ bản trong Thiền Học.

Để minh họa thế nào là Không tâm xin được nhắc lại ba giai thoại về Không tâm như sau.

Giai thoại Một:

Có hai thiền sinh, sau khi đã hoàn tất nhiệm vụ sư phụ giao phó, đương cùng đi sát cánh bên nhau trên đường về. Cả hai vui vẻ đàm thoại về một vài đề tài quen thuộc gần gũi với nếp sống hàng ngày.

Chợt cả hai ngừng nói chuyện! Phía trước mặt một thiếu nữ xinh đẹp bộ đồ mới tinh đương đứng khựng trên vỉa hè, nhìn thẳng xuống bên dưới mặt đường ngập nước. Rõ ràng nàng đang lúng túng không biết làm cách nào qua được bên kia đường để trở về nhà mà không bị vấy bẩn bùn nước.

Thiền sinh A lẳng lặng tới bế nàng trên hai cánh tay, bước xuống lội qua khoảng bùn nước, đặt nàng sang bên vỉa hè cao ráo để sau đó nàng thảnh thơi cất bước trên đường về. Suốt trên quãng đường còn lại trở lại thiền viện, thiền sinh B không tươi vui trò chuyện với người bạn như rồi nữa, trái lại khuôn mặt đăm chiêu cố nén điều bực bội. Không khí im lặng thật nặng nề!

Chỉ còn một quãng đường nhỏ nũa là về đến Thiền viện, thiền sinh B không thể nhịn nổi hơn được nữa bèn cất giọng vô cùng bất mãn thống trách thiền sinh A.

- "Tôi xin hỏi đạo hữu. Là một người tu hành mà đạo hữu đi bế một thiếu nữ đẹp trên tay - qua quãng đường lội, đặt nàng sang bên kia đường. Như vậy coi được không?"

Thiền sinh A vẫn giữ nguyên vẻ bình thản -- rất Thiền -- chỉ hơi mỉm cười đáp lại:

- "Đạo hữu ơi - tôi đã giúp nàng qua khoảng lầy lội rồi! Đặt nàng sang bên kia đường để nàng trở về rồi! Ai ngờ đạo hữu còn tiếp tục cõng nàng về đến tận đây!"


Quý vị vừa chứng kiến trường hợp một  Không tâm hàm ngụ thái độ hồn nhiên, bình thản.

Giúp người xong, giữ lòng buông thả, thung dung!

Đúng với bài thơ Thiền tứ tuyệt
Nhạn quá từng không
Ánh trầm hàn thủy
Nhạn vô di trích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm

Tôi dịch sang thơ Việt như sau

Nhạn vỗ cánh cao bay miết mải
Hình nhạn chim dưới đáy nước kia
Nhạn nào lưu dấu làm chi
Nước trôi cũng mặc kẻ đi người về

Giai thoại hai:

Giai thoại này minh họa về Không tâm trong một trường hợp đặc biệt như sau:

Hôm đó vị Thiền sư có một người bạn đến chơi. Người bạn nói là đến để hỏi ý kiến về một chuyện cần giải quyết.

Nhưng từ lúc được mời ngồi xuống trước bàn trà, người bạn nói chi hồ điệp về câu chuyện xảy tới đã làm mình thắc mắc Trong khi nghe người bạn tiếp tục thao thao bất tuyệt như vậy, thiền sư lẳng lặng đặt một tách trà trước mặt bạn và bắt đầu rót trà... Tách trà đầy tràn... đầy tràn... Thiền sư vẫn tiếp tục nghiêng bình rót... rót hoài...

Người bạn phải tạm ngưng câu chuyện để nhắc thiền sư:

- "Kìa, đạo hữu không thấy tách trà đã đầy tràn rồi sao?"


Thiền sư vẫn nghiêng bình tiếp tục rót, mỉm cười đáp:

- "Thì nào có khác gì đạo hữu tới hỏi ý kiến tôi - rồi cứ tiếp tục nói hoài về những ý kiến của riêng đạo hữu."

Vậy đó! Với trường hợp này thiền sư khuyên chúng ta hãy giữ cho được không tâm, tránh đầy ắp tư kiến! Có vậy mình mới có cơ hội lãnh hội trọn vẹn những gì người đối thoại muốn truyền đạt cho mình! Hãy như chiếc chén rỗng - sẵn sàng tiếp nhận nước trà thơm ngát rót vào!

Giai Thoại Ba

Giai thoại ba giải thích sâu xa hơn nữa, tinh tế hơn nữa về không tâm. Một chàng trai trẻ tự cảm thấy mình có đạo tâm, tới bái yết một thiền sư xin làm môn đệ của ngài.

Thiền sư nói với chàng trai:

- "Con hãy về bỏ hết, không còn giữ một chút gì trong lòng, rồi hãy đến đây xin thọ giáo ta!"

Sau đó chàng trai đã nhiều lần tới trình diện, thưa với thiền sư là mình đã thực hiện không tâm, đã rũ bỏ hết rồi, không còn giữ một chút gì trong lòng. Nhưng chàng trai vẫn bị thiền sư từ chối và nhắc lại:

- "Con về rũ bỏ cho thật hết đi, rồi hãy tới đây!"

Sau cùng chàng trai đành thống thiết cung kính trình lại với thiền sư:

- "Thưa thày, con thực tình đã trút bỏ hết rồi mà không hiểu sao Thày vẫn chưa cho con được nhập môn?!"

Thiền sư giữ nguyên thái độ bình thản đáp:


- "Con phải rũ bỏ cả cái biết mình đã rũ bỏ mới thực là rũ bỏ hết!"

Thật đúng với ý nghĩa câu: Bồ tát không biết mình là bồ tát mới thật là bồ tát!

Bình thản,hồn nhiên,vô tư của Không tâm trong Thiền học là như vậy đó! Nào khác gì chuyện Kosen tiên sinh chuẩn bị viết mấy chữ đại tự để sẽ cho khắc trước cổng lớn ngôi đền Oaku tại Kyoto. Tiên sinh phải viết những chữ đó lên giấy, rồi từ giấy khắc vào gỗ. Một đệ tử ngồi hầu, mài mực và chăm chăm muốn được theo rõi nghệ thuật bút thiếp của thày. Điều này làm thiền sư cảm thấy tâm trạng bất an làm sao ấy.

Lần đầu, tiên sinh vừa viết dứt, người đệ tử lắc đầu:
"Thưa thày chưa được!"

Tiên sinh sử dụng bút đại tự lần nữa. Người đệ tử nói:

"Thưa thày lần này còn tệ hơn lần trước!"

Tiên sinh viết lại lần nữa... Cứ như vậy tới lần thứ sáu mươi tư thì thực là bút cùn mực cạn!

Thấy mực gần hết, người đệ tử chạy vào nhà kiếm thêm. Còn lại một mình, không bị phân tâm bởi cái nhìn soi mói của kẻ ngồi bên, tiên sinh chấm bút vào nghiên, dùng chút mực ít ỏi còn lại thảnh thơi phóng bút lần cuối cùng.

Vừa lúc người đệ tử trở lại, ngắm hàng chữ còn tươi nét mực và reo lên:

"Thưa thày, thật là tuyệt bút!"

Nào có khác chi chuyện con rết đương nhịp nhàng bò lanh lẹ qua đây qua đó, bỗng gặp con cóc tinh nghịch hỏi đùa:

"Này chị rết, chị bò lê như vậy thì chân nào trước, chân nào sau nhỉ?"

Thế là nàng rết ta bị phân tâm trở thành vụng dại, nằm bò lê bò càng dưới rãnh, cố ý nghiên cứu phân tích tìm hiểu xem chân nào chuyển động trước, chân nào chuyển động sau... Tội nghiệp!

Vâng thưa quý vị -- bình thản, hồn nhiên, vô tư trong Thiền học là như vậy đó!

Nếu phải dịch Không tâm sang Anh Văn, tôi sẽ chọn danh từ Equanimity chỉ sự điềm tĩnh, thanh thản, hồn nhiên trong sáng!

Tới đây chúng ta cần minh xác lại một điểm cuối cùng nữa để tránh ngộ nhận:

Không tâm không hề là ngoan không!

Ngoan không là cái trống rỗng, không có gì! Trái lại Không tâm trong Thiền học là Không tâm diệu hữu! Không tâm để có được thái độ phá chấp, thức tỉnh, hồn nhiên -- do đó mới thoát được mọi ngã chấp, ngã mạn -- mà bình thản tiếp nhận sáng suốt tất cả những gì xảy đến, ngõ hầu có thể bình tĩnh giải quyết, bình tĩnh đối phó hữu hiệu, hợp tình hợp lý trong hoàn cảnh đó.

DOÃN QUỐC SỸ

*Bài nói chuyện tại:
Chùa Việt Nam (Houston)
Hội Cựu Giáo Chức Việt Nam tại Houston và vùng phụ cận.
Gia đình Phật tử chùa Linh Sơn (Austin)
Cập nhật: Ngày 13 tháng 3 năm 2005

Núi sông thêm một chỗ ngồi

(kính gởi nhà văn  Doãn Quốc Sỹ cho ngày sinh nhật 84)
 
- luân hoán -

bỗng nhiên mình lại soi mình
soi cho rõ nét bóng hình nhân sinh
khởi đi từ những hữu tình
những hạnh phúc của song sinh một thời

đầu xuân hà nội mở đời
một trang sử lật gót dời phương nam
đất lành bén giọt mực vàng…

rừng văn chẳng sợ lửa tràn buồn vui
thả chân theo gánh xiếc đời
gìn vàng giữ ngọc thắp lời nhân tâm
dòng sông định mệnh phù trầm
rong bèo mấy kiếp lỗi lầm lênh đênh
bao nhiêu tâm sự bồng bềnh
hồ thùy dương chứa những quên, nhớ đời ?

quả nhiên, người vẫn là người
trái cây đau khổ nên người khổ đau
ba sinh hương lửa bạc màu
tóc ai nghiềng nhánh tay mầu xuống văn
tình yêu thánh hóa  vĩnh hằng
ngã ba sông ngát ánh trăng nhân tình
ngậm từng trái đắng tràng sinh
hiểu dần thế giới u minh quanh đời

đời người đâu khác cuộc chơi
u hoài chi mệt cái tôi nhẹ hều

dòng văn thanh thản trong veo
tràn vào ngõ ngách suối đèo nhân sinh

cúi đầu, một thoáng hiển linh
sầu mây, một khắc nhớ mình là ai
đi, tìm cánh tay nối dài
dấu chân cát xóa chẳng hoài lòng trông

cỏ đùm lả ngọn long đong
đốt biên giới gặp những sông núi nào ?
mai sau đời ngã tay chào
cái người vái tứ phương, vào thiền chơi

núi sông thêm một chỗ ngồi.

luân hoán
Tạ Ơn Thầy Cũ
(Nhân Mùa Lễ Tạ Ơn 2000)

- Đàm Trung Pháp -

            Suốt thời gian mài đũng quần trên ghế nhà trường tại quê nhà, trong những năm đầu óc còn trong trắng dễ uốn nắn, tôi có diễm phúc được  nhiều lương sư dạy dỗ. Nhờ công ơn hun đúc của những vị thầy đó mà tôi trở thành một người hữu dụng ngày nay.  Trong số những lương sư đó của tôi, thầy Doãn Quốc Sỹ đứng hàng đầu.

            Tôi được học Việt văn với thầy lớp đệ ngũ, trong niên học 1955-1956 tại Trung Học Trần Lục ở Saigon. Lúc ấy thầy mới ngoài 30 tuổi, đang chuẩn bị xuất bản tác phẩm đầu tay là tập truyện cổ tích SỢ LỬA, và dĩ nhiên chưa nổi danh là một nhà văn. Những giờ học với thầy thú vị và bổ ích vô cùng, đến nỗi những "quái kiệt" quấy phá nhất trong lớp cũng phải ngồi yên chăm chú nghe thầy giảng văn chương và ngôn ngữ nước nhà. Nhiều người trong chúng tôi từ đó mê tiếng Việt chính vì những lời thầy nói thiết tha về vẻ đẹp muôn màu của nó, những điều mà sau này tôi được đọc lại trong cuốn NGƯỜI VIỆT ĐÁNG YÊU của thầy. Chẳng hạn khi đề cập đến cái đẹp của những câu ca dao chứa đựng những hình ảnh đi thẳng vào lòng dân Việt như
 
Đêm đêm tưởng giải ngân hà
Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm tròn
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ


thì thầy xúc động "muốn gục xuống trước bàn thờ tổ tiên để cho chính mình tan thành nước mắt, dòng suối nước mắt nhớ ơn tiền nhân đã từ thế hệ này qua thế hệ khác chau chuốt cho tiếng Việt sớm trở nên cực kỳ diễm lệ."  Ngay từ dạo đó, bọn học trò 14, 15 tuổi chúng tôi đã thầm nghĩ rằng ông thầy tuyệt vời cả tài lẫn đức

này sẽ có ngày trở thành một nhà văn lẫy lừng tên tuổi và một hiền nhân của dân tộc.

Với trọn vẹn lòng kính mến dành cho vị thầy cũ, tôi đã hân hoan tham dự "Đêm Doãn Quốc Sỹ và Dòng Sông Định Mệnh" hôm thứ bẩy 18-11-2000 vừa qua tại Arts Center của thành phố Irving, tiểu bang Texas, do Hội Văn Hóa Khoa Học Việt Nam tổ chức. Các bạn trong Hội Văn Hóa Khoa Học Việt Nam đã làm một điều đẹp đẽ và có ý nghĩa vô cùng, và tôi mang ơn các bạn. Các bạn đã thực hiện được một chương trình văn hóa qua âm nhạc và văn chương đặc sắc  hiếm thấy từ trước  đến nay, trang nhã ngoài hình thức và long lanh trí tuệ trong nội dung, để vinh danh một nhà văn lớn, một hiền nhân đích thực của đất nước chúng ta.

Đàm Trung Pháp
Giáo Sư Thực Thụ
Phân Khoa Giáo Dục
Texas Woman's University

Em Ngoài Đó
 
Cảm đề bộ trường thiên tiểu thuyết
"Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến" của nhà văn Doãn Quốc Sỹ
 
- Lê Phương Nguyên -

Em ngoài đó một năm trời vĩnh biệt
Nước hồ Gươm có lạnh bấy chiều đông?
Vẫn âm thầm một đời anh tha thiết
Để cánh chim này lạc núi xa sông

Em ngoài đó mưa phùn ngày xuân cũ
Thấp thoáng bên trời anh đếm những vì sao
Trong ký ức điên cuồng như thác lũ
Dáng em gầy. Ôi mộng cũng xanh xao

Em ngoài đó mùa hè hoa phượng đỏ
Kỷ niệm nào còn lại gợi trời xanh
Tìm đâu thấy, cầm tay em bé nhỏ
Trời mênh mông em cúi mặt cam đành

Em ngoài đó mùa thu trôi Hà Nội
Thương nhớ những chiều lạnh gió heo may
Chiều tà úa đùa trên làn tóc rối
Thuở cuộc đời tay ấm giữa bàn tay

Em ngoài đó những nẻo đường quen thuộc
Có chần chờ chân bước mỗi chiều buông?
Còn đâu đây bao lần mình hẹn ước
Thoáng môi em hiu hắt nụ cười buồn

Em ngoài đó đếm tuổi buồn con gái
Đời mấy phong trần trên nét mặt người xưa
Anh nguyện cầu nhưng vẫn còn ái ngại
Thiêng liêng ơi! Tôi ước mấy cho vừa

Em ngoài đó tháng ngày hong mắt biếc
Những chiều vàng và những sáng mù sương
Tìm một tương lai, chợt thấy mình thua thiệt
Dòng sông xa, em lạc mất thiên đường

Em ngoài đó cánh cửa đời đã khép
Nước sông Hồng đỏ máu cứ trôi xuôi
Trong mơ ước của những chiều nắng đẹp
Gửi mây trôi niềm tiếc nhớ khôn nguôi

Lê Phương Nguyên
BIỆT KÍCH CẦM BÚT

- Hoàng Hải Thuỷ -

Rừng Phong Tối chủ nhật July 2, 2006.

Thân gửi Đào Vũ Anh Hùng,

Anh Doãn Quốc Sỹ, Dương Hùng Cường, Khuất Duy Trác, Trần Ngọc Tự và tôi bị tóm cùng một đêm, lục tục dzô Số 4 Phan Đăng Lưu lúc gần sáng ngày 2 Tháng Năm, 1984. Tóm tụi tôi rồi, bọn Công An VC cho như chúng thành công một cú lớn, chúng viết lia chia những phóng sự toàn bịa về bọn tôi. Hai tên Minh Kiên và Nam Thi, Đai Tá Tổng Biên Tập và Đại tá Phó Tổng Biên Tập Tuần báo Công An Thành Hồ viết cái gọi là Truyện nặng ký nhất về bọn này, chúng gọi bọn này là "Những Tên Biệt Kích Cầm Bút". Truyện của chúng mang tên này. . Tù 2 năm, năm 1986 trước ngày chúng họp Đại Hội Đảng Kỳ 6, chúng đưa bọn BKCB ra tòa, chúng kết tội Gián Điệp. Theo luật của chúng cứ "Gián Điệp" là tên Đầu Xỏ bị tử hình. Khi ấy chúng muốn xử tử DQS, làm vụ án thật nặng cho người khác sợ.

Nhưng năm 1986 chúng không xử được bọn BKCB, đã đưa ra tòa, phút cuối cùng Tòa hoãn xử, chúng lại đưa bọn BKCB trở lại Nhà Tù Chí Hòa. Gần 2 năm sau chúng mới lại đưa bọn BKCB ra tòa xử, lần này chúng bỏ tội Gián Điệp, thay bằng tội "tuyên truyền phản cách mạng": Ra tòa Doãn Quốc Sỹ bị xử tù 9 năm, rồi giảm án xuống tù 8 năm.

Khi bọn BKCB chưa ra tòa, bọn Công An đã cho xuất bản quyển Những Tên Biệt Kích Cầm Bút  (NTBKCB). Tái bản năm 1990. Tôi mang được 1 quyển sang đây, dùng quyển ấy để viết quyển Những Tên Biệt Kích Cầm Bút của tôi.

Nhà Làng Văn Canada xuất bản năm 1995. Đoạn trích ở đây là đoạn trích trong NTBKCB của Công An VC. Chúng viết về DQS, tôi trích và đập lại chúng nó.

Nghĩ rằng trong tuyển tập "kỷ niệm vềnhà văn DQS" có bài bọn Đại tá CA Thành Hồ viết về DQS là chuyện lạ, hiếm có, tôi gửi các bạn bài này, các bạn đọc xem sao, thấy được thì dùng, viết giới thiệu thêm nếu thấy cần.

Nhấn mạnh: ra toà lần 1 khoảng tháng 3, tháng 4, 1986 – Đại Hội Đảng chúng nó họp vào Tháng 6 năm ấy – chúng kết tội DQSỹ là "gián điệp" và định tử hình DQSỹ.                                                
 - Hoàng Hải Thủy -

oOo

DOÃN QUỐC SỸ: BIỆT KÍCH CẦM BÚT
           
Trích Biệt Kích Cầm Bút. Hồi ký của Hoàng Hải Thủy. Làng Văn ấn hành, Canada năm 1995.     
            
Trong cái gọi là Bộ Luật Hình Sự CHXHCNVN có điều quy định tội danh và án phạt bọn "gián điệp" như sau.  Tôi đọc điều luật này trong Ô Ten 10 Sao Chí Hòa năm 1986 và tôi thuộc nằm lòng từ ngày đó:
Bị coi là gián điệp những kẻ cung cấp tin tức, tài liệu an ninh, quốc phòng cho những  Cơ Quan Tình Báo Nước Ngoài.
          
Cũng bị coi là gián điệp những người tuy không cung cấp tin tức cho Cơ Quan Tình Báo Nước Ngoài nhưng bằng cách nào đó vô tình tiết lộ những tin tức an ninh, quốc phòng để những Cơ Quan Tình Báo Nước Ngoài có thể khai thác.
Án phạt từ 12 năm tù đến tử hình.
- Những tên gián điệp đầu sỏ bị tử hình.
- Những tên tay sai nguy hiểm cũng bị tử hình.
Theo điều luật về xử trị gián điệp trên đây thì nếu năm 1986 Công An Thành Hồ đưa  bọn "gián điệp 8 tên" chúng tôi ra tòa xử thì chuyện xẩy ra đã có thể là:
- Gián điệp đầu sỏ Doãn Quốc Sỹ tử hình.
- Tay sai nguy hiểm Hoàng Hải Thủy: chung thân hoặc có thể cho đi cùng chuyến xe bít bùng với Đầu Sỏ Doãn Quốc Sỹ lên bãi bắn Thủ Đức trong buổi sáng mù sương lạnh. Hai gián điệp cùng đi một chuyến xe không có bông cho đỡ tốn xăng dầu và công sức của  anh em công an chuyên giết nhân dân.
Năm 1986, Công An Thành Hồ đã dàn dựng sân khấu, cho quảng cáo tùm lum trên hai tờ Tuổi Trẻ - Công An :"...Ngày...tháng...năm...bọn gián điệp sẽ phải ra trước Tòa Án Nhân Dân trả lời về những tội trạng của chúng..." Nhưng rồi họ tẽn tò, không kèn, không trống, không lời xin khán giả cảm phiền vì phiên tòa bị bãi bỏ, họ im luôn. Phiên tòa năm 1986 hoãn dài ngày

Trích "Những tên Biệt kích cầm bút" Truyện của Minh Kiên – Nam Chi, Đại Tá Tổng Biên Tập và Đại tá Phó Tổng Biên Tập Tuần Bao Công An thành phố Hồ chí Minh.

Chỉ vài ngày sau khi Đoàn Quốc nhận được giấy xuất cảnh thì hầu như những người quen biết cũ trong làng văn, làng báo trước đây cũng đều biết tin. Lâu nay, ít ai nhắc đến ông ta. Điều đó cũng dễ hiểu thôi  vì từ trước ông ta vẫn chuộng lối sống "ẩn dật" khá khác biệt với các đồng nghiệp.

Ngoài nghề viết văn, ông ta còn là nhà giáo, ảnh hưởng sâu đậm Nho giáo và của văn học Pháp, về sau này tốt nghiệp môn giáo dục học ở Đại học California. Ông ta còn nghiên cứu về Thiền và là bạn thân với các nhà sư tiếng tăm.

Tất cả những khuynh hướng văn học, triết học có vẻ trái khoáy với nhau tập hợp lại tạo thành tính cách riêng, mặt này bổ sung mặt kia, khiến cho các đồng nghiệp và độc giả của nhà văn Đoàn Quốc thấy ở ông một tổng hợp nhiều màu sắc và có sức thuyết phục!  Cái vẻ nho nhã bên ngoài khiến cho một số người coi đó là "tính truyền thống" của văn hóa Việt Nam. Điều khác là "nhà nho" Đoàn Quốc không có khăn đống, áo dài mà khoác bộ cánh của văn chương lãng mạn Pháp và những đường nét kỷ hà của văn minh Mỹ ngang ngay sổ thẳng, chính xác và thực dụng. Vì vậy, trong văn chương và cả trong cuộc sống ai theo thị hiếu nào đều cũng có thể tìm thấy cái nhìn ưa thích nơi Đoàn Quốc. Vì chính màn khói ảo giác ấy đã đưa Đoàn Quốc lên vị trí đàn anh trong thứ trật tự "chiếu trên, chiếu dưới" trong làng văn Sàigòn trước đây.

Thế mà nay mai ông ta sắp đi cùng đám con lai Mỹ, cùng với các cụ già, cháu bé...được Nhà Nước cho phép xuất cảnh để "đoàn tụ gia đình". Sự thật là vậy. Theo đúng chính sách, ông ta ra đi theo diện người ngoài tuổi lao động, già yếu, được con cái bảo lãnh, chứ không hề với tư cách một nhà văn. Ấy thế mà lại có tin đồn, ông ta được "một tổ chức nhân quyền quốc tế" nào đó can thiệp để ra đi với tư cách là một nhà văn "không thích nghi với chế độ cộng sản"! Cái tin vịt ấy kể ra cũng có xuất xứ của nó. Một vài tờ báo lá cải của nhóm lưu vong phản động bắt đầu làm rùm beng, coi việc ra đi của Đoàn Quốc như là thành tích "đấu tranh" của chúng buộc "nhà cầm quyền cộng sản" phải nhượng bộ!

Thế đấy, nhưng nghe ai bàn tán đến việc này, Đoàn Quốc cũng không thanh minh, mặc ai hiểu thế nào cũng được. Được phép xuất ngoại, ông ta càng tính toán tương lai. Cũng chính trong thời gian đó, ông ta được bạn bè cũ ở nước ngoài báo cho biết số tác phẩm cũ của ông được tái bản ở Mỹ, lại có người hứa can thiệp để nhà xuất bản ấy trả tiền bản quyền cho ông ta. Hàng chục nghìn đô la đâu phải dễ kiếm với người đã ngoài sáu mươi như ông ta. Rồi đến lượt "Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại" gửi thư chúc mừng ông ta sắp được "tự do", hứa hẹn sẽ đón tiếp ông ta như một hội viên danh dự.
- Té ra, người ta vẫn còn nhớ đến mình như ngày nào! - Đoàn Quốc tự nhủ - Thế mà lâu nay, chính ta lại quên lãng ta. Trong đêm tối mặt trời vẫn tồn tại!
Chính vì tự thấy mình vẫn "tồn tại" với tư cách một nhà văn mà Đoàn Quốc đã nhận lời và báo tin cho nhiều đồng nghiệp cũ đến nhà Kiều Trang, dự buổi họp mặt với các đồng nghiệp cũ. Vốn không thích ồn ào, ông ta lặng thinh khi cuộc họp chính thức hôm ấy bắt đầu, nhưng cũng từ đấy, trong đầu ông nẩy sinh ra bao dự tính khiến ông trằn trọc, nôn nao như đang thai nghén một tập truyện dài. Đúng ra Đoàn Quốc rạo rực với tập truyện "Dấu chân cát xóa" của ông ta viết từ năm 1972 đến 1974 và bản thảo đã được chữa xong ngày 16 tháng 5 năm 1975 - nửa tháng sau ngày thành phố được giải phóng. Tập bản thảo dấu trên trần nhà được lôi xuống. Ông ta chong đèn đọc mấy đêm liền, trân trọng như đọc tác phẩm của một văn hào!

Tháng ngày lùi xa tít tắp như cuối trời sa mạc. Tìm lại những dấu chân mình đã bị cát xóa. Bỗng thấy bầu trời "Springfield" - cánh đồng mùa xuân ấy - gần gũi trong xanh mà Chương - nhân vật trong truyện của ông ta - đã trở lại. Nơi ấy, những năm tháng sau khi giải ngũ, Chương

 đã sang du học và tốt nghiệp Ph.D. Nơi ấy Martha đã đến với Chương như một quà tặng của tự do. "Tôi sẽ dùng xe buýt đi dọc theo xa lộ qua các tiểu bang New Mexico, Arizona, Nevada và nhất định tôi sẽ đến Los Angeles qua Thung lũng Tử thần (Chương nhấn mạnh). Yes, Death valley, I said" con lừa nhỏ của chàng Tappan.

Chàng Tappan đi qua thung lũng Tử thần dưới ánh nắng chói lòa trên sa mạc cát bỏng. Những tia nắng đã thực sự biến thành những mũi kim xiên thấu da thịt. Nhớ lúc Tappan chịu cơn bão táp giết người về đêm, chết ngất trên lưng lừa. Thế mà Tappan cũng lên được đỉnh núi tuyết và sống bốn mùa êm ả trên đó. Thế rồi, giờ của định mệnh đã điểm. Tappan đã cứu được con lừa Janet qua khỏi cơn bão tuyết, đưa nó từ đỉnh núi băng giá xuống thung lũng mượt xanh. Con lừa được ăn cỏ và sống, còn chủ nó đã chết vì kiệt sức.

"Mình là con lừa Janet hay là chàng Tappan?" Đoàn Quốc băn khoăn tự hỏi. "Mình sẽ vượt qua thung lũng của sự chết - cái đất nước khốn khổ này. Mình đến được đó là đủ rồi. Rồi ra sao thì ra, miễn là thoát được cơn bão khốn kiếp này. Là con lừa Janet may mắn hay chàng Tappan xấu số cũng được." Martha! Martha. Bên kia bờ sông có tiếng vọng lại "Martha! Martha". Con sông tâm tưởng. Chương lúc đó đang ngồi ngửa mặt nhắm mắt lười biếng trên chuyến xe buýt liên tiểu bang - Con sông xuân tràn đầy chảy lênh láng, màu nước biêng biếc như tóc mềm (tóc Martha) gặp gió xõa trên bờ vai. Chương biến thành gió, luồn tay vào mái tóc đó, bàn tay vô hình mơn man êm dịu...Springfield - cánh đồng mùa xuân - thủ phủ của Illinois thật hữu tình và có tính cách tiền định.  Đến Springfield để trả món nợ tình...Thời gian, không gian giờ đây là của hai người. Chương nghiêng đầu sát tới nói thầm bên tai Martha:

The closer I get, the better you look.

Chàng có một cử chỉ "nhào đại", muốn hôn lên miệng Martha...
- A...a...a...a...
Chương tìm lại hương vị thơm đắng của cà phê trên môi Martha, một bàn tay Chương xoa lên bờ vai rồi vòm ngực tròn trịa của nàng
- Về nhà đã Chương, Martha van vỉ.
Chương lắc đầu giữ chặt lấy nàng, không đáp. Martha cảm thấy những ánh sao lóe sáng rụng lả tả...rụng lả tả trên khắp vùng da thịt...
...........................

Đoàn Quốc tiếp tục đọc hơn trên hai trăm trang bản thảo. Như trở về chốn cũ. Anh gặp lại người xưa. Ngỡ ngàng như quen thuộc, gần gũi mà xa xôi. "Dòng sông tâm tưởng. Martha, Martha!" Tiếng vọng từ bên kia dòng sông, hay từ bên kia đại dương, của quá khứ nhạt nhòa đứt đoạn.
Ngoài đường đã bắt đầu tiếng xe chạy. Tiếng xích lô máy nổ lẻ loi, vang động. Đoàn Quốc nghe cột sống lưng tê cứng, nhưng không thấy buồn ngủ. Châm bình trà mới, đốt một nén hương đuổi muỗi. Bẩy năm rồi đã ngủ triền miên để thức trọn đêm nay. Để thấy lại bầu trời. Cánh đồng mùa xuân và Martha, thung lũng tử thần và anh chàng Tappan tội nghiệp.

Gần sáng, Đoàn Quốc nẩy ý định viết tiếp "Dấu chân cát xóa". Chương trở về nước làm giáo sư kiêm nhà văn. Lúc giải phóng Sàigòn, hắn ta bị kẹt lại đi học tập cải tạo. Bẩy năm qua chẳng là tấn bi kịch của cuộc đời được tiếp nối đó sao? Mặt trời đã lặn, nhưng mặt trời không tắt hẳn. Nó sẽ mọc lại vào bình minh hôm sau. Tappan đã vượt qua Thung lũng Tử thần nóng bỏng, chết chóc để lên tận đỉnh non cao bốn mùa êm ả. Dẫu là đêm, nhưng mặt trời vẫn tồn tại..."Đường lên mặt trời" - Đoàn Quốc đã chọn để làm tựa đề cho chương tiếp của "Dấu chân cát xóa".
<Ngưng trích>

oOo

Trên đây là một đoạn trong  Chương IV-Những Tên Biệt Kích Cầm Bút của đồng tác giả Minh Kiên - Nam Thi, hai Đại tá Công An thành Hồ. Nhân vật chính của chương này là Giáo sư - Nhà văn Đoàn Quốc. Trong số năm tên chúng tôi bị gọi là "Những tên Biệt kích cầm bút", Đoàn Quốc là người được diễn tả đời tư với những lời tương đối sạch sẽ, tử tế nhất. Không chỉ giới thiệu đàng hoàng mà thôi dường như hai anh Cớm Cộng Nam Thi - Minh Kiên còn có vẻ thán phục và đề cao Biệt kích Cầm Bút Đoàn Quốc. Kể từ 1954 - trước đó bỏ, ta chỉ tính sổ bụi đời từ năm 1954 - đến năm nay  1996 là 42 mùa thu lá bay ông Đoàn Quốc dậy học, viết văn, in sách, đi tù ở Sài Gòn nói riêng và trong nước nói chung, rồi ra hải ngoại, định cư ở Houston, Texas, hai ông bà được mời đi khắp nơi gặp lại bạn hữu v.v...Suốt 42 mùa thu đó ông Đoàn Quốc không bị một lời chỉ trích, chê bai, kể cả xuyên tạc, vu khống, ghen tị, bới lông tìm vết, móc lò bậy bạ. Ngay cả đến Đại tá công an Bắc Cộng khi viết về Người tù chính trị Đoàn Quốc cũng viết với những lời lịch sự như ta vừa thấy. Trong khi ấy, thì bốn tên văn nghệ sĩ Khuất Duy, Dương Hùng, Trần Ngọc Thự, Hoàng Hải cùng được xe bông Công an Thành Hồ đến tận nhà rước đi trong một đêm với ông Đoàn Quốc, bị cho vào một nhóm với ông họ Đoàn, bị miêu tả như những tên lưu manh, láu cá, đá cá lăn dưa hết sức tồi tệ.

Tác phẩm Dấu Chân Cát Xóa của Doãn Quốc Sỹ đã được ấn hành ở hải ngoại. Tháng Năm 1995 anh chị Doãn Quốc Sĩ đến Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Trong sáu niên tù đầy lần thứ hai tôi ở chung phòng với Trí Siêu Lê Mạnh Thát năm năm, chung phòng với Doãn Quốc Sỹ hai năm. Không một lần nào chúng tôi hẹn nhau, dù chỉ là hẹn đùa cho dzui: "Chúng ta sẽ gặp nhau ở Mỹ...". Dzậy mà...định mệnh an bài...Nàm thao em piết....!

Tôi không hay đọc tác phẩm của người viết cùng thời. Trước năm 1975, tôi chỉ đọc những quyển "Tình cao thượng, Mối tình mầu hoa đào, Hòa bình, nghĩ gì, làm gì?" của Nguyễn Mạnh Côn, Thương Nhớ Mười Hai của Vũ Bằng. Những ngày u buồn trống rỗng, đen tối khủng khiếp sau Ba Mươi tháng Tư 75 quẩn quanh trong căn nhà nhỏ, không có việc gì làm, không biết đi đâu, tôi lấy sách cũ ra đọc. Vớ được quyển "Sầu Mây" của Doãn Quốc Sỹ trong tủ sách, tôi nằm đọc "Sầu Mây".

Năm 1981, anh Sỹ từ trại cải tạo Gia Trung Pleiku-Kontum trở về. Tôi gặp lại anh ở nhà anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt. Tôi nói với anh:
- Trong "Sầu Mây" cái đoạn nhân vật chính, anh chàng gì đó, sang Mỹ du học, làm tình với em đầm Mỹ, anh tả: "Lúc ấy chàng cảm thấy như nước tình yêu chan hòa trên mặt các lãnh tụ của cả hai miền Nam Bắc..." Tôi thấy hơi quá đáng. Hai nữa, theo tôi nghĩ, thằng đàn ông nào đến giây phút ấy còn bị ám ảnh về chuyện chính trị thì đó là tên khổ sở nhất đời".

Nhà mô phạm tả chuyện đàn ông, đàn bà làm tình rạo rực, rộn rịp mê ly đâu có kém gì những nhà văn nữ. Bằng chứng như ta đã thấy. Công an Việt cộng khi trích "Dấu chân cát xóa" đã bỏ qua những đoạn có tư tưởng chính trị để trích đoạn nhân vật Chương trở lại Springfield, Illinois, với đầm Mỹ Martha. Anh Con Trai Bà Cả Đọi xin chiếu lại hầu quý vị đoạn phim này:

Martha! Martha. Bên kia bờ sông có tiếng vọng lại "Martha! Martha". Con sông tâm tưởng. Chương lúc đó đang ngồi ngửa mặt nhắm mắt lười biếng trên chuyến xe buýt liên tiểu bang - Con sông xuân tràn đầy chảy lênh láng, màu nước biên biếc như tóc mềm (tóc Martha) gặp

gió xõa trên bờ vai. Chương biến thành gió, luồn tay vào mái tóc đó, bàn tay vô hình mơn man êm dịu...Springfield - cánh đồng   mùa xuân - thủ phủ của Illinois thật hữu tình và có tính cách tiền định. Đến Springfield để trả món nợ tình...Thời gian, không gian giờ đây là của hai người. Chương nghiêng đầu sát tới nói thầm bên tai Martha:
- The closer I get, the better you look.
Chàng có một cữ chỉ "nhào đại", muốn hôn lên miệng Martha...
- A...a...a...a...
Chương tìm lại hương vị thơm đắng của cà phê trên môi Martha, một bàn tay Chương xoa lên bờ vai rồi vòm ngực tròn trịa của nàng
- Về nhà đã Chương, Martha van vỉ.
Chương lắc đầu giữ chặt lấy nàng, không đáp. Martha cảm thấy những ánh sao lóe sáng rụng lả tả...rụng lả tả trên khắp vùng da thịt..."

OoO

Lời Kết:

Như phần trình bày trên của nhà văn Hoàng Hải Thủy, trong Chương IV- Những Tên Biệt Kích Cầm Bút - của đồng tác giả Minh Kiên - Nam Thi, hai Đại tá Công An thành Hồ. Nhân vật chính của chương này là Giáo sư - Nhà văn Đoàn Quốc, tức GS Doãn Quốc Sỹ ngoài đời. Chế dộ Cộng Sản muốn triệt tiêu thành phần trí thức mà họ cho là thành phần "phản động", nguy hiểm cho chế độ thời bấy giờ, mà GS Doãn Quốc Sỹ là con dê tế thần. Tôi hỏi GS Sỹ nội vụ ra sao, ông cho biết ông đã gửi lén tập tiểu thuyết "Đi", tức đi vượt biên ra hải ngoại, ông kể về chuyện vượt biên bỏ xứ ra đi, ký dưới tên tác giả là Hồ Khanh. GS cười hỏi tôi có biết Hồ Khanh là ai không, tôi lắc dầu, ông nói: "tức là Hành Khô đấy!". Ông có óc hài hước, tinh thần dí dỏm cần thiết cho cuộc sống, chứ không là mẫu người

lúc nào cũng nghiêm nghị, cứng ngắc như nhiều người tưởng về ông. Nhưng khi bị hỏi cung bởi đám công an trong thủ thuật khủng bố trấn áp tù nhân, ông tỏ vẻ bình tĩnh, thản nhiên, và không nao núng. Dù ông hiểu đối phương có thể mang ông đi tử hình hay thủ tiêu mình. Tinh thần "kẻ sĩ" ông có, để rồi về sau này tôi đọc bài thơ do người thứ nam của ông, Doãn Quốc Vinh làm bài thơ tặng cha mình như sau:

"Nợ ba sinh vay trả
Gánh nhân sinh nhẹ mang
Phong nguyệt đủng đỉnh, nghêng ngang
thản nhiên, lồng lộng, ngút ngàn…
như không !"
(Tặng riêng bố, bài "Kẻ Sĩ", Doãn Quốc Vinh, Sài Gòn, 01/2003).
                     
Tôi xin mượn lời thơ của Doãn Quốc Vinh đã làm bài thơ tặng cha mình. Lời thơ lồng ý tưởng là Doãn Quốc Sỹ mang nợ xã hội, rồi ông chấp nhận tù đày, dù lòng vốn thản nhiên, không sợ sệt. Đó là con người của Doãn Quốc Sỹ. Khâm phục thay!
Lòng Từ Trong
Cõi Văn DOÃN QUỐC SỸ

- THÁI TÚ HẠP -

Chuyện đời có những sự việc xảy ra nghịch lý vô cùng kỳ diệu. Nếu chúng ta căn cứ tuyệt đối vào lý thuyết chủ quan của các nhà triết học đạo đức Đông phương thì chưa hẳn đúng với thực tế. Khổng Tử thường nói: "Phú quý sinh lễ nghĩa. Bần cùng sinh đạo tặc". Nếu áp dụng vào đời thường với những định kiến cổ điển một chiều, đôi khi là một sự sai biệt đáng tiếc. Có thể đúng ở một hoàn cảnh đặc biệt, một thủ đoạn vì lợi danh hay chủ trương của chế độ "bần cùng hóa nhân dân"... đó là vấn đề ở một lãnh vực khác.  Chính từ những kinh nghiệm diễn biến qua thời gian, chúng ta đã tìm thấy nơi giáo lý vi diệu của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khai sáng Con Đường Trung Đạo từ hơn hai ngàn năm trước.  Nhà khoa học triết học Albert Einstein đã phát minh ra Thuyết Tương Đối năm 1905...

Gia đình chúng tôi nghèo nhưng Mẹ tôi có một nếp sống vô cùng thanh bạch, luôn luôn thể hiện tình thương chân thật đối với mọi người...Chính vì ưu điểm nầy chúng tôi nhận thấy nơi Mẹ tôi, từ thuở thiếu thời. Trải qua nhiều năm cần cù tần tảo như con cò "lặn lội ven sông"... dành dụm được chút ít vốn liếng Mẹ tôi mở quán bán hàng vải và tạp hóa ở chợ Hội An. Lúc đó chúng tôi có cơ hội giao tế thường ngày với lớp người nghèo khổ lao động buôn gánh bán bưng, chúng tôi mới thực sự khám phá những con người từng trải qua những bối cảnh nghèo khổ thiếu thốn, niềm tin nơi đạo đức càng được hun đúc và tình cảm thêm dạt dào. Hay nhận định một cách khác, nguyên nhân khởi động lòng từ bi mang lại hạnh phúc tối thượng đối với tha nhân chỉ đơn giản là: bản chất của con người tự nó đã nảy sinh lòng yêu thương mọi người hơn tất cả mọi thứ.

Về sau khi lên Trung học, chúng tôi yêu thích những tác phẩm của Nhà văn Doãn Quốc Sỹ như Sợ Lửa - Hồ Thùy Dương - Trái Cây Đau Khổ - Người Việt Đáng Yêu - Vào Thiền, Trái Đắng Tràng Sinh - U Hoài - Gánh xiếc - Dòng Sông Định Mệnh - Gìn Vàng Giữ Ngọc - Đốt Biên Giới - Cánh Tay Nối Dài - Cúi Đầu, Sầu Mây. Và một bộ trường thiên tiểu thuyết khác có tên Khu Rừng Lau. Sau năm 1975, ông viết thêm những tác phẩm Đi, Dấu Chân Trên Cát, Cò Đùm, Mình Lại Soi Mình, Người Vái Tứ Phương... Tuy nhiên câu chuyện Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều gây cho chúng tôi nhiều ấn tượng ngậm ngùi sâu sắc nhất. Gợi cho chúng tôi liên tưởng đến những ngày tản cư và hồi cư tại Hội An. Trong suốt cuộc hành trình đầy gian lao khổ ải, Mẹ tôi đã mua lại chiếc chiếu cũ khi qua làng Bàn Thạch, chiếc chiếu đã giúp chúng tôi đủ chuyện. Khi nào quá mỏi chân, Mẹ tôi trải cho chúng tôi ngồi tạm bên vệ đường đầy cát nóng. Tối đến Mẹ tôi dùng chiếc chiếu đắp cho chúng tôi đỡ gió sương. Chính vì lý do đó, tác phẩm Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều của Nhà văn Doãn Quốc Sỹ như một đồng điệu kỳ thú nên chúng tôi yêu thích cho đến bây giờ. Thực sự chúng tôi cũng chưa được vinh hạnh đối diện với Nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Chỉ có một lần khi chúng tôi ở Los Angeles, nhà văn Mai Thảo nhờ chở về Orange County để tham dự buổi họp mặt đón Nhà văn Doãn Quốc Sỹ vừa đến từ Việt Nam do nhật báo Người Việt và thân hữu của nhóm Sáng Tạo ngày xưa đứng ra tổ chức tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt.

Trên chặng đường từ Los Angeles đến Santa Ana, Nhà văn Mai Thảo kể nhiều chuyện về những kỷ niệm phối hợp đầu tiên hình thành nhóm Sáng Tạo ở Saigon. Ông Mai Thảo kết luận: "Anh Doãn Quốc Sỹ xứng đáng được đa số anh em trọng nể về tư cách đạo đức, nhân hậu và nhất là hào khí kẻ sỹ trong trại tù...có lập trường quốc gia dân tộc...thể hiện rõ nét qua các nhân vật trong các tiểu thuyết của anh, cũng như khi anh ở trong các trại cải tạo. Trong những tác phẩm văn chương của anh Doãn Quốc Sỹ như chúng ta thường thấy, hầu hết các nhân vật đều là những người rất hiền lành, bao dung, yêu người yêu đời, không hận thù và tin tưởng cái thiện bao giờ cũng thuận lòng trời và đạt thành viên mãn..." Không phải chỉ có ông Mai Thảo nhận xét về tác giả tác phẩm của Dòng Sông Định Mệnh mà khi chúng tôi có cơ

hội gặp Nhà văn Võ Phiến, Nhà văn Nguyễn Sỹ Tế, Nhà văn Duy Lam trong những buổi sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật tại Little Saigon và tại quán Doanh Doanh ở Los Angeles. Và chính các Nhà văn chúng tôi vừa đan cử đã từng khai mở dòng văn chương mới khởi sắc chung với nhau từ những ngày trước ở Saigon, đều có nhận xét tương tự như ông Mai Thảo.  Chúng tôi còn khám phá nơi nhà văn Doãn Quốc Sỹ những tâm lượng từ ái tuyệt vời, luôn luôn tin tưởng vào những giá trị cao quý của truyền thống văn hóa dân tộc: Ông không nuôi hận thù dài lâu ngay cả khi ông đang bị giam trong lao tù cộng sản. Ông chỉ căm thù chính sach của một chế độ tàn bạo đàn áp cái nhân phẩm con người xuống tầm súc vật, muốn dìm con người trong thiếu thốn để chứng minh nguyên lý "vật chất quyết định hết thảy".  Ông không căm thù những kẻ thừa lệnh đang hành hạ ông và ông quan niệm nếu chúng ta thực sự muốn học hỏi hạnh từ bi nhẫn nhục thì nên cám ơn những người gây ra tội ác vì chính kẻ thù đã dạy cho chúng ta rèn luyện lòng nhân từ. Đối với người có bản chất từ bi nên xem như một vốn liếng kinh nghiệm cần thiết mà trong đó kẻ thù không thể thiếu được thành tố đạt đến thành công...

Chính vì những cảm nhận cao quý nầy, chúng tôi không ngạc nhiên khi đọc hầu hết các tác phẩm văn chương của ông Doãn Quốc Sỹ cũng như những bài thơ của Thi sỹ Thanh Tâm Tuyền, và Thi sỹ Tô Thùy Yên. Chúng tôi đã tìm thấy tấm lòng thật khoan dung độ lượng, đã từng ở tù cộng sản hàng chục năm, sau khi trở về với gia đình, chỉ biết ca ngợi tình thương giữa con người với con người, không còn vướng bận đến hận thù:

...Dòng sông u hiển trôi vô lượng
Dòng sông hiền triết chảy vô tâm
Mà ta ngưỡng vọng như sư phụ
Mà ta thân thiết tựa tri âm...
(Tô Thùy Yên)


Đó chính là cái hơi thở phát tiết từ trí tuệ, tỏa ngát hương trầm của truyền thống ngàn năm của tinh thần Lạc Việt: Yêu thương mà không mê muội. Bao dung chứ không bao giờ bi lụy khuất phục. Các ông mang tâm thức hùng tráng của bậc hành giả lên

đường, khám phá những trường sơn đạo hạnh, khai mở những thảo nguyên an bình, những ngọn đỉnh của Tình Thương. Khi tâm thực sự thăng hoa tuệ giác, chuyện trở về như một cứu rỗi tha nhân:

...Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu nầy...

...Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi...
(TA VỀ của Tô Thùy Yên)


Cùng với sự hợp tác trí tuệ để hình thành nhóm Sáng tạo với những tác phẩm đa diện, giá trị và phong phú, nhưng có điều khác biệt qua cảm nhận chủ quan của riêng chúng tôi. Cõi văn của ông Doãn Quốc Sỹ càng vượt qua tuổi "thất thập cổ lai hy" chẳng khác Dòng Sông Định Mệnh đã hòa tan vào Đại Dương, từ tiểu ngã hòa nhập vào đại ngã để tan biến vào vũ trụ bao la. Trong khi Nhà văn Mai Thảo vẫn lửng lơ giữa đôi bờ hư thực đùa chơi với chữ nghĩa cho dù hạt cát, hạt cải hay hạt muối vẫn chưa tan giữa trùng trùng duyên khởi, còn luyến lưu giữa vô lượng hải hà, tiêu dao mộng huyễn:

Ta thấy tên ta những bảng đường
Đời ta sử chép cả ngàn chương
Sao không hạt cát sông Hằng ấy
Còn chứa trong lòng cả đại dương...


Riêng Nhà văn Nguyễn Sỹ Tế thì chúng tôi thường gặp lui tới các tự viện giảng kinh nghe Pháp nơi các bậc thiền sư thâm sâu về dòng triết học Phật Giáo và cuộc sống thanh thản an tịnh như hơi nước đang bốc thành mây trở về cội nguồn. Sự lựa chọn cuối đời của mỗi nẻo đường mỗi khác theo từng quan niệm. Cây cổ thụ lừng lẫy văn học Doãn Quốc Sỹ vẫn còn đó thách đố với giông bão nhiễu nhương giữa cuộc đời, tỏa những tàng cây bóng

mát đạo hạnh cho người bộ hành đồng điệu cảm thấy thoải mái khi dừng chân giữa cơn nắng lửa mùa hạ nơi xứ người.

Giấc mơ chung mà chúng ta thường ước nguyện: ai cũng mong muốn cầu xin được sống hạnh phúc và không thích khổ đau. Từ nhận thức đơn giản nầy, mọi người nên cố gắng phát triển tình thương yêu đồng loại. Và điều quan trọng nhất trong cuộc sống thường nhật là chúng ta hãy thể hiện một tâm hồn vị tha như chúng ta thường bắt gặp nơi các nhân vật trong những tác phẩm văn chương của Nhà văn Doãn Quốc Sỹ mà chúng ta có cơ hội đọc từ nửa thế kỷ qua.

Từ ngàn xưa trong Kinh Pháp Cú đã dạy: Trong muôn ngàn loài hoa đều tỏa mùi hương cuốn theo chiều gió. Chỉ có hương từ bi bay ngược chiều gió ngát thơm khắp cõi ta bà.

Thái Tú Hạp
Los Angeles, tháng 7-2006
Nhớ Kỷ Niệm Với Nhà Văn DOÃN QUỐC SỸ

- Dương Viết Điền -

Lúc còn đang theo học bậc trung học, tôi đã có dịp đọc được một vài tác phẩm của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Một trong những tác phẩm mà tôi thích nhất là cuốn "Gìn Vàng Giữ Ngọc". Vì ở miền Trung nên tôi không hân hạnh được học với nhà văn Doãn Quốc Sỹ và cũng chưa hân hạnh được diện kiến nhà văn. Mãi cho đến khi sang Mỹ, tôi mới có dịp gặp nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Vào khoảng tháng 03 năm 2003, tôi nhận được giấy mời của Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, trung tâm Nam California, xuống Quận Cam họp để chuẩn bị bầu ban chấp hành mới của Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Vì nằm trong ban tổ chức do anh Trần Thy Vân (khi đó giữ chức chủ tịch Hội Văn-Bút Nam Cali) chỉ định, tôi cũng giúp anh em trong ban tổ chức một tay tiếp đón các văn hữu từ khắp nơi trên thế giới cùng nhau về tham dự đại hội.

Doãn Quốc Sỹ vì vừa là nhà văn, lại vừa là nhà giáo, nên hai phương danh hay phong vị văn sĩ hay giáo sư đều đúng với ông. Trong bài viết này tôi tham lam xin được dùng cả hai. Trở lại buổi họp đại hội của Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Chính trong dịp này tôi đã gặp nhà văn khả kính Doãn Quốc Sỹ. Sở dĩ có sự hiện diện của nhà văn Doãn Quốc Sỹ ngày hôm ấy vì nhà văn là một trong những nhân vật nằm trong ban cố vấn của Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Lúc nhà văn Doãn Quốc Sỹ đang ngồi nói chuyện với một văn hữu bên cạnh, tôi tiến lại gần nhà văn và khi nhà văn vừa ngưng nói chuyện, tôi liền chào kính cẩn khi bắt tay ông sau khi tự giới thiệu về mình:
- Nghe danh giáo sư từ lâu nhưng mãi đến bây giờ mới hân hạnh được diện kiến giáo sư.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ vừa nhoẻn miệng cười vừa nói:
- Dạ không dám, anh khỏe chứ?

Đó là phút giây đầu tiên vẫn còn là ấn tượng tốt đẹp về nhà văn có cá tính khiêm cung và đôn hậu. Sau một vài phút tâm sự hàn huyên về những tác phẩm của ông mà tôi biết, rồi chúc sức khoẻ ông, tôi cũng biếu ông hai tác phẩm của tôi mới phát hành khi đó, gồm cuốn hồi ký "Trại Ái Tử và Bình Điền" và cuốn khảo luận "Những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân". Thời gian qua đi, mãi đến ba năm sau trong dịp ra mắt tuyển tập Nam Phong mà tôi là một hội viên tác giả, lễ được tổ chức tại hội trường Thánh Thất Cao Đài ở California, thế là tôi lại có dịp hội kiến lại với nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Thế là tôi cùng nhà văn Việt Hải rủ nhau xuống phố Sài Gòn Nhỏ để tham dự buổi ra mắt này. Chính dịp này có sự góp mặt của nhiều nhà văn như Doãn Quốc Sỹ, nhà văn Nguyễn Thị Vinh (trong Tự Lực Văn Đoàn, sang từ Oslo, Na Uy), nhà thơ Hồng Vũ Lan Nhi và giáo sư Nguyễn Lý Tưởng cùng nhiều nhà văn trẻ khác nữa. Trong buổi ấy tôi được dịp hàn huyên với ông lâu hơn, giọng nói của ông vẫn chậm rãi, từ tốn, khoan thai, nhưng rất thân mật, chân tình khi diễn tả ý nghĩ của mình. Như đã đề cập, tên tuổi Doãn Quốc Sỹ vốn là một nhà văn nổi tiếng trong hai lãnh vực văn học và giáo dục từ nhiều thập niên qua, với những tác phẩm ông viết rất công phu và mang nhiều sắc thái của nền văn hoá dân tộc Việt Nam, một nền văn hóa đã có trên bốn ngàn năm văn hiến. Những tác phẩm của ông xuất bản như Sợ Lửa(1965) U Hoài(1957), Gánh Xiếc(1958), Gìn Vàng Giữ Ngọc(1959), Dòng Sông Định Mệnh (1959), Hồ Thuỳ Dương(1960), Trái Cây Đau Khổ(1963), Người Việt Đáng Yêu (1965), Cánh Tay Nối Dài (1966), Đốt Biên Giới(1966), Sầu Mây(1970), Vào Thiền (1970), Người Vái Tứ Phương (1982), Dấu Chân Cát Xoá, Mình Lại Soi Mình, Khu Rừng Lau, Tuyển Tập Văn Chương Nhi Đồng và còn hàng ngàn truyện ngắn, bình luận văn chương, những bài giảng trong các giảng đường đại học,… Những tài sản đó, những đóng góp quý báu đó đã đưa nhà văn Doãn Quốc Sỹ vào thẳng vườn hoa văn học sử Việt Nam. Vì thế nên trong văn học sử Việt Nam hậu bán thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã chiếm một vị trí ưu ái nào đó rồi, vì ông đã tạo nên một trang văn học cho mình thật sáng tạo và thật thủy chung, thật nồng nàn với dòng suối văn Việt ngữ.

Trong buổi lễ của nhóm Nam Phong tại hội trường của Đại Đạo Tam Kỳ  Phổ Độ này tôi gặp những thân hữu như anh hội trưởng Nguyễn Lý Sáng của Tây Ninh Đồng Hương Hội, tổ chức đã bảo trợ cho Nam Phong ra mắt sách, còn có nhà văn Quí Văn, Duy Văn, Nguyễn Ngọc Mịnh, Đỗ Tiến Đức, Ngọc An, Bích Huyền, Nguyễn Ngọc Chấn, Vương Trùng Dương,  nhà thơ Đặng Phú Phong, Nguyễn Hữu Nhật và sau khi mạn đàm với nhà văn Nguyễn Thị Vinh xong, tôi đến gặp nhà văn Doãn Quốc Sỹ ngồi cùng với ông Trần Quang Phong (người em rể đã đưa ông đến đây). Tôi bắt tay hai ông bàn sơ qua về chương trình mà cô Ngọc An cho tôi biết. Lần này tôi ký tặng ông thi phẩm "Ngậm Ngùi" và sau đó chúng tôi bàn bạc về chuyện văn học của nhóm Sáng Tạo và sự phôi thai của Văn Đàn Đồng Tâm bên Houston. Kế đến tôi thấy Việt Hải và Nguyễn Ngọc Minh bước vào trao đổi những câu xã giao với ông. Nhà văn Việt Hải góp mặt vào Văn Đàn Đồng Tâm từ phút ban đầu, và chính anh kêu gọi nhiều thân hữu tham gia vào văn đàn do nhà văn Doãn Quốc Sỹ đồng sáng lập, tôi đã nhận lời cùng anh Việt Hải. Thế là chúng tôi ngồi quây quần bên nhau để nghe giáo sư Doãn Quốc Sỹ bàn chuyện văn học nghệ thuật từ trước năm 1975 mà ông biết. Được dịp ngồi bên cạnh nhà văn tiền bối hay vị giáo sư hiền hòa này, tôi mới cảm nhận thấy rằng giáo sư đúng là một mẫu người rất khiêm tốn, rất bình dị. Khuôn mặt rất nhân hậu, mang nét trí thức dịu dàng. Nụ cười thật hiền hậu, tươi tắn, hình như những nụ cười ấy luôn luôn nở trên môi ông dù là tuổi tác đã xế chiều. Xuyên qua những lời nói khi bàn về văn học, về giáo dục hay thời gian ông du học ở Mỹ, giai đoạn bị kết án "chống phá nhà nước Cách Mạng" phải đi tù, tôi thấy cả một hình ảnh của ông như là một người trí thức can đảm, một gương mẫu mực về lòng bất khuất phản kháng qua thái độ mà "dám làm và dám chịu", không sợ hãi bạo quyền. Ông gửi những bài văn ông viết ra xứ ngoài, những bài văn như lời tố cáo nêu lên chuyện thật xảy ra cho xứ sở bất hạnh Việt Nam. Cộng Sản theo dõi và bắt ông. Tôi vốn bị một thập niên tù Cộng Sản, do đó những gì tôi và ông trao đổi ngày tháng bị tù đày làm buổi nói chuyện gần gủi nhau hơn, tôi bảo ông sách "Người Vái Tứ Phương" là một tác phẩm tôi thích vì ông khéo chỉ trích chế độ Cộng Sản. Giáo sư như muốn hoà mình với  thế hệ đàn em, cái không khí vui vẻ mà ông mở ra như đã gần gủi với tha nhân, với tuổi trẻ và phải chăng chính ông

muốn khỏa lấp biên cương giữa những ngòi bút trẻ và một nhà văn lão luyện đã thành danh. Tôi đang chứng kiến ông như một người nhạc trưởng của ban đại hợp xướng, vừa muốn hát chung cùng những ca viên trên sân khấu khiến người nghe bản đại hợp xướng thật êm dịu và hài hoà. Đó là lý do khiến tôi nhìn ông trong ánh mắt kính trọng, ông như người thầy hay một đàn anh gương mẫu luôn luôn tỏ ra cao thượng hoà đồng với những đàn em để cùng nhau bảo tồn và phát huy nền văn học nước Nam ta. Nếu không thì có thể nền văn học hải ngoại của chúng ta sớm mai một, tàn phai theo thời gian. Tôi được biết ông thường góp mặt trong các buổi nói chuyện đó đây về văn hóa hay văn học, ông không quản ngại đường sá xa xôi, như trong buổi ra mắt sách của anh chị em Nam Phong để lên đường bay sang California, hầu tham dự buổi ra mắt tuyển tập Nam Phong nầy. Chính điểm nầy khiến ông lên đứng trên sân khấu chia sẻ với những tác giả thuộc thế hệ đi sau, nhưng có bài đăng trong tuyển tập, để được ban tổ chức giới thiệu với cử toạ tất cả cây bút góp mặt, nhưng so về tuổi tác và trình độ của nhiều người xung quanh ông thì họ có thể đáng ngang hàng với học trò của ông như tôi, hoặc cùng quý anh chị trong lãnh vực văn thơ như Hồng Vũ Lan Nhi, Ngọc An, Việt Hải, Cù Hoà Phong, hay Duy Văn, tức Hà Đình Huy. Hành động này đúng là biểu tượng của hoà đồng làm nức lòng người đi sau ông hay những người có đam mê văn chương, hình ảnh của ông đã khuyến khích tha nhân và tuổi trẻ hãy cùng nhau bảo tồn và phát-huy nền văn học nước nhà trên bước đường lưu vong. Và nếu như một sắc dân tại xứ Mỹ ô hợp này đánh mất bản sắc văn hóa là điều hối tiếc lắm. Nếu như vá víu vào một nền văn học hay văn hóa bệnh hoạn, thác loạn thì xã hội cũng khó mà lành mạnh được đúng như lời của tư tưởng gia Maurice Nadeau đã từng nói rằng: "Quand la litérature a mal, la société ne va pas bien (Khi văn chương bệnh hoạn, thì xã hội không được lành mạnh). Sau này tôi được biết nhà văn Doãn Quốc Sỹ cùng nhà văn Tạ Xuân Thạc, rủ thêm nhà văn Việt Hải thành lập Văn Đàn Đồng Tâm.
Phải nói là nhà văn Doãn Quốc Sỹ như cuộc đời của ông, ông có đam mê về văn chương, cả đời ông cống hiến cho văn chương, ông viết, ông đọc bao nhiêu bài văn thơ và dạy bao nhiêu lớp người trong đời rồi. Ông đến với Đồng Tâm như vị

cố vấn với kinh nghiệm già dặn sẵn có. Rồi Văn Đàn Đồng Tâm cho ra những Tuyển tập Đồng Tâm gồm những cây bút thân hữu tự nguyện đến với nhau qua tiếng nói của ngôn ngữ Việt mến yêu hay những dòng văn học quê hương mang ra xứ ngoài. Chính những cuốn Tuyển tập Đồng Tâm là những trang giấy, những thửa đất mà giáo sư cố vấn và nhà văn Tạ Xuân Thạc muốn tất cả các văn nhân nên tham gia vào để bảo tồn và phát huy nền văn học tại xứ người. Đây là nơi mà giáo sư muốn gieo những hạt giống văn học cho tương lai, và cũng là nơi "dụng võ" của tao nhân mặc khách.Vì tâm tư hoà đồng với mọi người nên trong truyện ngắn "Người Vái Tứ Phương" mà tôi có dịp đọc, ông đã không ngần ngại hạ bút viết: "Thế giới nầy là nơi cộng đồng có trách nhiệm. Khi cái đẹp, cái thiện đã được khơi nguồn, thắp sáng, người ta dễ bề mở rộng cái tôi cá biệt đi vào cái ta hoà đồng".

Và với những ước mơ suốt đời canh cánh bên lòng, giáo sư Doãn Quốc Sỹ luôn luôn cổ xuý tư tưởng vốn cao quý  là hãy "Gìn Vàng Giữ Ngọc" để bảo tồn bản sắc của nền văn hoá nước Việt, ngõ hầu khỏi làm phật lòng thi hào Nguyễn Du qua hai câu thơ Kim Trọng dặn dò Thuý Kiều trước khi tạm biệt:
"Gìn vàng giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời."

Trong cái tâm như vậy tôi đọc được ý tưởng của nhà văn Doãn Quốc Sỹ vẫn mãi trung thành với ngôn ngữ Việt Nam. Với chủ trương luôn luôn gìn vàng giữ ngọc của ông, nên ngày hôm nay trong một ý tưởng nào đó, tôi thầm nghĩ là thi hào Nguyễn Du có thể tiếp tục an giấc nghìn thu trong thiên đàng của chốn văn học hay dưới suối vàng óng ánh bay tỏa những áng văn chương thượng thặng nhất, để Nguyễn Du sẽ mãi an tâm khỏi phải trăn trở giữa đêm khuya thanh vắng vì ngay trên thế gian này, khi mà nhà văn Doãn Quốc Sỹ vẫn còn thức giấc, để nhắc nhở những bạn trẻ gốc Việt rằng hãy gìn vàng giữ ngọc, hãy gắn bó với văn hóa Việt Nam, hãy trân trọng quyến luyến với chữ nghĩa Việt mình, dù bất cứ trên vùng địa lý nào của quả đất này hay bất cứ nơi đâu mà họ đến cư ngụ. Đừng bao giờ bỏ quên Việt ngữ và nguồn gốc của mình. Thật đáng quý thay với "Người Việt Đáng Yêu" như Doãn Quốc Sỹ.

Viết về thân-thế và sự nghiệp văn chương của nhà giáo Doãn Quốc Sỹ qua mấy chục tác phẩm đã xuất bản, tôi nghĩ sẽ phải cần một cuốn sách nhiều trăm trang để liệt kê nhiều công trình sáng tạo và những đóng góp tận tụy của ông hơn, và rằng làm sao tôi có thể cô đọng được hết cái tâm, cái tài của ông chỉ vỏn vẹn trong ngần này trang giấy? Vì thế tôi chỉ viết lại một vài kỷ niệm với nhà văn Doãn Quốc Sỹ trong những lần gặp gỡ ông mà tôi đã có dịp hàn huyên và trao đổi những ý tưởng văn học từ ông, cũng như học thêm những gì của ông. Và rồi cuối cùng tôi có một nhận xét tổng quát sau khi đọc được một số tác phẩm của vị giáo sư khả kính, hầu xét qua cuộc đời của ông từ lúc thiếu thời cho đến ngày hôm nay rằng, một con người trong trí nhớ của tôi có dáng dấp dong dỏng cao, hơi gầy, với một khuôn mặt thật đôn hậu như thế, một người có sở học tại Việt Nam và Hoa Kỳ và suốt đời ông tận tụy với bút mực, chữ nghĩa, với học trò và độc giả của ông. Điều quý nữa là ông đã gióng lên tiếng lòng phản đối sự độc tài, tàn ác của chủ nghĩa Cộng Sản. Ông đã chấp nhận ngồi tù, chịu đựng được sự khủng bố triền miên về tinh thần cũng như thể chất vì tội danh ngụy tạo, bị gán ghép "Gián điệp cho Mỹ", với thời gian đầy khổ luỵ trên dưới 12 năm trong trại tù đã cho ông một nụ cười nhân hậu sẵn lòng tha thứ những kẻ hãm hại ông, và lòng ông đã giữ được khí tiết cương trực và thái độ bất khuất trước một chế độ sắt máu, bạo tàn thì ông đúng là một đấng trượng phu nghìn đời khâm phục.

Tóm lại, giáo sư Doãn Quốc Sỹ theo tôi là một mẫu người biểu tượng cho "Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất" vậy.

Dương Viết Điền 
California, ngày 07 tháng 07 năm 2006.
Chân Dung Kẻ Sĩ

- Đào Vũ Anh Hùng -

            Tôi không nhớ đích xác đã gặp nhà văn Doãn Quốc Sỹ lần đầu khi nào. Chỉ nhớ dường như khoảng cuối thập niên 60 hay đầu 70, gặp ông ở ngoài đường, sơ giao ngắn ngủi với cái bắt tay và câu chào hỏi, rồi lại bắt tay từ giã nhưng hình ảnh cuộc gặp gỡ bất ngờ vội vã đó, với tôi, đã in đậm nét đến mãi sau này khi gặp lại ông trên đất Mỹ…

            Đó là lần gặp gỡ trong thoáng chốc nhưng thực khó quên.  Tôi từ Nha Trang về Saigon, đi với Võ Hà Anh vào một buổi sáng đến nhà in Nguyễn Đình Vượng có chút việc.  Chúng tôi đi ngang qua bến xe Nguyễn Cư Trinh, vừa đi vừa trò truyện thì bất chợt Võ Hà Anh ngưng nói, nhìn qua bên kia đường, vội vã xin lỗi và bảo tôi, "Cho tôi chạy sang chào ông Doãn Quốc Sỹ một chút.  Thầy Sỹ dạy tôi ở Trần Lục ngày xưa, lâu lắm bây giờ mới gặp…"

            Tôi rảo bước theo Võ Hà Anh, tiến đến trước giáo sư Doãn Quốc Sỹ đi ngược chiều phía bên kia đường, tay ôm một xấp giấy tờ hay sách báo, bản thảo gì đó, có lẽ cũng mới vừa từ nhà in Nguyễn Đình Vượng ra.  Ông gầy dong dỏng, có nét đạo mạo hiền lành mà thoạt nhìn, ai cũng nhận ra ngay là nhà giáo.  Ông mặc quần tây đậm mầu và áo sơ-mi trắng dài tay, là ủi thẳng thớm, lịch sự và giản dị.  Võ Hà Anh làm công việc giới thiệu.  Nhà văn Doãn Quốc Sỹ vồn vã bắt tay chúng tôi, thân mật, vui vẻ và nồng nhiệt trong giọng nói.  Rồi ông quay lại cầm giữ bàn tay người học trò ngày xưa, bộc lộ sự thân thiết…  Hai thầy trò trao đổi lời thăm hỏi, những câu hỏi của lâu ngày không gặp, nhắc nhớ đến hình ảnh và những cái tên trong quá khứ, đến ngôi trường Trần Lục và kỷ niệm.  Tôi đứng bên như một bóng thừa.  Ông thấy thế, tế nhị quay sang tươi cười hỏi tôi một vài câu…

            Thế thôi.  Vậy mà tôi ghi nhớ mãi gương mặt hiền hòa vui vẻ, khiêm tốn, có chút khắc khổ của ông.  Doãn Quốc Sỹ hay Doãn Quốc Sĩ, tôi nhiều lần phân vân không biết viết thế nào cho đúng

giữa hai chữ "i" ngắn và "y" dài.  Ở cái thời niên tráng của tôi, vừa ý thức mình trưởng thành để thoát ra khỏi vũng văn chương Tự Lực Văn Đoàn, lần mò khám phá dòng thơ văn mới mẻ của nhóm Sáng Tạo thời kỳ đó thổi bùng sinh khí lạ, luồng văn hóa của giới trí thức tiểu tư sản Hà Nội mà nhiều người Hà Nội di cư ôm nỗi nhớ nhà đất Bắc, đã say mê, cuốn hút, chìm đắm với U Hoài (1957), Dòng Sông Định Mệnh (1958) của Doãn Quốc Sỹ; Đêm Giã Từ Hà Nội (1956), Tháng Giêng Cỏ Non (1957) của Mai Thảo; Ung Thư (1955), Cát Lầy (1956), Bếp Lửa (1957) của nhà thơ Thanh Tâm Tuyền; cùng các nhóm văn nghệ khác như Chỉ Đạo, Sáng Dội Miền Nam, Thế Kỷ 20… rộ lên sắc thái đặc thù của trí thức miền Bắc di cư mà những tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ đã ảnh hưởng sâu đậm đến tôi sau này, khi viết báo cũng như viết văn.  Quả thật tôi đọc ông nhiều nên đã thẩm thấu phần nào tinh chất văn chương, tư tưởng và ngôn ngữ Doãn Quốc Sỹ lúc nào không biết.  Tôi ảnh hưởng ông trong cách dùng chữ cân nhắc, chọn lọc và đầy tính chất hồi cố như "Gìn vàng giữ ngọc", "Ba sinh hương lửa", "Tình yêu thánh hóa", vv…

            Tôi cảm thấy gần gũi và yêu thích văn chương ông từ thủa đó.  Văn ông dung dị, trong sáng, chững chạc, điềm đạm, thâm thúy, mềm mỏng và sâu sắc, chứa đựng tấm lòng ngay thẳng, chân thật và cương nghị.  Ông có thái độ của một "kẻ sĩ".  Ngôn ngữ ông có khi chau chuốt, mới mẻ, đầy tính lãng mạn, trẻ trung và lý tưởng.  Ông là nhà văn trong hàng ngũ tiên phong khai sáng dòng văn học đầy giá trị và sung mãn của miền Nam.  Là người đã từng dấn thân theo kháng chiến, có bề dầy kinh nghiệm xương máu với cộng sản, có lập trường quốc gia dân tộc, lý tưởng và niềm tin bất biến, có ý thức đề kháng cộng sản mãnh liệt, ông dùng ngòi bút như một vũ khí sắc bén và hữu hiệu để chống lại cái chủ nghĩa và chế độ phi nhân bản, phi dân tộc, phi đạo đức đó.  Đồng thời là nhà giáo, ông luôn chăm lo cho tuổi trẻ, cần cù và tận tụy với những công trình văn hóa giáo dục, xây dựng nền tảng đạo đức và phong hóa Việt, thiết tha gìn vàng giữ ngọc cho luân lý và ngôn ngữ Việt Nam, tô bồi một thế hệ tương lai tinh sáng không bị ô nhiễm bởi tà thuyết cộng sản, nên người đọc không ngạc nhiên khi thấy hầu như trong tất cả các tác phẩm, kể cả truyện cổ tích nhi đồng của Doãn Quốc Sỹ, ông đều

hoặc công khai hoặc ẩn dụ, đề kháng kịch liệt cái chủ thuyết ngoại lai phản dân tộc của Hồ Chí Minh cùng tập đoàn ma quỷ đó. 

            Doãn Quốc Sỹ tận dụng phương tiện truyền bá tư tưởng mình là ngòi bút, mượn huyền thoại cổ tích để lồng vào con chữ cái quan niệm chống cộng tích cực của mình.  Thí dụ như trong Hồ Thùy Dương, ông để cho con chó sói hiện hình thành một vị đạo sĩ tóc bạc phơ ngồi chắp tay trước ngực tham thiền. Đó là hình ảnh "giả dạng bần tăng" của tên Hồ cộng sản, ngoài miệng nói vì dân vì nước nhưng lòng dạ thì cực độ bạo tàn, tuyệt đỉnh bất nhân.  Ông cũng mượn loại truyện giả tưởng để quảng bá lập trường chống cộng một cách trực tiếp, như trong truyện "Đoàn Quân Xung Phong", chỉ trích lối luyện người của cộng sản thành những con người máy nhằm phục vụ cho mưu đồ xâm lược. 

            Ngay sau ngày cưỡng chiếm miền Nam, tên bồi bút Việt Cộng, Trần Trọng Đăng Đàn đã bỏ ra nhiều trang trong bộ "Văn Hóa, Văn Nghệ Phục Vụ Thực Dân Mới Mỹ tại Nam Việt Nam 1954-1975", dùng đầu óc công an văn hóa mổ xẻ khuynh hướng chống cộng của Doãn Quốc Sỹ rất tỉ mỉ, chất chứa hận thù, hậm hực bôi bác ông ra mặt.  Khác với Võ Phiến hay Nguyễn Mạnh Côn thiên về lý luận, Doãn Quốc Sỹ đánh thẳng vào phương cách "làm cách mạng" của cộng sản. Ông viết "Quê hương là của dân lành, người cùng giống nắm quyền cai trị mà tàn bạo thì cũng coi như quân xâm lăng".  Ông phân chia thế giới ra làm hai: "Thế giới được giải phóng" của cộng sản và "Thế giới tự do" của phe tư bản.  "Bên thế giới được giải phóng thì sự bẩn thỉu bộc lộ đến mức lõa lồ.  Đảng bảo gì dân chúng phải nghe vậy.  Hôm nay Đảng hùng hồn biện luận điều này là chân lý, dân chúng đồng ý một cách vui vẻ; ngày mai vẫn điều đó, được Đảng chứng minh ngược lại, dân chúng vội vàng đồng ý một cách vui vẻ hơn.  Hôm nay bọn lãnh tụ này được coi là mặt trời của mặt trời, là ánh sáng của Đảng, là cứu tinh của nhân loại, dân chúng bèn ăn uống, thở hít, thức ngủ trong bầu không khí kính cẩn thường xuyên vị lãnh tụ chói lọi đó.  Ngày mai bị "hạ bệ" hay thủ tiêu, vẫn hắn, bị Đảng tố cáo trước dân chúng là tên khát máu, tên điên khùng, tên phá hoại, tên tay

 sai của đế quốc, dân chúng vội vàng họp mít tinh, biểu tình tuần hành, hô khẩu hiệu, làm kiến nghị đả đảo tên khát máu, điên khùng, tên phá hoại, tay sai, chẳng còn gì là tình cảm, chẳng còn gì là nhân cách…!" (Hồ Thùy Dương, trang 138).  Trong một tác phẩm nào đó tôi không nhớ, chỉ nhớ ông có viết một câu chính xác, tát thẳng vào mặt cộng sản thế này, "Dân tộc Việt Nam là nạn nhân thảm khổ trong cuộc chiến tranh phá-hoại-tận-tình-và-tuyệt-kỹ của bọn người ngu dốt.  Chính vì sự cương-quyết-ngu-dốt và ngu-dốt-kiên-trì mà chúng đã bán đứng đất nước, bán cả linh hồn đất nước".    

            Còn nhiều nữa.  Người ta có thể tìm thấy những tư tưởng chống cộng hầu như trong tất cả các tác phẩm của ông.  Những điều ông viết ra không phải là những điều tố cộng và chống cộng lơ mơ, nhăng nhít theo khuôn mẫu.  Ông đã thành công trong việc tạo nên ảnh hưởng sâu đậm trong tâm thức người đọc, nhất là trong tầng lớp thanh niên qua những thập niên miền Nam Việt Nam quằn quại trong cuộc tương tranh Quốc-Cộng rất cần thiết có một chủ thuyết quốc gia, dân tộc để trang bị, để dựa dẫm vào mà chiến đấu.

            Doãn Quốc Sỹ là người tôi đặc biệt kính trọng và ngưỡng mộ.  Là bởi tôi nhìn thấy ông thực sự là một "Kẻ Sĩ" với tất cả giá trị thanh cao của hai chữ ấy.  Có lẽ trong đời sống tôi đã va chạm với nhiều thứ "trí thức quân tử ngụy" nên càng quý mến ông hơn.  Trước đây tôi thân biết, coi như anh em kết nghĩa với một người có tiếng tăm, có học vị, có bằng cấp cao, được thiên hạ trọng vọng, đề cao, tán tụng như một vĩ nhân thời đại.  Ông ta tự cho mình là sĩ phu, học giả, là học trò chân chính của Khổng Tử, của Chu Văn An… nhưng sự thực bản chất tầm thường, nhỏ mọn, háo danh, hèn nhát, một thứ "ngụy quân tử" và tôi thất vọng não nề, thẳng tay cắt đứt sợi giao tình.  Thành ra tôi càng thêm kính trọng nhà văn Doãn Quốc Sỹ, viên ngọc quý sáng trong ngời ngợi trong hàng ngũ những người trí thức cầm bút miền Nam.  Ông hành xử đúng phong cách "kẻ sĩ", luôn đứng thẳng trước uy vũ, như cây tùng trước bão, nói theo ngôn ngữ Hoàng Khởi Phong.  Sau ngày miền Nam mất về tay cộng sản, tôi lo lắng rất nhiều đến số phận anh em trong giới văn nghệ Saigon mà tôi quen biết.  Đặc biệt là hai bậc đàn anh tiết tháo không cúi đầu trước bạo lực, không khứng chịu hợp tác làm bồi bút cho Việt cộng, là Doãn Quốc Sỹ của văn giới Bắc di cư và

Bình Nguyên Lộc của giới viết văn miền Nam.  Cả hai đích thực tiêu biểu cho giai cấp sĩ phu bất khuất VNCH.  Bình Nguyên Lộc người Nam, không có tác phẩm chống cộng kịch liệt như Doãn Quốc Sỹ, viết hay không viết đã đành. Còn Doãn Quốc Sỹ, tuy vóc dáng nhỏ bé mảnh khảnh nhưng tinh thần cương mãnh, nhất quyết không chịu cong lưng, đứng hiên ngang sừng sững đối đầu với cường quyền.  Ông có thái độ điềm nhiên, trầm tĩnh, lấy đạo "thiền" của mình bước vào nơi tù tội đọa đầy với nụ cười bình thản.  Đó là hình ảnh nhu hòa mà lẫm liệt đầy khí tiết thật đáng ngưỡng phục của một nhà văn tên tuổi miền Nam.

            Bởi thế, khi cộng sản vào Saigon, chúng lập tức liệt kê Doãn Quốc Sỹ vào danh sách "những tên cầm bút phản động hàng đầu" của chế độ Ngụy cần phải thanh toán, không khoan hồng, nhân nhượng.  Bọn công an cộng sản mấy lần bỏ tù nhà văn Doãn Quốc Sỹ và nhân vụ phá hoại công viên Hồ Con Rùa ở Saigon, chúng ruồng bắt một số khuôn mặt văn nghệ nổi bật của Saigon bị kẹt lại, quy kết vào một nhóm gọi là "Bọn Biệt Kích Cầm Bút" mà Doãn Quốc Sỹ được chúng đánh giá rất cao, coi là đầu đảng, là người chủ mưu, là "tên đầu xỏ gián điệp".  Nhà văn Hoàng Hải Thủy cho biết, "Theo luật của chúng, cứ "Gián Điệp" là tên Đầu Xỏ bị tử hình.  Khi ấy chúng muốn xử tử Doãn Quốc Sỹ, làm vụ án thật nặng cho người khác sợ."

            Năm 84 tôi qua Pháp, gặp anh Trần Tam Tiệp ở Paris.  Lúc đó anh Tiệp là Chủ tịch Trung tâm Văn Bút Việt Nam lưu vong, nỗ lực vận động với Văn Bút Quốc Tế can thiệp cho các văn nghệ sĩ miền Nam bị tù đầy.  Anh vẫn không khác ngày xưa, làm ra bao nhiêu tiền cũng chi hết vào việc mua thuốc men quà tặng gửi về cho bạn bè tù tội.  Ngày xưa ở Saigon anh Tiệp viết phiếm cho một tờ nhật báo, lấy bút hiệu Đạo Cù nên anh em gọi anh bằng xước danh này.  Anh Tiệp là cựu Trung tá Không quân.  Trong Không quân nhiều người gọi đùa anh là ông "Chánh Sở Mật Thám" vì có một thời gian anh làm Chánh Sở An Ninh KQ.  Còn tôi, tôi thích gọi anh là "ông Đạo Cù" hay "Lão Ngoan Đồng" vì anh vui vẻ, hồn nhiên như đứa trẻ, thích chơi và chơi hết mình với bọn trẻ.  Ngày xưa khi tôi vừa gia nhập Không quân, vào quân trường để qua cầu huấn nhục thì anh đã là Đại úy trưởng trường Quân sự của Tiểu đoàn Khóa sinh SVSQ, Trung

tâm Huấn luyện KQ Nha Trang.  Anh vui tính, xuề xòa, có chiếc Velo-solex đã gỡ máy, phải còng lưng đạp toát sì cấu trên con đường cát lầm nhưng miệng lúc nào cũng cười toe.  Hình ảnh ông Đại úy lè phè, chịu chơi, là một hiện tượng lạ đối với chúng tôi.  Đúng ra ở cương vị ấy, anh phải hách xì xằng, phải có những món bổng lộc béo bở thế nhưng Đại úy tôi vẫn độc thân vui tính và nghèo kiết xác, có đồng lương nào là bỏ ra mua sắm quần áo, giầy đá banh cho đội túc cầu thiếu niên KQ mà anh đỡ đầu.  Di tản qua Pháp, anh làm một chân gác dan, nhưng vẫn giữ bản tính lèng phèng nghệ sĩ, bao nhiêu tiền kiếm được đều dành dụm mua thuốc Tây gửi về làm quà tiếp tế nuôi bạn bè văn nghệ nạn nhân cộng sản thoi thóp sống cầm hơi trong trại tị nạn Chí Hòa.

            Tôi qua Paris, ở nhà Chử Quân Anh, đi ăn, đi chơi, thăm bạn bè và thường về căn gác anh Tiệp ở nhờ trong nhà hai chị em một bà comtesse già trên thượng tầng một building thuộc quận 7 của kinh đô ánh sáng.  Tôi thấy anh Tiệp để trong phòng những hộp carton dùng đóng quà gửi về cho các anh em văn nghệ sĩ Saigon bị giam trong khám lớn.  Ông Đạo Cù đưa cho tôi xem một danh sách.  Tôi bần thần cả người khi nhìn thấy tên tuổi những anh em quen thuộc và ái ngại cho nhà văn Doãn Quốc Sỹ với thể lực yếu đuối như vậy, làm sao chịu đựng nổi cảnh tù đầy trong bàn tay sắt thép nhầy nhụa máu người của bọn Vi-Xi?…  Nhìn những hộp quà chất đống một góc phòng đợi anh dán nhãn đem ra bưu điện gửi cho cô Nhạn, tôi xúc động.  Cô Nhạn làm việc ở Bưu điện Trung ương, là nhịp cầu Ô Thước nhận và phân phối quà cho các tù nhân hay gia đình họ ở Saigon.  Tôi đưa cho anh một số tiền đóng góp phần mình và ngồi xệp dưới sàn gạch gói quà, dán nhãn với anh… Lúc đó tôi nghĩ nhiều đến nhà văn Doãn Quốc Sỹ, Hiếu Chân, Hoàng Hải Thủy, Dương Hùng Cường, ca sĩ Khuất Duy Trác, Trung úy KQ Trần Ngọc Tự và "chí sĩ" Minh Vồ chủ nhiệm tờ Con Ong…

            Tôi không biết cô Nhạn nhưng có cảm tình với cô, chỉ với lý do giản dị vì cô là bạn tốt hết lòng giúp đỡ những người bạn thất thế của tôi.  Sau này Việt cộng khám phá ra đường dây liên lạc giữa ông Đạo Cù và cô Nhạn, bắt cô Nhạn bỏ tù, chung vụ án gián điệp với nhóm "Biệt Kích Cầm Bút".  Ông Đạo Cù

chuyển quà cáp, tiền bạc bên này gửi về.  Cô Nhạn giúp gửi ra bên ngoài sáng tác của anh em trong nước với những bút hiệu lạ hoắc nhưng tôi đọc là biết ngay ai là tác giả bởi quen thuộc quá với văn phong của mỗi người.  Hồi đó có hai tác phẩm tuồn ra bên này, được nhà Lá Bối in và phát hành khắp nơi là cuốn "Tắm Mát Ngọn Sông Đào", nhiều người viết, trong đó tác giả dùng bút hiệu Con Trai Bà Cả Đọi mà tôi biết ngay là của Hoàng Hải Thủy không trệu vào đâu được dù anh ký bất kỳ một bút hiệu nào khác.  Còn cuốn "Đi" của Hồ Khanh, tôi đoán ra là họ Doãn và có thể quả quyết chắc chắn không ai có cái văn phong từ tốn, nhẹ nhàng, tỉ mỉ, bình thản nhưng chứa đầy bi tính, thâm trầm, sâu sắc như vậy được ngoài Doãn Quốc Sỹ. 
 
            Khi "vụ án con rùa" đổ bể, anh Trần Tam Tiệp thông báo ngay cho tôi và sau đó chúng xuất bản tập "Những Tên Biệt Kích Cầm Bút" ký tên Minh Kiên và Song Thi, hai tên đại tá công an chánh và phó Tổng biên tập viết, do gã bồi bút nằm vùng Huỳnh Bá Thành tung ra ngoài dư luận về vụ án Hồ Con Rùa.  Ông Đạo Cù photo toàn bộ gửi cho tôi.  Đầu thập niên 80, nhà văn Bình Nguyên Lộc qua đoàn tụ gia đình ở Mỹ, sống với người con trai là anh Tô Hòa Dương ở Sacramento.  Tôi gọi thăm, sau đó viết một bài về ông, bài "Bình Nguyên Lộc, Nai Hiền Đã Đến", gửi cho Đỗ Ngọc Yến và Lê Đình Điểu đăng trên Người Việt số Xuân, lúc đó tòa soạn còn ở San Diego.  Năm 95, nhà văn Doãn Quốc Sỹ cũng được thả, qua định cư theo diện bảo lãnh của con trai.  Ông từ Houston cùng ca sĩ Duy Trác lên Dallas trong dịp anh Duy Trác với cả bầu đoàn thê tử ra mắt bộ CD, dường như đĩa nhạc cuối cùng anh thực hiện trước khi giã từ sân khấu.

            Đó là lần thứ hai tôi gặp lại nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Tôi xúc động bồi hồi, thấy ông không mấy khác với lần gặp đầu tiên cách đó hơn 20 năm.  Vẫn là Doãn Quốc Sỹ tràn đầy dáng nét ung dung tự tại với giọng nói điềm đạm từ tốn, nụ cười hiền hậu và cởi mở…  Sau này tôi còn gặp ông nhiều lần nữa, trong các đám cưới, trong những buổi sinh hoạt văn hóa, những buổi họp mặt hay giới thiệu sách đó đây.  Đặc biệt năm 98, tôi đã cùng với ông có mặt trong nhóm vài anh em văn nghệ đi nói chuyện văn hóa tại các thành phố Atlanta và Seattle.  Lần đó ngoài nhà văn

Doãn Quốc Sỹ, còn có Nguyên Vũ, Văn Hồng, J. Ngọc, họa sĩ Phạm Mộng Chương, và tôi.  Chúng tôi gặp gỡ giới văn nghệ và độc giả địa phương, thuyết trình và hội thoại về các đề tài văn chương, hội họa.  Nhà văn Doãn Quốc Sỹ nói về Thiền.  Tôi nói về vai trò người lính chiến đấu và cầm bút.  Cả Atlanta và Seattle đều khá đông người đến dự, trong đó có nhà văn Huy Quang Vũ Đức Vinh, nhà thơ Phan Lạc Giang Đông, Quốc Nam, vợ chồng giáo sư Nguyễn Mạnh Quang, và nhà văn Đặng Mỹ Dung tức Yung Krall khi đó mới vừa xuất bản cuốn hồi ký viết về cuộc đời gián điệp của bà.  Đây là một thảm kịch gia đình trong bối cảnh phân chia Quốc, Cộng của Việt Nam, đối đầu chủ nghĩa trong gia đình bà.  Đặng Mỹ Dung và bà mẹ ở Saigon, kiên trì theo lý tưởng Quốc gia.  Người cha tập kết ra Bắc, làm đại sứ của Hà Nội ở Cuba và người anh lớn của Mỹ Dung là sĩ quan bộ đội Phòng không của Không quân Bắc Việt, được cho qua Nga du học.  Mỹ Dung kết hôn với một Trung tá phi công phản lực của Hải quân Hoa Kỳ và CIA đã bố trí cho bà liên lạc với cha và anh ở Paris để cho tin và lấy tin cung cấp cho chính phủ Hoa Kỳ giữa thời nồng độ chiến tranh Việt Nam đang  sôi bỏng và cuộc hòa đàm Paris đang diễn tiến.  Tác phẩm viết bằng Anh ngữ nổi tiếng và bán rất chạy, cuốn "A Thousand Tears Falling", được dịch là "Ngàn Giọt Lệ Rơi"…

            Tôi đã đi và ở bên cạnh nhà văn Doãn Quốc Sỹ cả tuần lễ, thân tình, được dịp trò truyện cùng ông về nhiều vấn đề.  Đây là lần tôi gần gũi ông nhiều nhất và biết thêm về cá tính và phong cách của ông.  Ông xuề xòa, khiêm tốn và có cái bình tĩnh đáng khâm phục khi có vấn đề phải đối phó.  Ông cũng có những cái dí dỏm gây vui không khí và cư xử nhu hòa dễ dãi trong giao tiếp với tất cả mọi người, mọi nhóm.  Tôi có cảm tưởng như chẳng bao giờ ông làm mất lòng ai và khó có ai không có cảm tình với nhà văn lão thành tên tuổi Doãn Quốc Sỹ.  Phải cùng đi với ông mới thấy văn chương Doãn Quốc Sỹ ảnh hưởng thế nào trong quần chúng.  Có rất nhiều độc giả say mê văn chương ông, đủ mọi lứa tuổi.  Có rất nhiều học trò cũ của ông nhận ra thầy, tiếp đón nồng hậu và cung kính…

            Trong những tối ngồi với ông uống tách cà phê dưới hàng hiên khách sạn thành phố Atlanta hay trong một nhà hàng ở

Seattle, hoặc trong những lần gặp gỡ sau này, ông lúc nào cũng nhỏ nhẹ khuyến khích tôi viết và in sách để xuất bản nhưng tôi chỉ cười.  Tôi không dám hứa hẹn gì với ông về chuyện viết lách vì tôi lười viết và vì thấy mình không có nhu cầu để in sách tạo tiếng tăm và nhất là không có văn tài để viết được những tác phẩm có giá trị để đời như tác phẩm của nhà văn họ Doãn.  Ông là mẫu mực để nhiều người lấy đó làm gương.  Năm nay ông 84 tuổi.  Con đường ông đã trải qua với đủ phong ba chìm nổi, chứng nhân của một giai đoạn lịch sử đau thương u ám của dân tộc mà ông đã góp phần khiêm nhượng viết những nét son óng ả vào trang văn sử Việt nam.  Doãn Quốc Sỹ đã sống tận cùng ý nghĩa cho lý tưởng của mình, cho quê hương đất nước.  Tấm lòng của ông thiết tha với quê hương đất nước thế nào được thể hiện nồng nàn tận tụy trong những tác phẩm, những bài giảng trong lớp học, những bài nói chuyện về văn hóa.  Ông viết và ông nói say sưa đến văn chương bình dân, ca dao, tục ngữ, cổ tích dân gian, những áng văn chương đẹp đẽ của dân tộc, đến Truyện Kiều, đến Nguyễn Công Trứ, đến Tú Xương, đến Dương Khuê, đến Cao Bá Quát, vv… đến đạo lý và hóa văn, tập tục, ngôn ngữ Việt, đến tất cả những điều giá trị và tinh hoa dân tộc mà chúng ta phải "gìn vàng giữ ngọc" cho mãi mãi đời sau.
            Tôi không có cái may mắn được làm môn sinh của ông như Võ Hà Anh, nhà văn, như Mùi Quý Bồng, bác sĩ; hay như nhiều bạn bè Trần Lục, Chu Văn An, Văn Khoa, Sư Phạm… nhưng tôi vẫn mang trong lòng một tình cảm đầy kính trọng như của học trò đối với thầy, của người em đối với bậc tôn huynh có văn tài, khí phách và đạo đức.  Của một người yêu quý và ngưỡng mộ một sĩ phu tiết tháo, can trường.  Tôi muốn mượn câu nói của cậu con trai chị Đặng Mỹ Dung để nói về Kẻ Sĩ họ Doãn, "Like the bamboo, you can be made to bend, but you can never be made to break..."  Đó cũng là câumang cùng ý nghĩa "Uy vũ bất năng khuất" của Đông phương nói về nhân cách người quân tử.

Đào Vũ Anh Hùng
Vài Kỷ Niệm Với Nhà Văn DOÃN QUỐC SỸ

- Đàm Quang Hưng -

Hôm 06 tháng 09 năm 2006, khi nhận được điện thoại của nhà văn Tạ Xuân Thạc, bảo tôi viết một bài ngắn về vài kỷ niệm với nhà văn Doãn Quốc Sỹ, tôi đáp rằng các văn hữu ở hải ngoại đã viết rất nhiều về anh Sỹ rồi, tôi còn biết đóng góp chi? Thế nhưng, vì anh Thạc nhấn mạnh rằng anh cần một bài viết của một nhà giáo, đồng nghiệp với anh Sỹ, nên tôi nhận lời.

Anh Doãn Quốc Sỹ hơn tôi 6 tuổi, là một nhà giáo đàn anh của tôi. Tôi được quen biết với Anh đã trên nửa thế kỷ, hay chính xác hơn, đã trên 52 năm.       

Vì có quá nhiều kỷ niệm với Anh nên tôi bối rối, chẳng biết nên  chọn những kỷ niệm nào để viết ra. Tôi đành viết theo thứ tự vài kỷ niệm đầu tiên do ký ức tôi cung cấp.

Trước hết là một kỷ niệm về việc tôi mời Anh dạy Việt văn cho các học sinh một lớp Đệ Nhị buổi tối, đang sửa soạn thi tú tài I.

Vào niên khóa 1958-1959, ngoài việc dạy toán và vật lý ở các tư thục trung học và ở trường nữ trung học công lập Trưng Vương, công việc chính của tôi là cộng tác với anh Hoàng Nhân (sau này là bác sĩ), đi thuê một số tư thục ở Sàigòn để mở các lớp tối, dạy đủ mọi môn cho học sinh trung học, theo chương trình của Bộ Quốc Gia Giáo Dục.

Niên khóa ấy, ở trường Hoàng Việt, đường Phan Đình Phùng, chúng tôi mở được một lớp Đệ Nhị A (ban vạn vật) và một lớp

Đệ Nhị B (ban toán). Anh Hoàng Nhân phụ trách phần trông coi công việc văn phòng, còn tôi đảm nhận việc đi mời giáo sư giảng dạy.

Tôi tới nhà anh Doãn Quốc Sỹ, mời Anh phụ trách giùm chúng tôi môn Việt văn lớp Đệ Nhị A. Anh nhận lời.
Sau đó, tôi tới nhà anh Lữ Hồ, một giáo sư Việt văn khác (kém tôi một tuổi), mời Anh phụ trách giùm chúng tôi lớp Đệ Nhị B. Anh Lữ Hồ hỏi chúng tôi mở được mấy lớp Đệ Nhị. Tôi đáp là mở được hai lớp. Anh Lữ Hồ hỏi tôi ai phụ trách lớp Đệ Nhị A. Tôi đáp là anh Doãn Quốc Sỹ. Có lẽ vì lý do kẹt giờ trên thời khóa biểu cá nhân của ảnh, nên anh Lữ Hồ đòi tôi để ảnh phụ trách lớp Đệ Nhị A.

Vì đã cận ngày khai giảng, nên việc đi mời các giáo sư nổi tiếng, được đa số học sinh mến mộ, rất là vất vả, tôi đành trở lại nhà anh Sỹ, nhờ Anh phụ trách giùm lớp Đệ Nhị B, thay vì lớp Đệ Nhị A. Anh Sỹ hỏi nguyên do. Tôi đáp có lẽ vì anh Lữ Hồ kẹt giờ trên thời khóa biểu cá nhân của ảnh, nên ảnh muốn hoán chuyển lớp dạy. Sau khi kiểm soát lại thời khóa biểu của mình, anh Sỹ ưng thuận. Tôi mừng quá, vội cám ơn Anh rồi ra về, tới báo tin cho anh Lữ Hồ biết.

Vào thời đó, thông thường là, sau khi đã mời một giáo sư phụ trách cho một lớp học, người tổ chức các lớp học tư rất kỵ việc xin giáo sư hoán chuyển lớp dạy, vì e làm phật ý giáo sư. Anh Sỹ là một ngoại lệ. Anh vui vẻ giúp đỡ, chẳng bao giờ làm khó dễ người mời.

Vào cuối tháng, khi nhà trường trả thù lao, đa số giáo sư đều cẩn thận, mở phong bì đếm tiền rồi hỏi rõ về giá biểu thù lao. Riêng anh Sỹ và thiểu số anh em khác thì chỉ kẹp phong bì thù lao vào giữa hai trang sách. Thế nhưng sau đó, cũng có nhiều vị tới văn phòng hỏi rõ giá biểu thù lao.

Riêng anh Sỹ lại là một ngoại lệ. Chẳng bao giờ Anh đả động chi đến giá biểu thù lao cả. Vì thế, trong giới anh em nhà giáo chúng tôi thời đó, có nhiều người đã ca tụng anh Sỹ là một nhà giáo độ lượng và khoáng đạt.

Thứ đến là một kỷ niệm về cuốn truyện dài Dòng Sông Định Mệnh của Anh. 

Vào khoảng cuối năm 1959, khi anh Doãn Quốc Sỹ cho phát hành cuốn truyện dài Dòng Sông Định Mệnh, Anh có cho tôi một bản. Hồi đó, tôi đang dạy Vật lý ở lớp Đệ Nhất B trường Trưng Vương.

Vào khoảng cuối Janvier 1960, nhân dịp Tết Canh Tí, theo thông lệ, bất cứ ở trường nào, mỗi lớp học đều tổ chức một buổi liên hoan. Ở trường Trưng Vương, các lớp học cũng không ra ngoài thông lệ ấy.  

Trong buổi tất niên, bỗng có một nữ sinh tiến tới chỗ tôi đang đứng mà hỏi:

- "Thưa Thầy, Thầy đã đọc cuốn Dòng Sông Định Mệnh của Thầy Doãn Quốc Sỹ chưa?"

Trong khoảnh khắc, tôi sững người vì chợt nhớ anh Sỹ có cho mình một bản, nhưng vì mình đam mê mạt chược, cứ dạy học về là chỉ chạy đi tìm Bà Cụ, hỏi thăm vài câu, rồi lái xe đi xoa, nên cuốn sách của Anh Sỹ cho vẫn còn nằm nguyên trên giá sách.

Thế nhưng, tôi lại trả lời cô nữ sinh:

- "Tôi đọc cuốn truyện ấy rồi! Có nhiều điểm đáng luận bàn, song hôm nay mọi người trong lớp chỉ có chút thì giờ để liên hoan, tôi nghĩ ta nên hoãn việc luận bàn về cuốn truyện ấy vào một dịp khác"
Cô nữ sinh bèn nói lời cám ơn tôi, rồi xin phép được về chỗ, ngồi nói chuyện với bạn bè.

Tối ấy, khi tìm thấy cuốn Dòng Sông Định Mệnh của anh Sỹ trên giá sách, tôi nằm đọc một mạch từ đầu đến cuối. Buông sách, nhìn đồng hồ, tôi thấy là đã 4 giờ sáng. 
Sở dĩ tôi tìm đọc cuốn Dòng Sông Định Mệnh là vì tôi e mình có thể gặp một học sinh khác cũng hỏi ý kiến về cuốn truyện, tuy

tôi thầm nghĩ chẳng bao giờ cô nữ sinh Trưng Vương hồi sáng sẽ tìm lại tôi để truy vấn về những điểm mà tôi nói là đáng luận bàn.

Thế nhưng, sự việc đã không xảy ra như tôi thầm nghĩ.
Mùa hè năm 1960, vào một sáng chủ nhật, khi tôi đang ngồi trong văn phòng điều hành của tư thục Nguyễn Công Trứ, bỗng ông tùy phái vào nói:

"Thưa Thầy, có cô ………. muốn xin vào gặp Thầy!".

Nhận ra danh tánh của cô nữ sinh trong buổi liên hoan cuối năm Kỷ Hợi (1959), tôi nói với ông tùy phái: 

"Nhờ Ông làm ơn ra mời cô ấy vào đây giùm tôì!"

Khi ông tùy phái ra khỏi văn phòng, tôi nghĩ đùa:

"Tránh khỏi phỏng vấn cũng đâu có dễ! Đúng là Dòng Sông Định Mệnh!"

Sau khi chào tôi, cô nữ sinh vào đề:

"Thưa Thầy, trong buổi tất niên vừa qua, Thầy có nói rằng trong cuốn Dòng Sông Định Mệnh của Thầy Sỹ có nhiều điểm đáng luận bàn nên hôm nay em tới đây để xin Thầy cho biết những điểm ấy là những điểm nào?"

Tôi mỉm cười, đáp:

"Xin lỗi Cô! Hôm ấy tôi phải trả lời Cô như thế là vì tôi mải xoa mạt chược, chưa có thì giờ đọc cuốn sách của Thầy Sỹ! Tuy nhiên, hôm nay thì tôi đã đọc hết rồi! Cô muốn hỏi về điểm nào?"

Cô nữ sinh đáp: 

"Thưa Thầy, về những điểm mà Thầy thấy là đáng luận bàn!".

Tôi nói: 

"Thực ra, tôi đã dùng sai chữ. Cuốn truyện Thầy Sỹ viết như thế nào thì nó là thế ấy chứ có gì để luận bàn đâu! Đúng ra, tôi muốn nói cuốn truyện lưu lại nơi mỗi độc giả một số dấu ấn riêng!"

 Cô nữ sinh nói:
 
"Nếu vậy thì Thầy có thể cho em biết cuốn Dòng Sông Định Mệnh của Thầy Sỹ đã lưu lại nơi Thầy những dấu ấn gì không?".

Tôi hỏi:

"Cô cần ý kiến của tôi về cuốn truyện của Thầy Sỹ để làm chi?".

Cô nữ sinh đáp: 

"Thưa Thầy, vì em cần biết ý kiến của nhiều độc giả khác nhau về cùng một cuốn truyện!".

Tôi nói:

"Tôi có cái yếu là đọc sách nào cũng bị sách ấy đả thương,  lưu lại nhiều dấu ấn! Nếu Cô muốn biết thì tôi xin kể một số dấu ấn mà cuốn Dòng Sông Định Mệnh đã lưu lại nơi tôi"

Rồi tôi bắt đầu kể:

"Dấu ấn đầu tiên mà cuốn Dòng Sông Định Mệnh đã lưu lại nơi tôi là Thầy Sỹ gọi tuổi 16 (đôi tám) của con người là tuổi trăng tròn. Có lẽ vì Thầy Sỹ cho rằng trăng 16 tròn hơn trăng rằm, nên khi tả chàng trai hữu tình Nguyễn Quang Thiệu, 16 tuổi, về làng ngắm trăng vào một buổi chiều 16 tháng giêng, Thầy đã viết: "Lòng Thiệu tuy triền miên mà cũng thảnh thơi vì thấy mình còn nguyên vẹn cả 12 tuần trăng 16!"

Dấu ấn thứ nhì là trong cuốn truyện, Thầy Sỹ đã mô tả rất đúng ngôn ngữ và lý luận của một đảng viên vô sản vào năm 1954: "Phải! Cả Pasteur và Koch đều phản động!...Vì tài của họ là do tư bản đế quốc nâng đỡ huấn luyện, vì họ đã đem tài đó ra để phục vụ tư bản đế quốc. Pasteur và Koch đều có tội với nhân dân!"

Dấu ấn thứ ba là trong cuốn truyện, Thầy Sỹ đã kể lại rất trung thực mấy "câu nói 4 chữ" mang nhiều ý nghĩa, của các thiếu nữ miền Bắc vào cuối thập niên 30 (1930). Thầy đã kể rằng khi chàng Thiệu trao bức thư tình đầu tiên cho nàng Yến thì nàng trả lời: "Đừng, anh Thiệu ạ!"

Mười lăm năm sau, nàng Yến góa chồng. Khi gặp lại nàng, chàng Thiệu hỏi khéo: "Đã bao giờ Yến nghĩ đến việc trả món nợ tình cảm như núi như non của tôi chăng?" thì nàng lại đáp: "Thôi! Anh Thiệu ạ!" Những "câu nói 4 chữ" ấy là những câu nói vô cùng súc tích của các nàng thiếu nữ thời xưa.

Dấu ấn thứ tư là trong cuốn truyện, Thầy Sỹ đã nhắc lại thực đúng những câu nói của một người chị hiền hòa thời xưa, khi khuyên nhủ em trai. Chị Hoa thường khuyên nhủ Thiệu bằng một điệp khúc muôn thuở: "Giời bắt tội cha mẹ mất sớm, cậu đã trưởng thành, cậu không tự tu tỉnh, chị chẳng biết làm thế nào …"

Cuốn truyện còn lưu lại nơi tôi nhiều dấu ấn khác nữa, nhưng vì bây giờ tôi phải vào lớp dạy học, nên để khi khác tôi sẽ kể tiếp…"

Cô nữ sinh đứng dậy, cám ơn tôi rồi hỏi vớt một câu:

"Thưa Thầy, xin Thầy cho biết ý kiến của Thầy về việc Thầy Sỹ đặt tên cho cuốn truyện là Dòng Sông Định Mệnh?".
 
Tôi đáp:

"Tôi nghĩ Thầy Sỹ đã cố ý đặt tên như thế, vì trong cuốn truyện, Thầy Sỹ đã cho chàng Thiệu tự nhủ, ví mình với nàng

Yến như hai dòng sông chảy song song, khi gặp khúc quành đầu thì nhập lại làm một, rồi khi gặp khúc quành sau thì lại phân làm hai, nhưng khi cả hai dòng sông đã đổ ra biển rồi thì chẳng thể nhập lại làm một được nữa! Lý do là vì đến lúc ấy thì hai dòng sông còn khúc quành nào đâu!"

Cô nữ sinh cúi đầu chào cáo biệt, còn tôi thì lại lên lớp dạy học.

ĐÀM QUANG HƯNG
Câu Chuyện Văn Nghệ

- DOÃN QUỐC SỸ -

Thương tuần tháng chín năm 2005 vừa qua, tôi có tới San José dự buổi lễ kỷ niệm 108 năm sinh của cụ Á-Nam Trần-Tuấn-Khải do hai ái nữ của cụ Trần Thị Lan Hinh và Trần Thị Ngọc Thanh – thành kính tổ chức.
Sau đây là nội dung bài diễn văn tôi đã đọc vào dịp này, gồm hai phần:

I.- Những Bài Thơ Độc Đáo Của Từng Thời Đại
II.- Từ Ai Trong Việt Ngữ  

I.- NHỮNG BÀI THƠ ĐỘC ĐÁO CỦA TỪNG THỜI ĐẠI

Lịch sử văn học Đông cũng như Tây đều có những hiện tượng như:
Hoặc một các giả nào đó có một tác phẩm nào đó đến nỗi chỉ cần nói tên tác phẩm là người ta biết ngay tác phẩm đó của tác giả nào!
Hoặc chỉ cần nói tên tác giả là người ta nhớ ngay đến một tác phẩm nào đó của vị đó.
Tỉ như chúng ta thốt nhiên ngâm câu thơ:
"Ôi ! Thời oanh liệt nay còn đâu!" 
Chúng ta nhớ ngay đó là câu thơ trong bài "Nhớ Rừng" của Thế Lữ nói về con hổ bị nhốt trong cũi sắt Sở Thú nhớ lại thuở tung hoàng trong rừng sâu của nó.

Nhớ Rừng
Thế Lữ
(Lời con Hổ ở vườn Bách thú)
 
 Tặng Nguyễn-Tường-Tam
 
Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,  
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.  
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,  
Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm,  
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,  
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.  
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,  
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.  
 
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,  
Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa.  
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,  
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,  
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,  
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,  
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,  
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.  
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,  
Là khiến cho mọi vật đều im hơi,  
Ta biết ta chúa tể muôn của loài  
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.  
 
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,  
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?  
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,  
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?  
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,  
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?  
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng.  
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,  
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?  
- Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?  
 
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,  
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,  
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:  
Hoa chăm, cỏ sén, lối phẳng cây trồng;  
Giải nước đen giả suối, chẳng thông giòng  
Len dưới nách những mô gò thấp kém;  
Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm,  
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu  
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.  
 
Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!  
Là nơi giống hầm thiêng ta ngự trị.  
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa  
Nơi ta không còn được thấy bao giờ  
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,  
Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn  
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,  
- Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!  
 [ 1936 ]


Hoặc khi nói đến nhà thơ Vũ Đình Liên, người ta nghĩ ngay đến bài thơ bất hủ "Ông Đồ" nói về cuộc đời thịnh suy của một ông đồ - đồng thời cũng là gián tiếp đề cập đến những nét thịnh suy trong cõi nhân sinh.

Vào thời cực thịnh của "Ông Đồ", mỗi dịp đón xuân sang, khách tới thuê ông viết câu đối tết quay quần chật ních xung quanh, ai nấy nức nở khen ông chữ đẹp như phượng múa rồng bay.

Thời thịnh giảm dần, người thuê viết câu đối ngày một thưa vắng dần. Rồi tới một ngày ông đồ ngồi cô đơn nơi góc phố hiu quạnh đó, chẳng ai dừng lại bên ông.
Chỉ còn:

"Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu"


Xin được chép lại toàn bài "Ông Đồ" để quý vị cùng thưởng thức:

Ông Đồ
 
Mỗi năm hoa đào nở  
Lại thấy ông đồ già  
Bày mực tàu, giấy đỏ  
Bên phố đông người quạ  
 
Bao nhiêu người thuê viết  

Tấm tắc ngợi khen tài  
Hoa tay thảo những nét  
Như phượng múa, rồng baỵ  
 
Nhưng mỗi năm, mỗi vắng  
Người thuê viết nay đâủ  
Giấy đỏ buồn không thắm  
Mực đọng trong nghiên sầụ  
 
Ông đồ vẫn ngồi đấy  
Qua đường không ai hay  
Lá vàng rơi trên giấy  
Ngoài trời mưa bụi baỵ  
 
Năm nay đào lại nở  
Không thấy ông đồ xưa  
Những người muôn năm cũ  
Hồn ở đâu bây giờ?


Vũ Đình Liên
(1937)

Trường hơp bài thơ "Tiễn Chân Anh Khoá Xuống Tàu" cũng vậy! Nói đến "Tiên Chân Anh Khoá" là người ta nhớ ngay đó là bài thơ bất hủ của cụ Á Nam.
Tiễn chân anh Khóa xuống tàu đây không phải là tiễn chân chàng ra đi du hoọ ngoại qu1ôc chuẩn bị cho những ngày vinh hoa phú quý sau đây, mà là tiễn chân chàng xuống tàu ra đi chuẩn bị cho ngày lật đổ chính quyền Pháp thuộc, giành lại độc lập cho quê cha đất tổ.  Xin quý vị thưởng ngoạn toàn bài nhu sau:
Tiễn Chân Anh Khoá Xuống Tàu
 
Anh khóa ơi ! Em tiễn chân anh xuống tận bến tàu,  
Đôi tay em đỡ cái khăn trầu, em lấy đưa anh  
Tay cầm trầu giọt lệ chạy quanh,  
Anh xơi một miếng cho bõ chút tình em nhớ thương.  
Anh khóa ơi ! Cái bước công danh ngoắt ngoéo đủ trăm đường.  
Anh đi một bước tấm gan vàng em xẻ làm hai  

Kìa người ta bè bạn vui cười,  
Đôi ta thương nhớ chỉ ngậm ngùi mà đứng bên nhau  
Anh khóa ơi ! Còi tu tu tàu sắp kéo cầu  
Đường trần em sắp sửa gánh sầu từ đâỵ  
Trông anh, em chẳng nỡ rời tay,  
Nói riêng em dặn câu này anh chớ có quên:  
Anh khóa ơi ! Người ta lắm bạc nhiều tiền,  
Anh em ta phận kém duyên hèn mới phải long đong.  
Một mình anh nay Bắc lại mai Đông,  
Lấy ai trò chuyện cho khuây lòng lúc sớm khuya !  
Anh khóa ơi ! Chữ tương tư vai gánh nặng nề,  
Giang hồ anh sớm liệu trở về kẻo nữa em mong,  
Tính toán sao cho phỉ chí tang bồng ?  
Ở nhà em cũng dốc một lòng giữ phận thuyên quyên.  
Anh khóa ơi ! Cái máy phân ly sình sịch sắp chia duyên,  
Thôi anh ngồi lại, để em bước lên trên mạn bờ,  
Gió hiu hiu ngọn nước chảy lờ đờ,  
Dưới sông con tàu chạy, trên bờ em với trông.  
Anh khóa ơi ! Anh ra đi mây nước muôn trùng,  
Em trở về vò võ phòng không một mình.  
Với trông theo tàu ngoắt khúc sông quanh,  
Sông bao nhiêu nước, giọt lệ tình em bấy nhiêụ  
 1914  

 
Thực là "lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu!" Trữ tình và nhân bản làm sao!
Kế tiếp đây xin được đề cập đến một từ ngữ ngộ nghĩnh và dễ thương làm sao, đó là từ "ai" trong Việt ngữ!

II.  TỪ  "AI " TRONG VIỆT NGỮ

Tôi còn nhớ thuở xưa, hồi còn là chú thanh niên chưa đầy hai mươi tuổi, vốn thíchích nhạc từ nhỏ, tôi đã ngẫu hứng sáng tác một bản nhạc xinh xinh, lời ca như sau:

Sương mùa thu sao trắng xoá,
Mây mùa thu xa vắng quá
Ai nhớ ai mắt say mơ màng
Rằng ai có thấu ai chăng

Khoái chí hát đi hát lại dăm ba lần tôi bỗng khám phá thấy mình khéo sử dụng từ ai một cách thật ngộ nghĩnh:
Ai nhớ ai mắt say mơ màng
Từ ai thứ nhất chỉ chính mình – ngôi thứ nhất. Từ ai thứ hai chỉ ngôi thứ hai - người mình yêu trộm nhớ thầm!
Thế là từ đó nhường như tiềm thức tôi bỗng chú ý nhiều đến từ ai! Và tôi đã gặp được một trường hợp khá ngô nghĩnh làm sao, kỳ thú làm sao của từ ai!

Câu chuyện như sau:
Thuở thế hệ tôi còn là vị thành niên - khoảng thập niên ba mươi, bốn mươi của Thế Kỷ Hai Mươi - người con dâu mới về nhà chồng lung túng, ngượng ngùng nhiều thứ lắm.
Ngày đó mới về làm dâu, cứ vào bữa ăn là thím tôi đã ngồi cạnh nồi cơm để phục vụ sới cơm cho mọi người.
Nhiều lần bà tôi giục:
- Con cùng ăn với cả nhà đi chứ!
Thím tôi đáp ngay:
- Dạ con ăn sau một chút cũng không sao!
Khi mọi người vừa ăn xong bữa, thím tôi vội thực hiện ngay công việc dọn dẹp bát đũa, rửa bát đũa, xếp gọn bát đũa đâu vào đây! Rồi lẻn về thẳng nhà - cũng ở xóm gần đấy thôi – ăn cơm với mẹ, với anh chị em. Cứ như vậy khoảng một tháng trời!

Hôm đó, vì đương là vụ mùa, chú tôi phải miệt mài cày gấp phần ruộng chuẩn bị gieo mạ cấy lúa, không về ăn cơm trưa. Tôi đã phụ một tay giúp thím cùng mang phần cơm canh ra đồng, để chú tôi lúc nghỉ ăn trưa, ăn cơm ngay trên gò cỏ gần đấy.

Thuở đó nàng dâu mới về nhà chồng đâu đã dám âu yếm xưng hô "anh anh, em em" như các cô các cậu ngày nay!
Chú tôi đương cày ruộng, biết là thím tôi đã mang cơm tới, nhưng vờ như không biết, cứ cắm cúi tiếp tục cày để xem thím tôi ứng xử ra sao!

E lệ kín đáo theo dõi, khi thím thấy chú cày gần đến khoảng gò có mình đứng, thím ỏn ẻn lên tiếng vừa đủ cho chú tôi nghe:

Này ai ơi lên sơi cơm!

Chắc là chú tôi có kín đáo mỉm cười rồi mới cất tiếng:

Ai mời ai lên sơi cơm đấy?

Tôi thoáng thấy thím tôi nguýt yêu một cái rồi mới đáp - vẫn bằng giọng ỏn ẻn dễ thương:

Ai mời ai lên sơi cơm chứ còn mời ai nữa?!

Tôi hốt nhiên thấy được hềt nét ngộ nghĩnh kỳ thú của từ ai trong tiếng Việt.
Sau đó, suốt thời gian dậy ở Đại học Sư Phạm Saigon, Đại học Văn Khoa Saigon, Đại học Vạn Hạnh, tôi đã kể giai thoại về từ "ai" và chỉ rõ cho giới trẻ sinh viên thấy nét nghộ nghĩnh kỳ thú của từ ai trong trường hợp trên.
Ai mời ai lên sơi cơm chứ còn mời ai nữa!
Cùng một từ ai mà lần lượt chỉ cả ba ngôi. Từ ai thứ nhất chỉ chính mình – ngôi thứ nhất! Từ ai nhứ hai chỉ người mình đương nói với - tức ngôi thứ hai! Từ ai thứ ba chỉ ngôi thứ ba - một người nào đó!
Ai mời ai lên sơi cơm chứ còn mời ai nữa!
Quả thực tôi vẫn luôn cảnh giác giữ cho lòng hết sức bình thản, nhũn nhặn, nhưng mặc dù đã cố hết công tìm kiếm, tôi vẫn chưa tìm ra được một ngoại ngữ nào có được trường hợp một từ ngộ nghĩnh dễ thương như từ ai trong Việt ngữ!

DOÃN QUÔC SỸ
Trái Tim Kẻ Sĩ

- Phạm Quang Ngọc -

Ông là một nhà văn tôi ngưỡng mộ dưới bảng hiệu Sáng Tạo trong thập niên 50 xa lắc, xa lơ, có đến hơn năm mươi năm rồi còn gì.

Thời đó, làn sóng di cư ồ ạt tạm yên trong các khu dinh điền trù phú của miền Nam mưa nắng hai mùa. Nhưng tại thành phố Sài Gòn, cuộc sống được pha trộn giữa hai miền Nam Bắc, nhất là phương diện văn học, khiến Sáng Tạo được coi như một tạp chí sáng giá thời bấy giờ. Có lẽ đây là thời kỳ "trăm hoa đua nở" nhất từ trước đến nay.

Về Văn, ngoài Mai Thảo, Lý Hoàng Phong, Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ... có lẽ không một tên tuổi nào cục cựa nổi để chen chân vào nhóm này

Các bộ môn khác như Thơ-Họa, Sáng Tạo vẫn luôn luôn ăn trùm, chơi trội với những tên tuổi như: Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa... (Thơ), Thái Tuấn, Ngọc Dũng... (Họa)

Với riêng Doãn Quốc Sỹ đã là một cây bút sáng chói khi tôi còn mài đũng quần ở bậc Trung học. Nhưng vì chỉ "văn kỳ thanh" nên các màn "bất kiến kỳ hình" đối với tôi còn dai dẳng kể kể từ sau cơn đại nạn 75, mơ ước được bắt tay, chuyện trò dăm câu với ông chắc đến bạc đầu.... cũng không còn dịp may nào đến với mình nữa. Bởi tôi sống đời lính thích rày đây mai đó, màn Văn Nghệ ở thị thành ít khi có mặt tôi tham dự. Ở hải ngoại, tôi nghe tin ông ở tù dài dài, hết ra lại vào... vì bản tính cương trực, bất khuất của ông. Nó như chất sắt thấm trong những ngón tay của ông lan ra ngòi viết. Tôi cho đó là trái tim của kẻ sĩ không bao giờ biết tháo lui, run sợ trước bạo lực của kẻ cầm quyền.

Một dẫn chứng cụ thể về về sự trân trọng cố hữu của ông đối với độc giả. Theo báo Cộng Sản xuất bản tại Hà Nội năm 1986, khi công an tới khám nhà và bắt ông lần thứ hai vì tội "viết văn chống phá cách mạng", chúng tịch thu toàn bộ bản thảo của ông mới viết sau này. Nhưng vì ông cất dấu những đứa con tinh thần ở từng góc xó xỉnh trong nhà, nên tụi cớm không tịch thu được trọn bộ bản thảo như ý chúng muốn.

Ông đủng đỉnh trả lời: "tôi vẫn viết văn mà!" Sau đó, gom toàn bộ tác phẩm cho lũ "chó vàng" đem về dâng công cho chủ.

Đối với quý độc giả "ở Sở Công An" ông còn trân trọng như vậy nói chi đến những tác phẩm ông viết gửi đến tay người đọc!

Ở đó, người ta đánh giá hầu hết các tác phẩm của ông là những viên ngọc long lanh tuyệt đẹp. Nó được chuyền từ tay người này đến tay người khác, nhưng vẫn giữ được nguyên chất ngọc chẳng hề bị rũa mài

Nhờ mối duyên văn nghệ tôi đã được hân hạnh gặp nhà văn Doãn Quốc Sỹ bằng xương bằng thịt vào tối thứ Sáu ở đầu tuần lễ của tháng Chín hơn mười năm qua. Trong không khí của một nhà hàng dồn dập giòng âm thanh xô bồ, tôi đã nhìn ông như một đàn anh mẫu mực. Cái duyên này một phần là do hai anh Phan Lạc Phúc và Nhất Giang của nhật báo Chiêu Dương đã đứng ra tổ chức buổi gặp mặt đầu tiên của nhà văn này với báo giới Úc Châu nói chung, và một số khuôn mặt  văn nghệ điển hình nói riêng.

Qua sự giới thiệu thân tình của anh Phan Lạc Phúc, tôi bắt tay với một niềm kính cẩn vô biên, sau khi cúi mình hỏi thăm chị Sỹ. Một điều rất thú vị nữa là bà đầm của tôi cũng là học trò cũ của ông dưới mái trường Đại Học Sư Phạm năm nào.

Không khí vì thế trở thành thân mật, ấm cúng hơn. Tôi đảo mắt nhìn quanh những khuôn mặt đáng kính cẩn của những bậc trưởng thượng như cố nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm, nhà thơ Trần Thiện Hiếu... Những khuôn mặt báo chí, truyền hình bắt mắt hiện nay: anh chị Nguyễn Đình Khánh, bộ tam xên Phát-Sơn- Kiệt (Việt Luận), Gia Du và Lưu Dân (Dân Việt), Hữu Nguyên (SaigonTimes), Vi Túy (Việt Nam Thời Nay), con gái và con rể nhà văn....

Tuy ngồi ở góc phía dưới bàn đối diện với những nhà báo, tôi vẫn cố vểnh tai như nghe để học hỏi, như thấy để uốn mình theo vẻ từ tốn, giản dị của một tên tuổi đã đi vào văn học sử nước nhà

Không rào trước đón sau dông dài, sau lời giới thiệu rất văn chương, bay bướm của anh Phan Lạc Phúc (tức ký giả Lô Răng, tay viết phiếm trụ cột của nhật báo Tiền Tuyến trước năm 75), nhà văn sau khi để cặp kiếng cận xuống bàn, đang nheo mắt như nuốt từng chữ, gợi lại đầy hồn bài thơ, theo ông, nhà văn mà làm thơ mơi là đều đặc biệt, để đọc cho cử tọa nghe.

Bài thơ rất sâu sắc, cảm động. Rất tiếc trí nhớ tối mù của tôi lúc này không ghi ra nổi một câu để để riêng tặng bạn đọc vốn đã ái mộ văn ông, chắc không thể nào không thích bài thơ này.

Tôi định bụng sẽ xin ông bài thơ để giới thiệu với độc giả Dân Việt trên những báo tới.

Doãn Quốc Sỹ, theo thiển ý của tôi, luôn luôn là một nhà văn đầy liêm sỉ và khí tiết của mọi thời đại. Tôi không nói quá điều này, và bốc nhằng một tên tuổi đã như một giá trị đích thực qua những tác phẩm ông viết dâng cho đời. Nó chứa đầy tính nhân bản, dịu dàng và đầy lượng bao dung.

Ông không những là một nhà văn được ái mộ qua bao năm tháng "vật đổi sao dời", mà còn là một nhà mô phạm với bằng Tiến sĩ Giáo Dục qua các hoạt động ở lãnh vực học đường.

Một điểm đặc biệt xin nêu ra ở đây. Ông còn là một nhà nghiên cứu, trước tác về Thiền học. Vì đi sâu vào lãnh vực này nên ông nhìn đời nhẹ tênh để khoác áo thiền sư ẩn cư cuối đời.

Tôi còn biết thêm, nhạc gia của nhà văn là nhà thơ trào phúng nổi tiếng thời tiền chiến: Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu. Chưa hết, bào đệ của ông là đại tá quân nhạc (miền Bắc) Doãn Nho, một tên tuổi được chế độ miền Bắc kính nể và trong vọng. Nay cũng bị Đảng cho về hưu non, ngồi chơi xơi nước.

Đó là hai điểm tựa "nặng ký" sau 75. Tuy bị giam thân ở trại khổ sai Gia Trung, ông luôn luôn tỏ ra là một người tù bất khuất, không cần dựa hơi "cách mạng" trước bạo lực. Nhưng ngược lai ông rất điềm đạm, từ tốn, sẵn sàng hòa mình với các bạn tù đồng cảnh ngộ.

Tôi không tin ở đời có những gương sáng như vì sao Bắc Đẩu. Tôi thấy hiếm hoi trái tim kẻ sĩ ở thời đại này. Nhưng chính ông là trái tim hiếm hoi đó.

Như vậy cũng đủ để chúng ta yêu mến Doãn Quốc Sỹ. Đúng như lời anh Phan Lạc Phúc mở đầu trong đêm gặp gỡ nhà văn" Anh đã Gìn Vàng Giữ Ngọc văn hóa Việt Nam. Và bây giờ anh đang tiếp tục đi trên con đường đó..."

Phạm Quang Ngọc
Tản Mạn về Ngụ Ngôn
   
- Tạ Xuân Thạc -

Một hôm đi trên xe, nhà văn Doãn Quốc Sỹ ngồi bên cạnh, và người lái xe là tôi. Để cho đường xa hoá gần, tôi xoay qua câu chuyện văn học để hỏi:

- Anh viết rất nhiều tác phẩm, phần lớn đều dùng tên thật   Doãn Quốc Sỹ, thế mà riêng tác phẩm ĐI anh lại dùng bút hiệu Hồ Khanh, như vậy là nghĩa gì?

- Hồi còn ở trong nước, tôi viết tác phẩm ĐI gửi ra bên ngoài,  muốn kín đáo nên phải lấy bút hiệu Hồ Khanh. Anh thấy Hồ Khanh thì nghe rất bình thường nhưng lại rất "tếu",  nếu nói ngược lại thì nó là hành khô. Những bài viết có chút hài hước tôi đều lấy bút hiệu ấy, củ hành khô là hồ khanh.

Tôi cười:

- À, bây giờ tôi mới hiểu rõ bút hiệu Hồ Khanh là thế đấy.

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ cười tươi và nói tiếp:

- Nhưng mà những tác phẩm không mang tính chất khôi hài thì tôi lại lấy tên thật.             

Chợt nhớ ra một trong những bút hiệu của tôi là Vi Huyền Hương mà nhiều lần tôi dùng nó khi tham gia vào việc viết bài cho các tuần báo Tiếng Vang, Đường sống, và các nhật báo Tiếng Chuông, Xây Dựng, mà nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã nghe tôi kể lại, ngay lúc đó anh quên chưa kịp hỏi lại tôi do duyên cớ nào mà có bút hiệu Vi Huyền Hương, và ý nghĩa của nó ra sao, nên anh Sỹ hỏi tôi:

- Còn bút hiệu Vi Huyền Hương của anh?

Tôi cười, rồi trả lời:

- Hồi còn trẻ, mười chín đôi mươi, có một hôm tới toà soạn nhật báo Tiếng Chuông ở đường Gia Long của ông Đinh Văn Khai để nộp bài, bước chân vào cửa toà soạn tôi đã chợt thấy một cô bé khoảng mười bảy, mười tám rất xinh đẹp, ông Khai gọi cô bé đến sai bảo việc gì đó … Tôi nhìn cô bé thấy dáng đi dịu dàng, nói năng nhỏ nhẹ duyên dáng. Ông Khai hình như hiểu ý tôi nên nói: " Nó tên Hương, cháu kêu tôi là bác ruột" rồi ông mỉm cười nhìn phản ứng của tôi. Tôi không nói gì, nhưng khi nhìn thấy bài viết của tôi vừa nộp, vẫn còn trên tay ông, tôi lấy lại  gạch bút hiệu cũ và đề bút hiệu mới Vi Huyền Hương. Kể từ ngày đó tôi lại có thêm một bút hiệu mới.

- Vậy, bút hiệu mới này có ý nghĩa gì?
- Dạ, thưa anh, vi thêm dấu huyền thì là vì.

- Vì người đẹp tên Hương phải không?

- Phải, đúng như thế đấy thưa anh,. lúc đó tôi cứ cho là vì cô bé Hương đẹp mà tôi có bài viết này mặc dù tôi đã viết bài văn đó trước khi gặp Hương. Giải thích như vậy chắc cũng làm ông Khai phải ngỡ ngàng mà lắc đầu, chán cho một chàng trai đa tình, ngớ ngẩn!
Tôi cho xe chạy chậm lại đôi chút, cụ Sỹ nói tiếp:

- Tôi cứ tưởng anh viết kịch bản theo gương cụ Vi Huyền Đắc mới lấy bút hiệu Vi Huyền Hương chứ, ai ngờ anh vì lại vì cô bé đẹp tên Hương.

Cụ Sỹ hỏi tiếp:

- Có phải Hương là chị nhà bây giờ?

- Không đâu anh ơi, sau khi thoáng gặp qua Hương lúc đó, rồi nàng biệt tăm, có lẽ sau đó nàng  mắc cở không muốn gặp hoặc đọc bài văn của tôi nàng chê cũng không biết chừng!

Qua câu nói đùa cụ Sỹ cười, tôi tiếp tục câu chuyện:

- Nói về kịch bản hình như anh cũng sáng tác về thể loại này?

- Có chứ, còn nhớ lúc còn trẻ tôi cũng viết kịch như các kịch bản:  Trái Cây Đau Khổ, Tiếng Hú Tâm Linh v.v.

- Thế bản sắc kịch của anh cũng chịu ảnh hưởng bởi cụ Vi Huyền Đắc?

- Cụ Vi Huyền Đắc là một kịch tác gia lão thành, cụ hơn tôi đến một thế hệ. Nét tổng quát của sự phát triển tâm linh như cụ nhận xét là đúng. Tuy nhiên đó là sự kiện tổng thể, ta không nên quên còn có sự ngoại lệ, như thần đồng Mozart chẳng hạn.

Hôm nay chúng tôi tới đài TNT (Tiếng Nước Tôi), hội thoại chuyện trò với thính giả về buổi ra mắt sách Đồng Tâm. Vừa bước vào cửa đã gặp anh Hoàng Bách giám đốc của đài, dường như anh đã có ý trông chờ vì sợ trễ giờ, coi lại đồng hồ thì vừa sát nút, Hoàng Bách chào bắt tay chúng tôi rồi hướng dẫn lên lầu hai là phòng vi âm. Ngồi sẵn trên đó có hai thành viên Đồng Tâm là Monique Bạch Hạc và Mimi Nguyễn.

Câu chuyện của chúng tôi về văn học tạm gián đoạn, hẹn để khi buổi hội thoại xong, trên đường trở về sẽ nối tiếp . . .

oOo

Như anh em chúng tôi đã định rằng trên đường trở về nhà, sẽ lại tiếp tục câu chuyện còn dang dở . . . 
Tôi đề cập đến các tác phẩm mà nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã viết trước đây, tôi cũng đắn đo vì ngại niên kỷ của cụ Sỹ đã  cao, nếu hỏi nhiều liệu người còn nhớ hay đã quên . . .

Nhưng tôi đã nghĩ lầm vì vừa nhắc,  cụ đã kể ra một loạt những tác phẩm đã viết, làm tôi hết sức ngạc nhiên. Cụ nói:

- Chỉ kể sơ thôi vì có thể tôi không nhớ hết những tác phẩm của tôi: Sợ Lửa - U Hoài -  Dòng Sông Định Mệnh - Hồ Thùy Dương 

- Gìn Vàng Giữ Ngọc - Trái  Cây Đau Khổ - Khu Rừng Lau (Bộ trường thiên tiểu thuyết này gồm 4  quyển là: Ba Sinh Hương Lửa, Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, Tình Yêu Thánh Hoá) -  Đàm Thoại Độc Thoại - Cò Đùm - Vào Thiền -  Người Việt Đáng Yêu - Và các sách giáo khoa Khảo Luận về Nguyễn Công Trứ v.v.

Tôi thấy cụ kể một dọc như thế mà cảm phục, ngoại bát tuần mà còn minh mẫn. Đổi đề tài khác, tôi hỏi cụ:

- Tôi biết anh còn viết nhiều thể loại, truyện dài, truyện ngắn, truyện cho thiếu nhi nữa thì phải?

- Đúng, vì là nhà giáo nên chú trọng đến các mầm non là thế hệ trẻ, tôi đã có viết một loạt sách cho giới thiếu nhi : Loại thứ nhất về: Ca Dao Nhi Đồng. Loại thứ hai về: Ngụ Ngôn.    Loại thứ ba về: Thần thoại  Ấn Độ. Loai thứ tư về: Thần thoại Việt Nam và Trung Hoa. Loại thứ năm về: Thần thoại Nhật Bản, Thần thoại Châu Đại Dương – Hy Lạp – và Bắc Âu.

Nghe cụ nhắc mục về ngụ ngôn,  tôi mừng hỏi tiếp:

- Anh sưu tập về ngụ ngôn, tôi thích lắm vậy anh có thể kể một số ngụ ngôn để cùng nghe cho vui trên đường về được không, vì đường  cũng hãy còn xa!

- Được chứ,  càng vui nhưng  có thể phần quên phần nhớ vì lâu quá rồi tôi chưa đọc lại.
Tôi khen cụ rằng:
- Trí nhớ của anh thật tuyệt vời, bằng cớ là có nhiều lần anh lên diễn đàn đã thao thao bất tuyệt mà không hề soạn bài trước, cho nên tôi tin rằng anh sẽ nhớ nhiều về những câu chuyện ngụ ngôn anh sắp kể.

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ nói rằng nếu nói về ngụ ngôn thi trước hết là nguồn gốc thể  ngụ ngôn Đông và Tây, thứ đến là vấn đề chính danh và sau cùng là tác dung của thể ngụ ngôn. Bởi vậy khi ta nói về thơ ngụ ngôn ta thường nghĩ ngay đến Esope, La Fontaine của Tây phương và thâm tâm thường như có khuynh hướng chấp nhận ngay thủy tổ thể thơ ngụ ngôn là Esope. Song le trước khi sang vấn đề chính danh, nếu ta quan niệm ngụ-ngôn theo nghĩa

thật rộng, thi bài ngụ ngôn cổ nhất còn truyền lại tới ngày nay lại là của Trung-hoa. Vậy cho hợp lý chúng ta phải nói về ngụ ngôn Đông phương đã, sau đó hãy xét sang Tây-phương.

Vậy thì chúng ta tuần tự xét từ Trung-Hoa qua Ấn-Độ rồi nước Việt nhà.
Tôi  ngắt lời, và hỏi:
-Nếu tuần tự như thế thi chắc tôi lái xe đưa anh về đến nhà anh cũng không nói hết câu chuyện ngụ ngôn!
-Đúng thế, nhưng tôi chỉ tóm gọn thôi, còn nếu muốn bàn rộng thì hôm nào chúng ta qua nhà nhau, ngồi tâm tình thì mới hết câu chuyện được.
-Vậy ta coi câu chuyện này là chuyện cho quên đường dài anh nhé, được đến đâu hay đó.
-Phải, anh nói rất phải, nói về văn học thì nó tràng giang đại hải, mênh mông vô bờ bến. Vả lại anh đang lái xe, tôi kể anh lại chăm chú nghe, lỡ sơ ý tai nạn xẩy ra thì khốn!
- Tôi biểu đồng tình với anh, con người anh thật đúng là mẫu mực anh Sỹ ạ. Cám ơn sự nhắc nhở của anh.
Vừa nói tôi vừa sang  "len" (laine) phía trong cùng của xa lộ mỗi bên 6 len, rồi cho xe chậm lại để nghe nhà văn Doãn Quốc Sỹ kể ngụ ngôn:

-Trước hết xét về ngụ ngôn Trung-Hoa Theo Nguyễn Trọng Thuật trong một bài báo đăng trong Nam-Phong tạp chí của ông thì lối văn ngụ ngôn trong văn học sử thế giới có lẽ là có sớm nhất ở Trung Quốc, đó là bài thơ "Quạ Kia" của Ông Châu-công trước Tây lịch ước hơn một ngàn năm.

Nguyên vua Vũ-Vương là anh ông Châu-Công đánh bại vua Trụ lấy được thiên hạ của nhà Thương, rồi thương tình phong cho con của vua Trụ là Vũ-Canh ở một xứ nhỏ và cho hai em là Quản-Thúc và Sái-Thúc đến giám đốc. Ít lâu sau Vũ-vương chết, con là Thành-vương còn nhỏ lên nối ngôi, Châu-Công làm Thủ-tướng. (Chính ông là người đã thay mặt Trung-quốc tiếp đãi lần đầu sứ thần nước ta). Thấy Vũ Vương mất rồi, Quản-thúc với Sái-thúc bèn mượn tiếng Vũ-Canh dấy lên làm phản, phao ngôn đi rằng : "Châu-Công muốn lợi dụng thằng bé con". Châu-Công phải đi đánh giết được Quản-Thúc và Vũ-Canh mà xem ý Thành-vương cũng còn chưa tin bụng mình mới làm ra bài thơ "Quạ Kia" đưa về cho Thành-vương để tỏ lòng ưu quân ái quốc của mình, mượn lời con chim mẹ bảo con quạ "Mày đã bắt mất con tao, mày đừng phá nhà tao nữa". Chim mẹ ví vào Ông, con quạ ví Vũ-Canh, chim con bị giết ví Quản Thúc, tổ chim ví quốc gia nhà Châu.
Bản dịch toàn bài "Quạ Kia"(bản dịch cũng của Nguyễn Trọng Thuật) như sau:

Quạ kia đã bắt con ta,
Thôi đừng phá hủy cửa nhà ta chi.
Biết bao bú mớm bù trì,
Thương con ai cũng lòng kia khác nào.

Hôm nay trời chửa mưa dầm
Bẻ cành dâu để ta khuân về nhà
Khuân về chằng buộc nhà ta,
Dưới kia ai dám lân-la nhòm hành.

Ta đi tha rác mọi nơi,
Ta đi tìm kiếm lấy mồi chắt-chiu,
Chân nam đá với chân chiêu,
Miệng khô vì nỗi dùm kiu cửa nhà,

Ta kêu réo rắt gần xa,
Đuôi ta cụp lại cánh ta xập xòe.
Vì chưng gió lật mưa đè,
Cửa nhà lay chuyển chỉn e rã rời.


 Cụ Sỹ ngừng lại, thấy cụ không nói tiếp, tôi hỏi: Xuống đến đời Đông Châu, nghĩa là từ Xuân Thu đến Chiến-Quốc, hơn bốn trăm năm thời cục xoay dần ra cái thế liệt quốc cạnh tranh, học thuật tự-do, tư tưởng tự do, ngôn luận tự do, nhân đó triết học, văn học phát triển mạnh, các phái học giả đua nhau nào lập thuyết, nào du thuyết để răn khuyên người đời, do đó lối văn ngụ ngôn càng phồn thịnh dữ, mà Trang tử và Mạnh tử là hai kiện tướng lừng danh về loại văn này. Đó là ngụ ngôn Trung Hoa, nhưng từ đời Tần trở về sau lối văn ngụ ngôn có phần sút kém.
- Anh mệt rồi hả, sao không kể tiếp nữa đi.

- Không, đâu có mệt – nhà văn Doãn Quốc Sỹ trả lời – tôi đang suy nghĩ và kể tiếp cho anh nghe về ngụ-ngôn Ấn-Độ:

Trong kinh-sách Phật-giáo vẫn theo lời Nguyễn Trọng Thuật  thì những bài dụ (ngụ-ngôn) là để dễ bề cảm hóa đám chúng sinh bình dân, trình độ trí thức kém. Song những bài dụ đó thiên về tư tưởng xuất thế, khác hẳn với tư tưởng gần nhân sinh xã-hội của loại ngụ ngôn khác. Tỷ như câu chuyện dụ-ngôn về người đời :

"Có một người bị bốn con cuồng tượng đuổi chạy đến cái hố sâu vô để, miệng hố có cái dây leo thòng xuống. Người ấy bám dây lần xuống, đến nửa chừng, trông xuống thì thấy những giống độc ác, trông lên thì thấy có hai con chuột đến gặm cái dây." Người ấy chỉ về người đời, bốn con cuồng tượng ví bốn cái nghiệp nó khu bách người ta, cái dây ví với đời người; hai con chuột gặm ví ngày tháng mòn mỏi, dưới hố ví nơi sa đọa. Nghĩ đến đời người như thế còn có thú gì mà không tu hành giải thoát

Thật ra không phải chỉ về sau trong kinh sách nhà Phật mới có những dụ ngôn (như tập Jataka kể lại những chuyện tự hằng hà sa số kiếp tái sinh của Đức Phật), mà ngay sinh thời đức Thích-ca, Ngài cũng vẫn thường dẫn những chuyện về muông thú cỏ cây để các tín đồ dễ hiểu những lời thuyết giáo của Ngài.

Nhưng có lẽ nguồn gốc ngụ ngôn cổ nhất của Ấn-độ phải kể tới thập cổ thư viết bằng chữ Phạn Panchatantra (Ngũ Thư). Những truyện ngụ ngôn trong tập cổ thư này thường rất dài, mắc míu đan dệt truyện nọ vào với truyện kia như kiểu những truyện trong "Ngàn Một Đêm Lẻ". Còn nội dung cũng mang đậm màu sắc một lời khuyên hiền triết hơn là cái nhìn dí dỏm về nhân sinh.

Cũng những ngụ ngôn trong Panchatantra, bản dịch sang tiếng Ả-rập mang nhan đề là : "Ngụ ngôn của Pidpai". Chính Pidpai được coi như ông tổ của thể ngụ ngôn Ấn-độ, nhưng tiểu sử của ông rất mờ mịt, chẳng biết ông sống vào thời nào và ở nơi nào tại Ấn-độ. Người ta chỉ biết ông là một nhà tu hành và đã từng làm
phò tá vua Dabchélim (?)

Tôi được nghe cụ Sỹ kể về ngụ ngôn Trung hoa, rồi ngụ ngôn Ấn Độ,  nhưng tôi lại thích nghe ngụ ngôn của Việt Nam,  nóng ruột nên nói với cụ:
- Thôi trở về ngụ ngôn  Việt Nam đi anh!

- Được, chúng ta trở về với ngụ-ngôn Việt Nam nhe:
Tôi xin dẫn chứng rằng cũng vẫn cùng một bài báo đăng trên Nam-phong tạp chí kể trên, ông Nguyễn Trọng Thuật đã có công nghiên cứu khá đầy đủ về thể ngụ ngôn của nước Việt nhà.

Văn ngụ ngôn Việt-Nam ta có đủ hai thể văn vần và văn xuôi và hai thứ chữ Hán ngữ và Việt ngữ. Thể văn này xem chừng như có từ đời Trần Mạt mà thịnh hành ở thời văn học thịnh đạt của nhà Hậu-Lê.

Nếu kể về Hán ngữ : thì những chuyện bằng Hán ngữ đề là tản văn cả, như truyện "Con Long với con Hổ" tả hai con thi sức khoe tài rồi đối đáp với nhau, thúc kết thì bên con Long là nhân, mà bỉ con Hổ là bạo (khuyết danh).Truyện "Cóc Đi Thi" của Lê quý Đôn, tương truyền tác giả định bỉ một ông quan nào đó trong triều mà làm ra. Truyện hài hước đại ý nói cóc theo loài thủy tộc lên cửa Long-môn thi, Long-vương thấy lạ hỏi : "Cái quái vật gì mà bụng to da kệch thế này?" Rồi đạp cổ cóc xuống.

Ba truyện sau đây đều khuyết danh như truyện "Con Long Với Con Hổ" trên.  Rồi đến "Truyện Con Gà, Con Mèo và Con Chó" ý là cho văn cũng không kém gì vũ nên nói : Mèo kể công bắt chuột thì chó kể công giữ trộm, gà kể công dậy sớm đánh thức con nhà chủ để dùi mài kinh sử cho thành tài.

"Truyện Súc-Vật Hội-Nghị" có ý trừng giới kẻ lười, lược rằng : Trâu hội cả gà, chó, mèo và lợn lại mà bảo : "Anh gà kia thức thời thì cho chiêm nghiệm thời tiết; chú chó kia mạnh bạo thì cho giữ nhà; chú mèo nọ tài bắt chuột thì cho giữ thóc; còn tên lợn này ăn no ngủ kỹ thì chờ cho béo tốt rồi ăn thịt." Lợn kháng nghị không chịu. Trâu rằng : "Biết sớm muộn, mi không bằng gà; giữ kho, không bằng mèo; coi trộm, không bằng chó, lại ăn hại như thế không mổ để làm gì?" Lợn hỏi lại : "Thế còn ông thì sao?" Trâu nói : "Ta hết sức cầy ruộng để nuôi chúng bay!"

Còn "Truyện Con Ve và Con Ruồi Tranh Luận" thì cực tả con ve là bậc thanh cao mà con ruồi là kẻ tham ô.

Nếu kể về Việt ngữ: Thì ta hãy nhìn vào một số bài ca dao có dáng dấp ngụ-ngôn :

"Con gà cục tác "lá chanh"
Con lợn ủn ỉn "mua hành cho tôi."
Con chó khóc đứng khóc ngồi,
"Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng."
Lá chanh thường để ăn với thịt gà luộc, hành thì chuyên để sào nấu với thịt lợn và riềng để nấu với thịt chó. Thì ra đời chỉ toàn đòi lấy cái chết.
"Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà?
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo".
Thì ra kẻ hèn thì cúc cung mong được phụng sự kẻ mạnh mà kẻ mạnh vẫn rình bắt chứ có tha đâu.
"Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi, ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông sẽ sáo măng.
Có sáo thì sáo nước trong
Đừng sáo nước đục đau lòng cò con".

Ý tả cái lòng không dám quên ai tế độ; nhưng giả sử vào trường hợp bị ngờ mà phải chết, thì cũng xin cho chết một cách trong sạch để khỏi đau lòng.

Tôi ngắt lời, nói một câu huề vốn:
- Ngụ ngôn Việt Nam hay thật, đôi khi lại là bài ca dao cũng là khuyên nhủ người đời.
- Đúng đấy, Việt Nam ta hay là ở điểm đó.Còn một bài nữa tôi kể anh nghe,  nói về vợ chồng chim chích nhưng ngụ tả tình trạng gia đình kẻ bình dân. Bài này dài lắm, nên chỉ kể sơ lược thôi nhe:
"Vợ chồng chim chích nở được bốn con. Chồng dặn vợ ở nhà nuôi con, chồng đi kiếm mồi. Sau vợ thương chồng vất vả đòi đi kiếm thay, không ngờ lạ thung lạ thổ, suốt ngày không được gì. Tới lúc trời nhá nhem tối, thấy trong cái hoa sen con nhện bèn nhẩy vào. Không may hoa sen cụp lại bị giam cả đêm, mãi đến sớm hôm sau mới về. Chồng ngờ là say đắm hoa nguyệt, vợ chim chích phải giãi bày rằng:

"Tôi mà phụ dãy chồng con
Thì xin lên đỉnh núi non tôi thề"


Ông Hoa Bằng Hoàng-Thúc-Trâm trong một bài đăng trên tạp chí Tri-tân cũng coi ca dao là tị-tổ của lối văn ngụ ngôn, ngoài hai bài "Con gà cục tác lá chanh" và "Con Mèo mày trèo cây cau", ông còn dẫn chứng một bài khác :
"Con cò chết rũ trên cây
Cò con mở sách xem ngày làm ma.
Cà cuống uống rượu la-đà
Chim ri ríu-rít bò ra chia phần.


Ý tả cái phong tục hủ lậu nơi dân gian. Ở đây tác giả vô danh của ngụ-ngôn Việt-Nam chỉ dùng ngòi bút tả chân khiến độc giả phải tự kết luận lấy.

Cũng gần với ý coi ca dao có liên hệ mật thiết tới nguồn gốc ngụ ngôn, Nguyễn văn Ngọc, trước ông Hoàng Thúc Trâm đã viết trong bài tựa cuốn Đông-Tây Ngụ-ngôn (1927) như sau : "Người ta có thể nói được rằng gốc tích ngụ ngôn bắt đầu có từ khi cái trí con người biết mượn lời bóng bẩy để diễn tư tưởng của mình. Ngụ ngôn cổ không kém gì những câu tục ngữ, ca dao rất cổ. Tục ngữ, ca dao có biết bao nhiêu câu thực đã như những lời kết luận của các bài ngụ ngôn lấy ra còn dư lại:
Và Nguyễn văn Ngọc cũng đã đem ca dao ra minh chứng, thí dụ:

"Quạ mà đã biết quạ đen,
Có đâu quạ dám mon men tới cò".
Hay là :
"Mèo tha miếng thịt thì đòi,
Kễnh vồ con lợn, mắt coi chừng chừng".
Lắm khi không cần phải diễn giải, toàn thể bài ngụ ngôn như tự sẵn có, không di dịch được một chữ nào :
"Con trai mày há miệng ra,
Cái cò nó mổ, muốn tha thịt mày.
Cái cò mày mổ cái trai,
Cái trai quặp lại, muốn nhai thịt cò".
Và mấy câu ca dao sau này Nguyễn văn Ngọc cũng coi là một thể ngụ ngôn :
"Cái bống đi chợ cầu Canh,
Cái tôm đi trước, củ hành đi sau.
Con cua lệch thệch theo hầu
Cái chày rớt xuống vỡ đầu con cua".


Nguyễn văn Ngọc đã giảng như sau : "Có phải đúng như một lũ chết dẫm chỉ đua nhau làm đồ ăn cho người ta nấu, người ta rang, người ta đập cho vỡ đầu ra, mà cũng không biết gì, vẫn còn rủ nhau, đưa nhau vào chỗ chết.

Trên đây là nói đến loại ngụ ngôn ca dao cùng những ngụ ngôn đoản thiên khác của Việt-Nam nhà, đề cập đến loại tràng thiên tất nhiên chúng phải kể đến Truyện Trinh-Thử, Truyện Trê Cóc và Lục Súc Tranh Công lời văn thuần thục, tự nhiên, với những cách ngôn, thành ngữ quen thuộc hàng ngày của người bình dân.

- Đến đây, tôi muốn nói đến tác dụng ra sao về ngụ ngôn, anh muốn nghe nữa không? - Cụ Sỹ hỏi tôi – Tôi trả lời:
- Xin mời anh kể tiếp!

- Chúng ta đã biết ngụ ngôn là câu chuyện ngắn dí dỏm kể bằng văn xuôi hay văn vần có ý hàm ngụ một lời răn thực tế, hay chứng minh một chân lý phổ quát nào. Nhân vật trong những bài ngụ ngôn thường là các loài vật – đôi khi là bất động vật – được nhân cách hóa.

Tuy văn ngụ ngôn linh hoạt dí dỏm, dễ hiểu đọc lên hào hứng sảng khoái (chính vì thế mà sáng tác văn thơ ngụ ngôn không phải là chuyện dễ), tuy ngay tự thuở các dân tộc hai bên Âu, Á chưa đọc lẫn sách vở của nhau, lối văn đó ở đâu cũng đã đầy đủ thể tài, vậy mà trong dư luận thức giả vẫn có người cho đó là lối văn vu khoát, không phải là lối bút pháp tín thực đáng đem và nhà trường để dạy dỗ. Ở Đông-phương ngày xưa thì có bài "Chiến cổ" giễu ông Mạnh Tử, trích ngay ý hai truyện ngụ ngôn của ông mà đặt hai câu thơ riễu rằng:
 
"Khất cái yên năng hữu nhị thê?
Lân nhân an đắc hứa đa kê ?"
(Thằng ăn mày sao có hai vợ ?
Hàng xóm lấy đâu được lắm gà?)

Ở Tây phương, J.J Rousseau trích ngay bài ngụ ngôn "Con quạ

và con cáo" của La Fontaine mà rằng "Cáo mà biết nói? Quạ mà gọi bằng ông ư? …" (Nguyễn trọng Thuật, bài báo đã dẫn).

Thật ra dư luận trên quả đã quá câu nệ. Cổ kim Đông, Tây, lối văn ngụ ngôn đời nào cũng thịnh hành. Từ nhà lập thuyết, nhà du thuyết, nhà chính trị đến nhà tôn giáo hết thảy đều dùng thể ngụ ngôn để dễ bề khuyên răn, chuyên chở đạo lý.
Ôn- như Nguyễn văn Ngọc bình về ngụ ngôn như sau :

"…Lối văn ngụ ngôn không phải là lối văn khinh thường, trò trẻ, xưa nay nhiều nước, bất cứ ở phương Đông hay phương Tây, bất cứ về đời thái cổ hay trung cổ đều sản xuất ra biết bao nhiêu bài ngụ ngôn. Mà mỗi bài ngụ ngôn đã sản ra ấy là một khối văn có thể lưu truyền, một tấn kịch có thể biểu diễn cho cả mọi người cùng nghe, cùng xem được. Nên chi, con trẻ ở các trường mà cũng đem những bài ngụ ngôn làm bài học thuộc lòng được, thì người lớn đọc ngụ ngôn cũng không hẳn là mất thời giờ vô ích. Cái thể ngụ ngôn đã có hứng thứ về mặt văn chương, mỹ thuật, cái thể ấy lại còn bổ ích về mặt luân thường đạo lý nữa. Ngụ ngôn đã chế bớt cho đời được bao nhiêu tính dở, ngụ ngôn tất khuyến khích cho đời được vô số điều hay"

Cái hay và cũng là cái khó trong việc sáng tác thể ngụ ngôn chính là ở chỗ hư đó mà thực đó, vật đó mà người đó, giản dị ngây ngô đó mà linh hoạt dí dỏm đó.

Các tác giả Mỹ Edna Johnson, Evelyn R.Sickels, Frances Clarke Sayers trong cuốn Anthology of Children's Literature (Tuyển tập văn-chương nhi-đồng) cũng có ghi về thể ngụ ngôn như sau :

"Bài ngụ ngôn như một vở kịch ngắn, các súc vật là vai chính, tia chân lý lóe sáng, tất cả những thứ đó có sức hấp dẫn kỳ diệu sự chú ý của các em, và những bài ngụ ngôn như vậy nào có khác gì những viên sỏi xinh lấp lánh mà ta lượm được trên bãi biển rồi cất vào túi như một kho lưu trữ những kinh nghiệm đã qua để khi cần đến là có thể đem ra đối chiếu tức thì".

Và ý kiến trên đây cũng là ý kiến của chúng tôi dùng đề làm lời kết luận bài này. Ngoài ra chúng ta còn không quên ở Đông cũng như ở Tây xưa thể ngụ ngôn còng dùng trong việc can gián

người trên "nói gió mà trạnh lòng mây". Trong trường hợp này kẻ nói không lo bị tội mà kẻ nghe có thể lấy đấy làm răn. (Ngôn
chi giả vô tội, văn chi giả túc dĩ giới.)

- Để thay đổi không khí trên đường lái xe để đường xa hoá gần, tôi kể thêm ít bài ngụ ngôn cổ Trung Hoa và Việt Nam nhe.
-Dạ vâng, tôi xin nghe – Tôi vừa lái xe, vừa trả lời cụ Sỹ:
- Vậy thì đây, tôi còn nhớ một vài bài ngụ ngôn cổ của Trung Hoa và của Việt-Nam sau đây:

"Con Ve, Con Bọ Ngựa, Con Chim Chích Choè và Cái Hố Sâu" (Ngô Việt Xuân Thu)
"Vua Phù Sai nước Ngô ngày trước,
Hay đem binh đi cướp nước người,
Vậy nên thái-tử can ngài,
Diễn ra một kịch mượn lời can khuyên
Tay cầm nỏ áo xiêm lấm ướt,
Từ ngoài vườn dảo bước vào đền.
Vua cha bèn hỏi sự-duyên,
Thái tử đem việc tâu lên bệ rằng :
"Con vừa mới ở trong vườn nọ
Cảm một điều cũng có nghĩa hay :
Con ve đậu ở cành cây
Ngâm-nga tự-đắc chốn này đã yên.
Con bọ-ngựa giơ liền rón-rén,
Nấp cành bên chực chém chết ve.
Bọ ngựa có ý xun-xoe,
Hay đâu chim chích nhằm-nhè sau lưng.
Chim chích đứng không từng động cựa,
Định mổ con bọ ngựa nuốt phăng,
Ngờ đâu lại có hạ thần,
Nấp xa giương nỏ đang nhằm bắn chim.
Hạ thần mải không nhìn sau trước,
Cái hố sâu nhỡ trượt chân vào.
Ướt xiêm lấm cả áo bào,
Vội vàng vác nỏ chạy nhào về đây."
Vua cha phán : "Ấy mày thật dại,
Tham lời không nghĩ hại về sau."

Phán thôi Thái-tử liền tâu :
"Ở đời cái dại biết đâu là chừng.
Kìa nước Lỗ lễ-văn nho giáo,
Nước Tề toan cường-bạo diệt đi;
Ngờ đâu Ngô đến tức thì,
Đánh Tề những muốn thu về nước Ngô.
Nay nước Vệ là thù bên cạnh,
Không đánh Ngô mộ lính đi đâu ?
Đó là lợi trước hại sau,
Ở đời cái dại biết đâu là chừng."
Vua cha quở : "Xí ! thằng ương dở,
Đừng lắm lời để lỡ việc ta."
Tạ từ Thái-tử lui ra,
Không lâu câu chuyện ấy mà nghiệm ngay.


Thần Sông Với Thần Bể 
(Sách Trang Tử)

Thần sông nọ ngắm trông sông nước,
Không đâu đâu nước được như mình,
Cõi bờ mặc sức tung-hoành,
Bao-la khắp chốn thị thành thôn quê.
Trên nguồn suối một bề qui-thuận,
Dưới kênh ngòi đều phận con em;
Hồ đầm xá kể bọn hèn,
Họa chăng có Bể đọ xem thế nào.
Ra bờ bể trông vào làn nước,
Thấy phất-phơ thần Nhược, thần Dương.
Trùng trùng sóng nước mênh-mang,
Thuộc quyền thần Nhược chủ-trương gần bờ.
Ngoài xa nữa mờ mờ sóng bạc,
Cõi thần Dương man-mác liền trời.
Tuyệt với tít khắp mù khơi,
Không còn nhìn nhận đâu nơi bến bờ.
Thần Sông lúc bấy giờ kinh dị,
Vái hai thần tự nghĩ than thân :
Ở nhà mình cứ tự-căng,
Ra ngoài nào có thấm bằng ai đâu !"




Con Bọ Ngựa Và Cái Bánh Xe
(Hàn-thị ngoại truyện, diễn sách Trang-tử)

Vua Tề-trang đi xe ra cửa,
Thấy một con bọ ngựa đứng bên;
Bánh xe sắp tới đè lên,
Nó chạy không kịp giơ liền ra oai.
Tên đánh xe thưa : "Ngài coi đó,
"Con bọ kia có rõ dại không?
"Dại đâu dại lạ dại lùng
"Thà rằng chịu chết còn hòng chém xe."
Vua Tề-trang không nghe lời nịnh,
Ngài vội-vàng truyền "Tránh xe đi !
"Con bọ này giỏi đó mi,
"Nó dù van lạy xe mi tha nào."
Vua Tề-trang thật hào-hiệp lắm,
Con bọ ngựa cũng chẳng hèn gì.
Bên đắc thế, bên lâm nguy,
Bên thì có lượng, bên thì có gan.


- Thôi, tạm ít bài về ngụ ngôn cổ Trung Hoa, sau đây là một ít bài về ngụ ngôn Việt Nam, tôi kể nhé!
- Da vâng, xin cụ cứ kể tiếp
- Về ngụ ngôn Việt Nam tôi xin kể:

Hội Nghi Súc Vật 
(Văn Cổ Việt-Nam, khuyết danh, bài viết vào đời Hậu Lê, đầu bài là : "Đại Ngưu Ngôn")

Trong súc-vật trâu công nghiệp nhất,
Đứng đầu ra cắt đặt chức quyền.
Đạt tờ mời các hội-viên,
Gà, mèo, chó, lợn họp phiên hội-đồng.
Trâu rằng : "Cứ phép trong xã-hội,
Công không quên mà tội không tha.
Biết thời tiết có bác gà,
Tư thiên giữ chức liệu mà báo tri.
Bắt chuột, chú mèo kia thiện nghệ,
Giữ thóc kho chớ để hư hao.

Đêm hôm thức nhắc ra vào,
Tuần phòng cậu chó ai nào dám ra.
Còn tên lợn ăn no lại ngủ,
Chờ béo rổi đem mổ thịt ăn."
Lợn còn kháng-nghị cãi rằng :
"Tôi làm gì tội thì phân cho tường."
Rằng : "Thức thời, mi nhường gà nọ,
Phòng gian phi, thua chó đêm tăm.
Coi kho, kém mãn tài-năng,
Ngu lười ở bẩn lại ăn hại đời.
Sống vô ích cho thời cho thế,
Không giết đi thì để làm chi?"


Con Ve Với Con Nhặng 
(Văn Cổ Việt-Nam bài này đầu đề là : "Vũ Trùng Giốc Thắng"

Áo the lướt-thướt phong-phanh,
Áo ve thi-sĩ trên cành ngâm vang.
Áo lam biếc dát vàng mũ đỏ,
Nhặng đại gia nhăng-nhố chạy vào.
Ai ô-trọc ai thanh-cao,
Cùng nhau tranh luận biết bao nhiêu lời,
Nhặng hỏi trước : "Sao người rên-rỉ?"
Ve đáp : "Ta chỉ vị thương đời".
Nhặng rằng : "Sao chẳng thức thời
Nghêu-ngao đồ xác nay đời ai ưa.
Càng dãi nắng dầm mưa càng dại,
Đời đang vui sao lại ngâm sầu ?"
Ve rằng : "Quý khách ở đâu"
Nhặng rằng : "Từ chốn nhà lầu ra chơi
Từng dự khắp mọi nơi yến tiệc,
Miếng đỉnh chung trải hết trân cam"
Ve: "Bác nhẫn-tâm làm.
Thế thì bác hưởng giàu sang đáng rồi.
Xưa những chỗ tanh hôi dơ bẩn.
Ai mà không phải lẩn cho xa.
Bác thì luồn lọt vào ra.
Những nơi như thế mới là no say.
Chỗ thành-quách chẳng may thất-thủ.

Ai không thường "bộc lộ" gớm-ghê
Bác thì càng được no-nê,
Quý hồ thích khẩu chẳng hề động tâm.
Bác lấy thế làm hâm làm mộ,
Ta ngậm hơi cam lộ làm ngon
Tuyết sương chi há hao mòn,
Tiêu hao mấy tiếng hú hồn non sông.
Ai nghe mặc ai không cũng mặc,
Thú cỏ hoa tự đắc một mình."
Nhặng nghe ve nói bất bình,
Thẳng bay về chỗ mành mành trước hiên.


- Bây giờ tôi lại kể tiếp Ngụ Ngôn Mới Việt Nam cũng theo Nguyễn Trọng Thuật như sau:

Thơ Ngụ Ngôn Nguyễn Trọng Thuật

Cuốn "Thơ Ngụ-ngôn" của ông xuất bản năm 1928 tại Hà-nội chia làm 2 quyển. Quyển nhất gồm những bài do chính ông sáng tác, quyển hai gồm những bài ngụ ngôn cổ của nước Tàu và nước ta do ông diễn giải.

Vũ-Ngọc-Phan đã nhận xét về thơ ngụ ngôn của Đồ-Nam-Tử: "Những bài ngụ ngôn do ông soạn phần nhiều lời trúc-trắc, ý không rõ ràng và những loài vật ông chọn không tiêu biểu được những đức tính ông định khuyến khích người đời."

Soạn giả đã nhọc công tìm kiếm mà không được đọc cuốn "Thơ Ngụ-ngôn" xuất bản năm 1928 trên. Tuy nhiên tìm đọc lại một số những bài ngụ-ngôn của ông đã đăng trên Nam-phong tạp-chí trước khi in thành sách thì thấy rằng lời phê bình của tác giả Nhà Văn Hiện Đại có phần xác-đáng lắm.

Trên đây đã giới thiệu một số ngụ-ngôn cổ Hán, Việt do ông diễn giải, dưới đây xin tuyển chọn hai bài ngụ ngôn do chính ông sáng tác (Nam phong số 120, tháng 7, 1927).

Có thể nói Nguyễn-trọng-Thuật cùng Nguyễn-văn-Ngọc và Nam-Hương là ba nhà viết ngụ-ngôn mới sớm nhất, sau khi ta thực sự tiếp súc với trào lưu văn học Tây phương do việc người Pháp tới đặt nền đô hộ lên nước Việt nhà.
 
Thầy Giáo Và Cậu Giáp

Yêu người ta bằng mình ta vậy.
Đạo Chúa trời thường dạy con chiên.
Đạo Nho, Đức Khổng cần quyền,
Sự mình không muốn chớ nên đãi người.
Ví giữ được hai lời Thánh huấn
Thì ai còn oán hận chi nhau.
Chỉ vì đọc trước quên sau,
Muôn dân máu lụt, năm châu khói mù.
Xem một cậu học trò bị phạt.
thì suy ra giao ác việc đời.
Học đường đang lúc giờ chơi,
Giáp tát mặt bạn rồi cười lỉnh ngay.
Bạn tức giận thưa thầy sự thể,
Thầy dạy rằng : "Hãy để tội cho."
Ngày kia đông mặt học trò,
Gọi Giáp thầy mới dạy cho một bài.
Giơ tay ra bạt tai một chiếc,
Hỏi luôn rằng : "Có biết đau không?"
Thầy tát thế có bằng lòng,
Thì con cứ thực nói cùng thầy hay!"
Giáp nhăn-nhó rằng : "Thầy xử tệ.
Tát đau tôi, mất thể diện tôi."
Rằng : "Thầy cũng biết lỗi rồi.
Vì con phải thí nghiệm thôi đó mà.
Trời sinh ai cũng da cũng thịt
Cũng tính tình cảm biết khác nao.
Mình đau mình nhục làm sao,
Người đau nhục thế, ai nào khác ai.
Con có nhớ tát người hôm nọ?
Hắn có đau và có nhục chăng?
Từ nay phải nhớ luôn rằng :
Muốn không ai tát thì đừng tát ai.
Học thực nghiệm bằng mười học sách,
Nghĩ kỹ xem chớ trách thầy nhe !"


Giáp vâng lời dạy lui ra,
Biết thầy dạy phải nhưng mà còn đau.

Hai Mẹ Con Với Miếng Sắt

Bà mẹ đứng xem con đang học,
Coi ra chiều khó nhọc ươn oai.
Bà đưa cho miếng sắt dài,
Rằng : "Đem ra đá mà mài thành kim."

Cậu cầm lấy vừa nhìn vừa ngại,
Bà giục luôn cậu phải đem ra.
Mài răm ba cái qua loa,
Rằng : Con mài dẫu đến già không xong.

Bà khẽ nói con trông xuống đá,
Có thấy gì dính đá hay không?
Cậu rờ tay xuống thưa rằng:
Có ít mạt sắt sáng chưng đây rồi.

Bà cười nói: Con ơi coi đó,
Sắt đã mòn, mài nhỏ khó chi.
Thành kim cũng chẳng lâu gì,
Suy ra đến sự học kia khác nào.
Con chăm chỉ hôm nào cũng thế,
Làm thánh hiền cũng dễ đấy con.

Thơ-Ngụ-Ngôn  NGUYỄN-VĂN-NGỌC


Đông Tây Ngụ Ngôn của Nguyễn Văn Ngọc xuất bản năm 1927. Quyển sách mang nhan đề này vì tác giả đã mượn những đề tài ngụ ngôn bất kể của Đông phương hay của Tây phương mà đem phô diễn theo tiếng Nam, cố giữ cho hợp với tinh thần tiếng Nam.
Tiếc thay quyển Thơ Ngụ Ngôn của Nguyễn Trọng Thuật, soạn giả không tìm thấy. Năm bài ngụ ngôn của Ôn-như tiên sinh sau đây là trích trong : "Ngụ Ngôn", Tứ Dân Văn Uyển, tháng Mười, 1935.

Kể về ngụ ngôn thấy đã tạm đủ, nhà văn Doãn Quốc Sỹ  kết luận:

"Ngụ ngôn là những câu chuyện răn đời, hoặc châm biếm những hủ tục, văn ngụ ngôn có đủ hai thể loại, văn xuôi văn vần đủ cả, lại có cả Hán ngữ và Việt ngữ nữa, và như chúng ta đã biết ngụ ngôn có từ lâu đời rồi, như truyện Cóc đi thi, truyện con Long với con Hổ, truyện con gà, con mèo và con chó v.v. đều có ý riễu cợt hay răn đe. Riêng truyện Súc-vật-hội-nghị thì kể như chúng ganh ghét nhau và kể công . . ."
     
Trên dường từ đài TNT đến nhà cũng khá xa, nhưng nhờ cuộc đàm thoại mà đường xa hoá gần, cuộc nói chuyện về ngụ ngôn của giáo sư Doãn Quốc Sỹ cũng vừa chấm dứt thì xe cũng đã tới nhà cụ Sỹ. Chờ cụ bước vào nhà rồi tôi mới quay xe trở về nhà, trên đường tôi suy nghĩ về những câu chuyện ngụ ngôn mà cụ Sỹ vừa kể, rất cảm phục người uyên bác nhớ nhiều, đã hiến trọn cuộc đời với thiên chức giáo dục, cũng như cầm bút viết lên nhiều tác phẩm để đời đóng góp cho kho tàng văn học nước nhà.

Tôi lại đã học thêm được những bài học trong ngụ ngôn. Cám ơn nhà văn lão thành Doãn Quốc Sỹ, một nhà văn hiền lành nhu mì khiêm tốn, Tôi xin ghi nhớ mãi buổi nói chuyện về chuyện ngụ ngôn muôn vàn lý thú này.

TẠ XUÂN THẠC
Những ngày với Văn đàn Đồng Tâm 
Houston,  2005 -2006

GÌN VÀNG GIỮ NGỌC VỚI NHÀ VĂN DOÃN QUỐC SỸ

-  Lm. Trần Cao Tường -

Xem văn thì biết người, nhưng chúng ta lại rất hân hạnh gặp được người là nhà văn Doãn Quốc Sỹ để biết văn, để có dịp nhìn thẳng vào cái tâm của một người đã từng bị đầy đọa vùi giập theo vận nước nổi trôi cả mấy chục năm nay.

Ông đã bị nhốt tù 2 lần, tổng cộng trên 12 năm, vì chữ và nghĩa, vì lương tâm. Ông kiên quyết tin tưởng vào khối vàng mỏ ngọc của cõi tâm con người. Ông được trả tự do và đến Mỹ tháng 2.1995.

Gặp lại thân hữu, ông không có lời nào nhắc nhở đến những gian truân khổ cực mà ông gánh chịu suốt bằng ấy năm. Ông hướng về tương lai với niềm tin sâu sắc vào sức sống mạnh mẽ của dân mình, và quả quyết: "Cái ác đến rồi đi, mưu mô xảo quyệt thể hiện rồi tàn lụi."

Và hôm nay ông đến đây để chia sẻ một đề tài giáo dục về Gìn Vàng Giữ Ngọc. Giới trẻ có tin người Việt mình có vàng có ngọc không để mà giữ, mà truyền? Vàng và ngọc của mình có ăn thua gì với đà tiến mới của thế giới không? Vì đang khi Âu Mỹ giầu có văn minh, thì dân Việt mình vẫn nghèo xác nghèo xơ với gia tài tả tơi rách nát!

Nhưng có điều rất lạ là Mẹ Teresa ở Calcutta sau nhiều vòng tiếp xúc với Âu Mỹ thì lại nhận xét rằng trẻ em Mỹ nghèo nhất thế giới. Thế là thế nào?

Thì nay nhà văn Doãn Quốc Sỹ trả lời: Giầu mà lại nghèo; nghèo mà vẫn giầu. Ông thấy được mỏ vàng mỏ ngọc từ cõi tâm người Việt, nguồn sinh lực vốn chứa sẵn ở trong lòng, vẫn kiên trì chuyển diễn dù bất cứ gian ác và đầy đọa nào, chỉ cần cái tâm

trong sáng là kho tàng biểu hiện ra liền. Như Ông đã trả lời qua mấy chục tác phẩm như:

Chiếc chiếu hoa cạp điều, Gìn Vàng Giữ Ngọc, Người Việt Ðáng Yêu, Ba Sinh hương lửa, Người đàn bà bên kia vĩ tuyến, Sầu Mây, Dòng Sông Ðịnh Mệnh v.v.

Và mới xuất bản tại hải ngoại sau khi ông tới Mỹ:

Dấu chân cát xóa, Người vái tứ phương, Mình lại soi mình.

Ông vẫn tỏ nét trong sáng một nguồn nhân ái bất tận của cái tâm, của cái thiện.

Ở Người Ðàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, ông thương khi "chứng kiến cảnh nghèo của nhà chị Cầu, nghe tiếng khóc đau đớn của thằng bé để tưởng như tiếng khóc của dân tộc..."

Vì nhà quá nghèo lúc tản cư thời chiến tranh Việt-Pháp nên phải nói dối một lần về Chiếc Chiếu Hoa Cạp Ðiều nhặt được cho em đắp, vậy mà: "Sau này khi về vùng quốc gia, rồi di cư vào Nam, tôi còn trải qua nhiều gian lao nghèo túng và nhiều lần bị khinh rẻ, nhưng dù nghèo túng đến đâu, dù bị khinh rẻ đến đâu, điều đau nhục nhất với tôi vẫn là truyện chiếc chiếu hoa cạp điều...

Cũng kể từ sau ngày xảy ra chuyện đó, thái độ của tôi đối với người đời khác xưa nhiều. Tôi thận trọng tránh mọi hẹp hòi, kiêu ngạo, ích kỷ, sắc cạnh. Lòng dễ xúc động, tôi thương người như thương chính mình vậy.

Tôi thương những em nhỏ sớm phải lăn lưng vào cuộc đời để tự nuôi sống, tôi thương những người đói khát ham ăn ham uống, tôi thương những hình ảnh lam lũ một sương hai nắng, những hình ảnh nghèo túng giật gấu vá vai, tôi thương những kẻ thù dân tộc hôm qua, ngày nay thất thế ngơ ngác đi giữa kinh thành. Ở thế giới thực dân tư bản người ta tung vật chất để giam lỏng linh hồn; ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành."

Người với ta tuy hai mà một
Ta với người tuy một mà hai.


Thương người như thể thương thân, đó là nét gìn vàng giữ ngọc của cõi tâm người Việt. Ông diễn ta trong cuốn "Con Chuột Chù":

"Làm nhục người khác là làm nhục chính mình, nhìn người khác quị lụy, nhất là vì miếng ăn, việc hay xảy ra ở trại tù binh, chàng có cảm tưởng như chính nhân phẩm mình bị sa sút. Bất cứ mọt cá nhân nào đề mang trọn vẹn hình ảnh nhân loại nói chung. Tước đoạt nhân phẩm của một cá nhân nào là thương tổn đến nhân phẩm của cả nhân loại..."

Vậy cái Ác dù có hiện hình hung hãn tung hoành như được kể trong Mình lại soi Mình, hoặc ngay bây giờ phải đối diện với xã hội mới cũng đầy bất trắc như thời Ba Sinh Hương Lửa:

Ai xui ta đến chốn đây
Bên kia không óc bên này không tim.


Ông vẫn luôn tin rằng: "Cái ác đến rồi đi, mưu mô xảo quyệt thể hiện rồi tàn lụi." Những đầy đọa của thân phận Việt Nam cũng như những đợt sóng lên xuống, dòng sức sống vẫn chảy tới, như trong Sầu Mây:

"Bao giờ chúng ta cũng là những kẻ chiến thắng... nếu chúng ta biết nhìn trước thấy dòng luân lưu của sự vật."

Có những lúc tôi đọc ông mà xúc động muốn khóc: "Chiến tranh tàn phá gây ra biết bao cảnh đổi đời, nhưng có một cái gì đó mà không gì tàn phá nổi... đó là tiếng hát tự lòng đất, từ cõi tâm con người, tiếng hát sầu dằng dặc nhưng là tiếng hát bất tuyệt vỗ về an ủi sự sống làm cho sự sống càng phì nhiêu và bất tuyệt như nó."

Phải, chúng ta có một cái gì mà không một quyền lực ác độc nào có thể tàn phá được. Chính cái không thể tàn phá nổi đó mà hôm nay, không phải chỉ là ngàn dặm ra đi như công chúa Huyền Trân, mà là ngàn ngàn dặm ra đi, bước sang ngàn năm thứ ba, trước đà tiến của nhân loại, chúng ta không chịu cúi đầu nuốt nhục, mà cùng đến đây chia sẻ cái cốt lõi của một nền văn minh

mà nhân loại đang mong chờ lúc sửa soạn bước vào thiên kỷ 3: đó là khai mở được kho tàng cõi tâm. Tự tin như vậy, người Việt mới có cơ may phát triển, và mới có cái gì thật quí mà đóng góp với thế giới.

Tôi xin mượn lời nhà văn Võ Phiến mà nói về ông:

Với ông Doãn Quốc Sỹ đến Mỹ "Cộng đồng người Việt hải ngoại giầu thêm bằng một người Việt đáng yêu, và bếp lửa cộng đồng ấm hơn."

Phải, chúng tôi hãnh diện vì ông, cùng tin tưởng và hãnh diện để Gìn Vàng Giữ Ngọc, và chúc mừng ông vẫn bước tới với đầu cao mắt sáng:

Làm sao cũng chẳng làm sao
Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi.
Làm chi cũng chẳng làm chi
Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao.


Lm. TRẦN CAO TƯỜNG

(Mấy lời giới thiệu nhà văn Doãn Quốc Sỹ trong buổi mạn đàm Gìn Vàng Giữ Ngọc và Truyền Thụ Nét Trân Quí của người mình cho thế hệ trẻ tại Trường Lê Bảo Tịnh, Avondale, Louisiana.)
Lê Văn   - đài  VOA  - Phỏng Vấn Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ

30-July-2003

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ kể từ sau khi được nhà cầm quyền cộng sản thả ra khỏi lao tù và cho sang Mỹ để đoàn tụ với gia đình thì ông đã tới định cư cùng với các con ở thành phố Houston, bang Texas. Mới đây nhân dịp ông vừa tròn 80 tuổi, ông đã dành cho đặc phái viên Lê Văn của đài Tiếng nói Hoa Kỳ một cuộc phỏng vấn về cuộc đời và văn nghiệp của ông. Sau đây là phần thứ nhất của cuộc phỏng vấn.

LV: - Nhà văn DQS đã từng chịu đựng nhiều năm trong lao tù CS, nhưng ông vẫn giữ được phong độ ung dung thư thái của một một nhà giáo và tinh thần minh mẫn của con người sáng tác văn chương. Trong một bữa tiệc vui do vài ba thân hữu khoản đãi để chúc thọ ông, nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã dành cho Lê Văn cuộc phỏng vấn sau đây:

LV: - Thưa anh DQS cách đây ít lâu những người ham mộ văn chương anh đã tổ chức một buổi lễ lớn để vinh danh DQS và duyệt lại toàn bộ qua những tác phẩm mà anh đã viết từ trước tới giờ, quả thực là với tất cả những công trình to lớn và giá trị và được chứa bỏ qua thời gian đó thì việc vinh danh DQS là việc rất xứng đáng, anh có cảm tưởng ra sao về buổi lễ đó,  thưa anh?

DQS: - Dạ, thưa anh, trước hết nói về cái buổi vinh danh, thì thưa anh cái hôm đó anh luật sư Bảo thì phải,  có nói với tôi là sẽ tổ chức một buổi gọi là vinh danh DQS thì tôi đã vội vàng gạt đi rằng : Bảo, trời!  anh nói vinh danh làm gì, sau đó thì chính tôi được biết riêng rằng là cái buổi đó về sau thu được đồng nào thì sẽ gửi về biếu đồng bào nạn lụt tại VN thì lúc bấy giờ tôi mới đồng ý để cho anh tổ chức cái buổi gọi là vinh danh DQS

LV: - Thưa anh, nhìn lại những tác phẩm của anh trong vòng nửa thế kỷ vừa qua thì đó là cả một kho tàng phong phú anh viết

nhiều thể loại khác nhau, từ truyện ngắn truyện dài, truyện cổ tích, cho đến kịch và trường thiên tiểu thuyết gồm nhiều tập  v.v  Vậy theo ý anh thì tác phẩm nào được anh coi là đắc ý nhất, thành công nhất?

DQS: - Thưa anh, mỗi một tác phẩm tinh thần của mình, sự thật ra mình cũng quý nó như người mẹ quý người con vậy, và người mẹ nào cũng quý yêu tất cả những người con của mình, và càng những đứa con nào g ặp nhiều chẳng hạn như bị rủi,  bất hạnh  thì bà mẹ lại càng thương. Thưa anh, tôi cũng có thể nói về phía tôi với anh rằng  tất cả những tác phẩm của tôi về những vấn đề hay dở thì để độc giả quyết đoán riêng tôi những tác phẩm đó tôi coi như người mẹ sinh ra nhiều đứa con, tôi yêu chúng nó tất cả, thưa anh.

LV:- Thưa anh những đóng góp lớn lao của anh cho văn học VN là điều không ai có thể chối cãi được. Xin anh cho biết tác phẩm đầu tay của anh là tác phẩm nào, và vì cái cơ duyên nào mà anh đã bước vào địa hạt văn chương?

DQS: - Vâng, thưa anh, theo thời điểm viết lách của tôi thì thoạt tiên là tôi viết truyện cổ tích, chuyện cổ tích đầu tiên tôi viết là truyện Sợ Lửa, tôi hoàn tất từ ngoài Bắc thưa anh, rồi khi di cư vào Nam năm 54 tôi mang bản thảo truyện ngắn Sợ Lửa viết dưới dạng cổ tích đó vào Nam, khi vào Nam thì tôi gặp Trần Thanh Hiệp và chúng tôi ở trong cái đoàn mà gọi là đoàn Sinh Viên Hà Nội di cư, thì anh Trần Thanh Hiệp lúc bấy giờ vừa gặp dịp Xuân, thì anh ấy cho in một tập gọi là Xuân Chuyển Hướng của đoàn SV Hà Nội di cư thì anh hỏi tôi có cái gì đóng góp không  thì may sao tôi có truyện Sợ Lửa tôi bèn đưa cho anh in vào Xuân Chuyển Hướng. Thưa anh cho đến bây giờ cái đó thật là cái dịp may vì nếu cái truyện ngắn Sợ Lửa mà tôi cứ giữ không có dịp ấn hành trên mặt báo thì tôi không tìm được cảm hứng nào để tiếp tục viết. Đến khi tôi nhìn thấy Sợ Lửa in trên tập san Chuyển Hướng thì tôi tự nhiên  thấy như nhờ cơ nghiệp tôi lại tượng tương như là khi báo phát hành thì biết bao nhiêu là các độc giả khác thưởng thức truyện Sợ Lửa của tôi. Do đó tôi như lửa được gió tôi tiếp tục viết là như vậy.

LV: Thưa anh trước đây ở VN anh vẫn được coi là cây viết nòng cốt của nhóm Sáng Tạo cùng với các nhà văn nhà thơ có khuynh hướng đổi mới mạnh mẽ ở thời đó như Mai Thảo, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn sĩ Tế v.v.  nhưng văn phong của anh thì lại khác hẳn với những người vừa kể, tức là anh lúc nào cũng hiền lành, chừng mực, cổ điển và đầy áp tình người. Xin anh cho biết điều gì đã tạo nên văn phong đặc biệt đó ở nơi anh?

DQS: - Dạ, thưa anh tôi cũng lại xin trả lời anh một cách tổng quát là như thế này: Tôi có hai nghiệp: một nghiệp cầm phấn để dậy học, một nghiệp cầm bút để viết văn. Tôi dậy học ở trường Đại học Sư Phạm Saigon. Là một nhà giáo, nhất là lại là một nhà giáo ở trường sư phạm đào tạo ra các nhà giáo khác để chuẩn bị cho các học trò tôi đi phụ trách những các trường trên toàn quốc, vì vậy cho nên sang đến cái nghiệp cầm bút viết văn thì tôi vẫn nghĩ rằng hai cái nghiệp cầm bút viết văn với cái nghiệp cầm phấn của nhà giáo có ảnh hưởng hỗ tương với nhau. Có nhiều bạn cũng có hỏi tôi về cái thái độ chừng mực của tôi trong những tác phẩm của tôi dù rằng tác phẩm ấy dưới dạng cổ tích hay là truyện ngắn hay là truyện dài, thì cái sự thật cái chừng mực đó cũng là ảnh hưởng của cái nghiệp cầm phấn của nhà giáo, nhất là nhà giáo sư phạm của tôi . . .

Lê Văn


NHỮNG CẢM NHẬN KHI ĐỌC VĂN DOÃN QUỐC SỸ


- MẶC GIAO -

Vinh danh những người đã có dấu ấn trong thời đại của họ khi họ còn đang có mặt trong cuộc đời này là việc rất nên làm. Vì vậy tôi rất hân hạnh được góp bài nhận định nhỏ này vào tuyển tập mừng thượng thọ nhà văn Doãn Quốc Sỹ, một tác giả mà tôi vẫn tiếp tục đọc từ 1955 đến nay. Tôi không hân hạnh được quen biết và không có kỷ niệm nào đáng kể với Doãn Quốc Sỹ. Tôi nhớ năm 1951, khi tôi học lớp đệ thất trường Nguyễn Khuyến, Nam Định, tôi có thấy loáng thoáng giáo sư Doãn Quốc Sỹ dậy những lớp bên cạnh. Ông không dậy Việt văn mà lại dậy môn vạn vật. Khoảng một hoặc hai năm sau, ông bỏ Nam Định đi Hà Nội. Vào thời điểm đó, Nam Định được coi như phòng đợi (anti chambre) cho những tài năng vừa hồi cư tạm thời dừng chân, trước khi tìm về vùng ánh sáng nơi "Kẻ Chợ". Thật ra, tình trạng này không phải chỉ xảy ra vào lúc ấy. Những Nguyễn Bính, Đặng Thế Phong, Vũ Hoàng Chương, Nguyên Hồng, J. Leiba... đều là dân gốc Nam Định và cũng đều rời quê hương để lên đất ngàn năm văn vật thi thố tài năng. Năm 1998, tôi được gặp Doãn Quốc Sỹ tại thành phố Calgary, Canada, trong buổi ra mắt bộ sách KHOA CỬ VIỆT NAM của cố học giả Đỗ Trọng Huề. Ông Huề với tôi là chỗ giao du khá thân tình dù tôi vẫn trọng kính ông như bậc đàn anh, cả về tuổi đời lẫn kiến thức văn học. Khi giới thiệu tôi với ông Sỹ, ông Huề nói: "Mặc Giao đấy". Tôi trân trọng bắt tay ông Sỹ và ngồi nói chuyện không đầu không đuôi với ông một lúc trước khi ông được mời lên diễn đàn để giới thiệu sách và nói về tình tri kỷ giữa ông và ông Đỗ Trọng Huề. Cuộc gặp gỡ giữa tôi và Doãn Quốc Sỹ chỉ có thế. Không đáng được gọi là kỷ niệm.

Tuy nhiên, tôi gặp gỡ Doãn Quốc Sỹ nhiều hơn trong các tác phẩm của ông. Tôi đã đọc văn ông từ lúc 15 tuổi ở Sài Gòn cho đến bây giờ ở hải ngoại, từ SỢ LỬA, qua KHU RỪNG LAU, tới ĐI. Dĩ nhiên tôi không đọc hết mọi tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ, nhưng có thể nói là đã đọc khá nhiều. Điều này chứng tỏ tôi

 "thích" văn của ông. Tôi dùng chữ "thích", không dùng chữ "mê", vì mê là có mê muội, còn thích thì sáng suốt hơn, có thể thích nhiều thích ít, đôi khi không thích. Tôi không dám viết một bài phê bình về những tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ, vì phê bình không phải là chuyên môn của tôi. Tôi chỉ xin viết về những cảm nhận khi đọc văn Doãn Quốc Sỹ với tư cách một độc giả bình thường, giống như hàng vạn, hàng triệu độc giả khác của ông, những người âm thầm tạo cho các nhà văn lý do và điều kiện để sống và viết (cả nghiã tinh thần lẫn vật chất).

Điều đầu tiên tôi nhận thấy là cách dựng truyện của Doãn Quốc Sỹ rất hiền lành. Những cốt truyện của ông không éo le, ngang trái, nhiều uẩn khúc hoặc kỳ lạ. Truyện của Doãn Quốc Sỹ rất gần với đời thường, có thể xảy ra với bạn, với tôi. Chúng đều là những chuyện "như thật" (trừ những truyện có tính cách cổ tích trong SỢ LỬA và HỒ THÙY DƯƠNG) xảy ra thời kháng chiến chống Pháp, tản cư ở hậu phương, "rinh tê" về thành, Hà Nội trong vòng đai, di cư vào Nam, sinh hoạt ở Sài Gòn, du học ngoại quốc, phục vụ trong ngành văn hóa, giáo dục, đời sống sau 1975, tù đày, vượt biên v.v... Có thể nói đọc truyện của Doãn Quốc Sỹ, người ta hiểu thêm được những biến cố lịch sử xảy ra tại nhiều miền đất nước từ 1945 cho đến ngày tác giả đi định cư ở Hoa Kỳ. Nếu nói văn chương phản ảnh thời đại thì văn của Doãn Quốc Sỹ đã làm việc này một cách rất trung thực. Cốt truyện hiền lành thì nhân vật không thể hung hiểm. Có thể nói những nhân vật chính trong các tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ đều là những người trung hậu, nhiều tình cảm, đối xử với nhau và với đời đầy tình nghĩa. Mẹ già tìm được chiếc chiếu hoa bỏ ở bụi tre đem về cho thằng út đắp cho ấm vào đêm đông tản cư, nhưng người chủ chiếc chiếu nhận ra được, lấy đi. Bà mẹ cãi qua loa vài tiếng cho phải phép rồi âm thầm chấp nhận. Người kể bùi ngùi thương mẹ, thương em, thương mình, thương mọi người trong cảnh cơ hàn của thời ly loạn (Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều). Đi bộ mấy chục cây số đến nhà bạn mong được ăn một bữa cơm nóng, ngủ một giấc ngon qua đêm. Nhưng khi thấy cảnh thiếu thốn của gia đình bạn thì lấy cớ bỏ đi, dù bữa cơm đã nấu gần xong và dù mình vừa đói vừa mệt, chỉ vì sợ rằng nếu mình ở lại ăn, vợ con bạn sẽ phải nhịn (Gìn Vàng Giữ Ngọc). Cạnh tranh công bằng, tế nhị và kín đáo với bạn gái để chinh phục được

người mình yêu, nhưng vẫn áy náy là mình cướp người yêu của bạn (Khu Vườn Bên Cửa Sổ)... Cách ứng xử của các nhân vật thì như vậy. Cách suy tư của họ cũng đôn hậu, luôn hướng về điều tốt, không trăn trở, dằn vặt, đào xới tâm hồn để chẻ sợi tóc làm tư, không phân tâm, triết lý để tỏ ra uyên bác.

Để diễn tả cốt truyện, nhân vật và tâm tình, Doãn Quốc Sỹ đã dùng một cách hành văn trong sáng, không cầu kỳ, không làm dáng chữ nghiã. Văn ông là một thứ tiếng Việt chuẩn, điêu luyện và rất có duyên:

- Thư trung hữu họa: Doãn Quốc Sỹ tả cảnh thiên nhiên giống như một họa sĩ vẽ bức tranh mầu. Đây không phải là một họa sĩ truyền thần tầm thường, nhưng là một họa sĩ biết chơi những "gam" mầu rất điêu luyện. Những đoạn văn như dưới đây có mặt rất nhiều trong các tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ:

"Mầu vàng úa của vừng trăng gợi mầu nâu thăm thẳm lấp loáng của dòng sông. Mầu tím xẫm của từng khối mây "nghẽn thở" hòa hợp rất đúng với mầu xám chết của bãi cát bên dưới. Tất cả bức tranh toát ra một vẻ man rợ hoang sơ của thời khai thiên lập địa". (Dòng Sông Định Mệnh).

-Thư trung hữu nhạc: Chỉ cần ngắm bức họa vẽ một cành cây oằn oại với những chiếc lá bay dạt theo một chiều, người ta đã nghe thấy tiếng gió thổi: "năng họa nhất chi phong hữu thanh". Huống chi Doãn Quốc Sỹ lại viết về nhạc một cách rất tường tận khiến người đọc có cảm tưởng như đang đuợc thưởng thức những bản hợp âm đầy giai điệu:
 
"Tạo cho mở đĩa hát bản tình ca không có lời (Romance sans parole) rồi ngồi vào piano rạo theo. Ý Tạo muốn dùng tiếng violon và tiếng violoncelle trong đĩa hát làm cho nổi giai điệu để Thiệu cảm thấy hết cái đẹp uyển chuyển của nét nhạc". (Dòng Sông Định Mệnh).
Có khi tác giả lại cho một nhân vật phát biểu về nhạc một cách rất rành nghề:

"Thưa Bác, vì đã có em Hương trình diễn khúc Adagio này nên lúc nãy em Bích khỏi phải trình diễn khúc Adagio Cantabile của Pathétique. Cả hai Adagio cùng dịu dàng tha thiết, nhưng Adagio của Moonlight dễ thương trên một bậc". (Đi).

Có thể nói Doãn Quốc Sỹ là một người sành âm nhạc và mê âm nhạc nên đã đưa rất nhiều nhạc vào văn của ông.

- Cảnh và tình: Doãn Quốc Sỹ tả cảnh không vì cảnh, nhưng vì tình. Cảnh chỉ là cái cớ, là cái khung, là môi trường để tác giả diễn tả tâm tình của nhân vật và có thể của chính tác giả. Về điểm này, Doãn Quốc Sỹ rất thành công. Ông đã nhẹ nhàng đưa người đọc đi từ cảnh đến tình, để khi đọc xong lòng vẫn còn vương vấn chút bâng khuâng, ngậm ngùi:
    
 "Thiệu lên đê nhìn khúc quành của con sông ở khoảng làng Thái Lung Thượng, nghĩ lại hồi hai đứa còn nhỏ. Thiệu có lần cùng Yến đứng đây và kể chuyện Thạch Sanh cho Yến nghe. Ngày đó Thiệu nhìn dòng sông sao mà rộng, khúc quành sao mà cách Thiệu xa xôi. Ngày nay Thiệu đã lớn, dòng sông như nhỏ đi, khúc quành cũng không còn tít mù tắp như xưa nữa. Con sông cũ hình như chuyển vào hồn Thiệu vì Thiệu thấy lòng mình mênh mông dạt dào".  (Dòng Sông Định Mệnh).

Đoạn văn tả một buổi tối mưa phùn của Hà Nội sau đây có thể coi là một đoạn văn đẹp nhất của một người Hà Nội nói về Hà Nội trước 1954:
     
"Chúng tôi cùng phóng xe đạp dưới trời mưa phùn. Ánh đèn Hà Nội lúc chập tối chưa bị nhầu nát hình như cũng mới nguyên như ánh nắng ban mai. Lại thêm có mưa phùn khiến chúng tôi có cảm tưởng Hà Nội nhòa trong nước mắt. Chúng tôi đi song song bên nhau không nói nửa lời nhưng trong bầu không khí chập chờn ấy chúng tôi cũng cảm thấy quên những giả dối, những lừa lọc của Hà Nội nói riêng và của cả cuộc đời nói chung. Có lẽ chưa bao giờ chúng tôi cảm thấy rung động trước Hà Nội bằng buổi chiều hôm đó. Hà Nội chợt như thùy mị, hiền lành và dịu dàng. Phải chăng vì mưa phùn?" (Chàng Nhạc Sĩ, trong U Hoài).

- Dí dỏm: Văn của Doãn Quốc Sỹ còn có tính dí dỏm. Để có được một bài văn dí dỏm, người viết phải có nhận xét tinh tường, nắm bắt được cái yếu tính của người và sự việc, nhìn ra được những mâu thuẫn qua bề ngoài hài hòa, rồi dựng nên những tình huống không bình thường, khiến người đọc thích thú và đôi khi phải mỉm cười. Văn dí dỏm cũng phải là văn có duyên, không thể nghiêm túc như văn nghị luận. Thí dụ trong NGƯỜI VÁI TỨ PHƯƠNG, Doãn Quốc Sỹ kể chuyện giáo sư Hoàn, một nhà giáo dục "mất dậy" (mất chỗ dậy học) sau 1975, phải miễn cưỡng làm nghề thầy bói sáng để kiếm ăn. Ông học được vài cách coi tướng và đã đưa ra dọa khách một cách rất hiệu qủa:
    
"Thế là hôm đó qua lời giáo sư Hoàn nói với bà khách, tôi rút tỉa được phần lý thuyết đại cương: Nữ giới mà chân tay bầu bĩnh như miên nang (túi bông) đó là phú; khuôn mặt đẹp là qúi. Cung chồng y cứ ở cái mũi xấu hay đẹp. Cung con y cứ vào phần dưới mi mắt – ngọa tàm – cộng hưởng với nhân trung. Mi dưới (ngọa tàm) phải no đầy, nhân trung (chỗ lõm giữa môi trên và mũi) phải dài, rõ nét, có bờ, như vậy là có thể trông cậy ở con được lắm... Cũng nên quan sát sắc cả khuôn mặt, gọi là sắc sinh. Vẻ sáng của khuôn mặt phải là cái sáng đậm đà như ngầm bốc tự dưới tỏa rộng ra, không phải thứ sáng tràn lan rạng rỡ nhưng nông choèn".

Một hôm, giáo sư Hoàn tiết lộ cho người kể chuyện:
" – Tôi nói cho cậu hay, mới chiều hôm qua đây, tôi đã xem tướng cho một chàng công an...
- Không phải viên trung tá công an, thưa giáo sư?
- Không! Nhưng anh chàng này được viên trung tá nọ giới thiệu tìm tôi, do đó tôi chắc viên trung tá tìm bọn mình tới nơi rồi" (Người Vái Tứ Phương).

Chỉ cần đoán tình hình, giáo sư Hoàn đã biết anh trung tá công an đang kín đáo tìm cách gặp mình. Muốn gặp mình tức là anh đang gặp rắc rối. Qủa thật, khi gặp nhau, ông thầy bói sáng chỉ cần chơi một đòn tâm lý bằng một câu đại ý: trông thần sắc ông có vẻ xuống. Ông đang có điều lo nghĩ. Nếu không tìm cách hóa giải có thể gặp đại họa. Thế là ông trung tá phục thầy sát đất, kể

hết hoàn cảnh nguy hiểm của ông cho thầy nghe. Thầy khuyên ông phải lập đàn cúng vái để xin qủy thần giải trừ tai họa. Ông công an vô thần giữa thời chủ thuyết Mác Lê đang ở đỉnh cao phải líu ríu làm theo. Ông thầy khoái chí vì vừa sai bảo được "âm binh đỏ", vừa được hưởng thịt xôi và mớ bạc "vi thiềng". Còn cúng vái có linh thiêng hay không thì... mặc mẹ mày. Cái dí dỏm là ở chỗ đó.

-Tiếng Nam, tiếng Bắc: Doãn Quốc Sỹ từ Bắc di cư vào Nam lúc ông đã 31 tuổi. Ở tuổi đó, người ta rất khó thay đổi giọng nói và chữ dùng. Vì thế giọng nói Bắc kỳ "ròng" của ông đã biểu lộ rõ rệt trong những tác phẩm ông viết những năm đầu sau di cư. Thí dụ (những chữ trong ngoặc là do người viết bài này chú theo lối nói miền Nam):
"Ô tô (xe hơi) từ Hà Nội đến quãng đầu tỉnh Bắc Ninh thì có một con đường đá rẽ về tay phải (quẹo tay mặt): đường 21. Đi sâu vào con đường đó – đi chân, đi xe đạp, đi xích lô hay đi xe hàng (xe đò) nhỏ nhỉnh hơn (lớn hơn chút xíu) xe tắc xi một chút – chừng mười hai cây số thì gặp con sông Đuống nước đỏ ửng có bến phà (bến bắc)". (Dòng Sông Định Mệnh, 1959).

Nhưng đến năm 1980, sau 25 năm sống tại miền Nam, giọng công tử Bắc kỳ của Doãn Quốc Sỹ đã thay đổi rất nhiều. Thí dụ chỉ trong mấy hàng viết sau đây, Doãn Quốc Sỹ đã dùng nhiều tiếng miền Nam "ròng" một cách rất nhuần nhuyễn (Người viết gạch dưới để gợi chú ý):
     
"Sớm tinh sương, gió bắt đầu dịu, mọi người nhận thấy có ba chiếc ghe lớn của công an đang tiến ra săn bắt mình... Ba ghe công an rượt theo. Thuyền vượt biên chạy tuốt ra khơi...

"Người vẫy qúa giang liên tiếp. Tới hai chục người thêm...Nhiều người la đòi ngừng lại cho thở, tài xế làm thinh". (Đi, 1980).

Chuyện tiếng Bắc, tiếng Nam không phải là một tiêu chuẩn để định giá trị một tác phẩm văn học. Chúng tôi chỉ muốn nhân cơ hội này để nói lên một sự kiện: Già đầu như Doãn Quốc Sỹ khi vào Nam cũng đã bị "Nam hóa" hồi nào không hay. Đây là một điểm tốt của việc giao lưu văn hóa, hòa hợp đời sống, pha trộn

 tiếng nói giữa những thành phần của cùng một dân tộc chỉ khác nhau về địa phương để đi đến chỗ chung sống hài hòa, hiểu nhau và thương nhau hơn. Văn của Doãn Quốc Sỹ đã thể hiện điều này.

Về mặt tư tưởng, Doãn Quốc Sỹ không phát kiến hay đề cao một lý thuyết hoặc một luồng tư tưởng mới nào, ông cũng không viết tiểu thuyết luận đề với ý hướng cải tạo xã hội như nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Tuy nhiên, rải rắc qua những tác phẩm, người đọc nhận thấy Doãn Quốc Sỹ nặng lòng với đất nước và dân tộc, chia sẻ nỗi u hoài của người Việt và luôn chủ trương đưa tâm hồn hướng thượng  để tìm chân, thiện, mỹ.

Quê hương nghèo nhưng đẹp. Đẹp không những về cảnh trí thiên nhiên, nhưng còn đẹp vì tình người, vì những tâm cảnh "con cò mà đi ăn đêm... có sáo thì sáo nước trong, đừng sáo nước đục đau lòng có con". Nghèo và buồn nhưng tâm hồn cao qúy:
    
"Rồi hồn tôi như bàng bạc hòa vào sương khuya, và trong cùng thẳm cõi lòng tôi cảm thấy một nỗi niềm man mác, tê tái như một người đàn bà nghèo gánh gạo về trên quãng đường xa heo hút, chợt nhiên thấy thương chồng, thương con, thương mình". (Gìn Vàng Giữ Ngọc).
     
"Lịch sử chúng ta cho đến nay vẫn chưa gặp thanh nhàn, nhưng con sông càng dài gian khổ càng mang về nhiều phù sa bồi bổ cho cánh đồng, cánh đồng phì nhiêu tình thương, bát ngát tình người, man mác tình thiên nhiên cây cỏ, ngợp vẻ thái hòa của hình ảnh con cò bay lả bay la, cánh đồng Việt Nam yêu dấu của chúng ta..."

Ông chủ trương trở về với dân tộc, giữ lấy hồn dân tộc, thì dù có bị sóng vùi gió dập, ta cũng vẫn là ta, không bị vong thân và vong bản:
     
"Hãy trở về với nguồn dân tộc, với lòng hiếu hạnh vô bờ, tình anh em thắm thiết, tình bạn cao qúy, tình dân tộc mãnh liệt, thì trong cơn phong ba của đời có như phong ba của đại dương kia, sóng nhô lên thành núi, nhào xuống thành vực, chúng ta có nhỏ

như cái chai nhưng là cái chai được giữ cho kín đáo nên mặc cho phong ba gầm thét uy hiếp, cái chai đó vẫn nổi mà không chìm". (Người Việt Đáng Yêu).

     Làm sao để giữ nước và giữ được bản tính dân tộc như thế? Doãn Quốc Sỹ trả lời:
     
     "Cách giữ nước hiệu nghiệm là phải phát triển ngay khu rừng văn hóa. Quân địch không thể dẫm lên khu rừng này mà chiếm được đất. Quân địch càng không thể san phẳng khu rừng, vì nó bắt rễ tự trong tim óc của con người, chặt đi lập tức với cảnh máu đào xương trắng nó lại mọc lên xanh tốt hơn bao giờ hết"  (Khu Rừng Lau).

     Nặng lòng với đất nước và dân tộc như vậy, yêu quê hương và đồng bào như vậy, phấn đấu bằng văn hóa theo kiểu bất bạo động như vậy mà vẫn bị tù lên tù xuống vì tội "phản động"! Vậy quân địch là ai? Là ngoại xâm hay nội thù?

     Một nét nổi bật khác về phương diện tư tưởng trong các tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ   là ông luận nhiều về nỗi u hoài của tâm hồn người Việt. Đã từ lâu tôi vẫn thắc mắc là tại sao trong văn chương Việt Nam, cả văn chương truyền khẩu lẫn thơ văn viết, có rất nhiều bài mang nặng những nỗi buồn, khi nhẹ nhàng, khi đau sót.
Đêm cô đơn trong cảnh gió mưa, buồn đã đành
      Đêm qua chớp bể mưa nguồn
      Hỏi người tri kỷ có buồn hay chăng?
                                               (Ca dao)
     Ban ngày ban mặt, trời quang mây tạnh cũng buồn luôn
      Hôm nay trời nhẹ lên cao
      Tôi buồn không hiểu làm sao tôi buồn
                                               (Xuân Diệu)

Các nhà thơ cổ kim đều rất dễ buồn vì những lý do khó có thể gọi thành tên
      Đã buồn về trận mưa rào
      Lại đau vì nỗi ào ào gió đông
                               (Nguyễn Trãi)
      Vèo trông lá rụng đầy sân

      Công danh phù thế có ngần ấy thôi
                                             (Tản Đà)


Người Việt cũng có vẻ yếm thế, hay nói tới sự chết, đôi khi còn dùng cái chết để dọa nhau, để chì chiết nhau, kiểu "tao đánh mày chết bây giờ", "tôi chết cho mẹ con bà sướng nhé!", "anh mà bỏ đi thì em chết ngay tại đây bây giờ"... Không dọa dẫm ai, không làm "nư" với ai mà cũng thường buột miệng kêu: "chết cha rồi!". Trong thơ văn, cái chết được nói tới đủ kiểu, đủ tình huống nên càng có vẻ bi thương hơn
      Trăm năm còn có gì đâu
      Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì?
                                  (Nguyễn Gia Thiều)
      Năm canh máu chảy đêm hè vắng
      Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ
                                   (Nguyễn Khuyến)
Còn đang sống sờ sờ đã dặn dò việc sau khi qua đời
      Khi anh chết các em về đây nhé
     Vị chút tình lưu luyến với nhau xưa
                                    (Đinh Hùng)


Cô Thúy Kiều căn dặn em là Thúy Vân thay nàng nối duyên với Kim Trọng, và tuy còn đang ngồi húp bún riêu bún ốc với cô em đã trăn trối rằng khi chị chết đi, lúc nào em đốt hương trầm và đánh đàn cho chàng thưởng thức, lúc đó hồn chị sẽ lững thững hiện về
      Mai sau dù có bao giờ
      Đốt lò hương ấy, so tơ phím này
      Trông ra ngọn cỏ lá cây
      Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
                                  (Nguyễn Du)


Những huyền thoại và cổ tích Việt Nam cũng toàn là chuyện buồn. Khởi đầu là mẹ Âu Cơ với 100 con, 50 đứa lên núi theo mẹ, 50 đứa xuống biển theo cha. Gia đình đầu tiên của con Hồng cháu Lạc đã nếm cảnh chia ly. Rồi tới những cổ tích Trầu Cau, Trương Chi Mỵ Nương, Thiếu Phụ Nam Xương, Hòn Vọng Phu... đều là những chuyện tình buồn. Tuy tâm trạng buồn không phải là độc quyền của dân tộc ta vì chính "mối sầu vạn cổ" đã là nguồn cảm hứng cho biết bao tác phẩm nghệ thuật của nhân loại. Văn hào Pháp Jean d'Ormesson đã phát biểu: "Chính mối u sầu

đã làm nên nhà văn. Chính mối u sầu đã khiến người ta viết, vẽ, chơi nhạc. Đó là những giọt lệ đổ xuống trên những ước vọng được hình thành" (C'est le chagrin qui fait un écrivain. C'est le chagrin qui fait un homme écrire, peindre, faire la musique. Ce sont des larmes versées sur les voeux exaucés – Truyền hình TV5 Canada 2-4-2003). Nhưng tại sao người Việt Nam có vẻ mang tâm trạng buồn nhiều hơn các dân tộc khác? Có lẽ tại tâm hồn người Việt nhạy cảm, dễ động lòng với những đoạn trường éo le và thích suy diễn chuyện người ra chuyện ta: "Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa", "Thấy người nằm đó biết sau thế nào?"  Có lẽ những cảnh loạn lạc, chia ly, Nam Bắc phân tranh, di dân lập ấp, hết di cư lại tới vượt biên, nên nỗi buồn tiềm ẩn trong tâm hồn người Việt chỉ chờ dịp là bộc lộ?

Doãn Quốc Sỹ đã dụng công giải thích lý do tại sao tâm hồn người Việt luôn luôn nặng nỗi buồn:
    
 "Huy không ích kỷ dừng lại ở nỗi đau khổ của mình, chàng nghĩ đến nỗi đau khổ chung của dân tộc, rồi chàng tự hỏi: Người Việt tự ngàn xưa vẫn tích cực đuổi giặc giữ nước bền bỉ, nhưng tâm hồn Việt sao nặng u hoài? Phải chăng đó là sư lắng đọng từ vạn cổ bao nhục nhằn mà dân tộc đã phải chịu đựng khi chờ thời, trong đó có loại nhục nhằn mà người đàn bà Việt như Khanh đã từng chịu đựng (bị ngoại nhân hãm hiếp rồi tự tử chết – MG chú). Rồi Doãn Quốc Sỹ xác định: "và cũng do kinh nghiệm bản thân đó, chàng mới thâm hiểu được một cách châu đáo nếp sống của dân tộc mình chiến đấu anh dũng là vậy mà trong các tác phẩm văn nghệ để lại vẫn thoáng gợn đây đó những nét sầu vạn cổ". (U Hoài).

Một khía cạnh khác của nỗi buồn Việt Nam cũng được Doãn Quốc Sỹ nêu lên, đó là nỗi buồn quy chiếu vào tình yêu:
    
 "Luôn luôn đứng ở thế chênh vênh đương đầu với cái chết, đương đầu với họa diệt vong, nên càng thiết tha với sự sống. Và cái sống thiết tha nhất còn gì hơn ái tình? Luôn luôn tâm hồn cũng như xác thịt bị mài giũa trong thiên ma bách triết của cuộc đời nên tình yêu biến thành nguồn an ủi vô tận". (Nét Sầu Và Niềm Tin Trong Thi Ca Việt Nam, trong Người Việt Đáng Yêu).

Buồn nên tìm tình yêu, nhưng càng yêu nhiều càng khổ nhiều và lại càng buồn nhiều. Ngay "khi vui xum họp đã sầu chia ly", huống chi còn nửa đường đứt gánh. Chia ly và đứt gánh là những chuyện thường xảy ra trên quê hương nghèo khó và loạn lạc triền miên. Nỗi buồn đầy dẫy trong ca dao và bài ca dao hay nhất là bài ca dao buồn
      Đêm qua ra đứng bờ ao
      Trông cá cá lặn trông sao sao mờ
      Buồn trông con nhện giăng tơ
      Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai?
      Buồn trông chênh chếch sao mai
      Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?
      Đêm đêm tưởng giải Nhân Hà
      Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm tròn
      Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
      Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ


Giáo sư Thanh Lãng đã bình bài ca dao trên như sau:
      "Cảnh lặng lẽ thô sơ, rời rạc ấy là tất cả hình ảnh một tâm hồn đau đớn vì xa vắng. Cái câu kết thực là không kết gì hết: nó lơ lửng như gió chiều về trên cánh đồng vắng. Nhưng kỳ thú biết bao, tuyệt vời biết bao! Cũng như tất cả bài, nó nhả ra một cái gì mơ màng, lờ lững nhưng buồn thấm thía"  (Thanh Lãng – Văn Chương Bình Dân – trang 103, PVTH xuất bản 1954).
Doãn Quốc Sỹ cũng đồng ý với những nhận xét của Thanh Lãng nhưng ông còn "tán" rộng hơn:
     
"Khung cảnh khởi đầu bài ca dao không phải chốn kinh kỳ gió bụi mà là khung cảnh yên tĩnh trên bờ ao một làng Lạc Việt. Có được bối cảnh yên tĩnh nơi thôn dã đó, tâm hồn mới trầm tĩnh mở rộng để suy tư cùng vạn vật. Có suy tư cùng vạn vật mới có thể nhìn vạn vật bằng tâm tưởng. Thật vậy chỉ nhìn bằng tâm tưởng mới có thể vào lúc đó "thấy" được "Trông cá cá lặn trông sao sao mờ". Cũng như chỉ nhìn bằng tâm tưởng mới có thể thấy vào lúc đó "con nhện ngừng giăng tơ"...
   
  "... nỗi niềm của con người thoạt khởi đầu thương mình rồi thương lây cả vũ trụ trần hoàn, một tình thương sao mà thấm thía! Rồi cả người thương với tình thương đó cùng với vũ trụ sao

mờ kia hòa làm một, không phân biệt đâu là chủ đâu là khách nữa... nỗi buồn đó tác giả đã kéo lê thê đêm này qua đêm khác". (Nét Sầu Và Niềm Tin Trong Thi Ca Việt Nam).

Buồn riêng, buồn chung, rồi buồn với cả vũ trụ. Nỗi buồn của người Việt Nam ghê gớm thế, trách chi Doãn Quốc Sỹ đã phải viết nguyên cả một tác phẩm để nói về U Hoài. Hướng thiện và hướng thượng cũng là những ý tưởng nổi bật trong các tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ. Có thể nói Doãn Quốc Sỹ xây dựng cốt truyện và nhân vật xoay quanh ý tưởng hướng thiện. Người đọc thấy đa số những nhân vật của Doãn Quốc Sỹ là những người tốt, tốt qua hành động, suy nghĩ và tốt cả trong lời nói. Cái tốt ở đây vừa là cách đối xử với nhau có tình người vừa quy hướng về điều thiện mà tác giả cho là vàng ngọc của tâm hồn:
     
"Hãy dừng lại nơi thiện chí chân thành của nhau! Hãy gìn giữ cho nhau khỏi sa ngã! Dại gì mà dồn nhau vào thế cùng để rồi cất lời phê bình bi quan: tình người vụ lợi? Hãy giúp nhau thổi thêm ánh sánh vào những lúc hồn chợt lóe bình minh để cùng chia vui giây phút thiên thần. Như thế mới là thái độ trân trọng, thái độ gìn vàng giữ ngọc cho nhau, vàng ngọc của tâm hồn". (Gìn Vàng Giữ Ngọc).

Đó là đối với tha nhân. Còn đối với chính mình thì Doãn Quốc Sỹ chủ trương tìm sự bình an cho tâm hồn. Cái tâm là trọng. Một khi tâm an và biết hướng thiện thì chẳng những mình được hạnh phúc mà còn hòa đồng được với cái tâm đại ngã của vũ trụ
     
"Nhàn tại tâm mà! Cả một đời mình khoái làm việc thiện, tuổi già như nằm êm ấm trên nệm bông, dù giầu hay nghèo...
     
"Nhất định ta có thể yên tâm đến ba kiếp khi ta thổi bùng một đốm lửa tâm linh thành cả một vùng hào quang chiếu sáng tâm hồn... Thế giới này là nơi cộng đồng trách nhiệm mà! Khi cái Đẹp, cái Thiện đã được khơi nguồn, thắp sáng, người ta dễ bề mở rộng cái tôi cá biệt đi vào cái ta hòa đồng". (Người Vái Tứ Phương).

Những ý tưởng trên phảng phất mùi Đạo Đức Kinh của Lão Tử  và cũng không xa lối tu thân của nhà Phật bằng cách từ bỏ tham, sân, si để giải nghiệp và bớt kiếp luân hồi. Doãn Quốc Sỹ không bàn về đạo lý cho vui chuyện. Ông bàn như một nhà thuyết giáo có niềm xác tín. Ông không ngần ngại đặt vào miệng những nhân vật của ông những lời diễn tả niềm tin vào Trời Phật, nhất là vào miệng một bà cụ (có thể là chính cụ từ mẫu của ông) đã xa con cháu từ lâu, nay được gặp lại:
     
"Suốt từ 1954 đến nay có ngày nào đêm nào cụ quên niệm Phật đâu...'Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát độ cho gia đình con sinh tâm hiền, diệt tâm tham, trên thuận dưới hòa một nhà êm ấm ...' Cụ há đã chẳng từng nói nhiều với mọi người về việc cụ được gặp thằng trưởng: 'Thật là Trời Phật tận thương tận độ tôi mới được gặp cháu nó... Mẹ con được gặp nhau!'"  (Đi).

Hãy để ý chữ "Trời" đi liền với chữ "Phật". Người Việt Nam tin Trời nhưng cũng tin Phật. Vì vậy Phật được gắn liền với Trời, sắp ngang hàng với Trời để cầu xin cho tiện và đồng thời biểu lộ một đức tin đa thần, đa dạng, một nét đặc biệt trong tinh thần khoan dung tôn giáo của dân tộc Việt Nam. Tôi nghĩ Doãn Quốc Sỹ cũng chủ trương như vậy. Vì thế, khi đề cao việc hướng thiện, ông cũng hô hào hướng thượng, hướng về một niềm tin vào những đấng linh thiêng. Ông không chủ trương độc thần, nhưng đa thần. Tên gọi không quan trọng. Đức tin mới cần cho con người:
    
 "Tôi nghĩ rằng điện thờ xây cất lên để cụ thể hóa niềm tin của tâm hồn, tin vào một cái gì thiêng liêng ở trên con người.

 "Người ta có thể nói khác nhau là tin ở Trời ở Thượng Đế, ở Phật, ở Đức Thánh Trần, ở Tận Thiện, Tận Mỹ v.v... cái đó có hề gì, miễn là có đức tin.

 "Con người gần đây coi thường công lý và bác ái, say mê trong lọc lừa chém giết há chẳng vì tâm hồn họ không có thiết lập một bàn thờ của niềm tin?"  (Tiếng Địch Quê Hương).

Có thể nói niềm tin tôn giáo của Doãn Quốc Sỹ đi theo truyền thống "Tam giáo đồng nguyên" của dân tộc. Ông cũng vượt qúa cái "tam" để nói đến Thương Đế. Như vậy có nên nói lại là Doãn Quốc Sỹ chủ trương "Đa giáo đồng nguyên"?

Ở những phần trên, tôi đã trình bầy sơ lược những cái "thích" của tôi khi đọc văn Doãn Quốc Sỹ. Ngoài cái thích, tôi còn được học hỏi nhiều về nghệ thuật viết văn, kiến thức và những suy tư của tác giả. Bây giờ tôi phải nói tới một đôi điều tôi không thích lắm, không phải để phê bình, nhưng để biểu lộ trung thực những cảm nhận của một độc giả.

Trước hết, tôi không thích việc Doãn Quốc Sỹ bình luận về thời sự chính trị (dù ông có toàn quyền) trong những tác phẩm văn chương của ông. Nếu ông viết riêng những cuốn bình luận chính trị lại là chuyện khác. Bình luận thời sự chính trị trong văn chương sẽ làm hại tác phẩm vì văn chương thì muốn được trường tồn, còn thời sự chính trị thì mau chóng bị vượt qua. Thí dụ trong tiểu thuyết DẤU CHÂN CÁ XÓA (1974), Doãn Quốc Sỹ đã đưa ra nhận định sau đây:
     
"Thực dân Pháp đã thất bại, chính sách Mỹ tính chuyện dùng Quốc Tế Đen chống lại Quốc Tế Đỏ. Thứ Quốc Tế Đen lạc hậu thời ông Diệm đã bị ngọn lửa Quảng Đức làm tiêu điểm thu trọn sức nóng quốc gia Việt Nam thiêu rụi. Chính sách Mỹ bèn có ý định dùng Quốc Tế Vàng chống lại Quốc Tế Đỏ...". Từ đó ông ngỏ ý than phiền là những người quốc gia, những phần tử dân tộc đích thực không được Pháp và Mỹ xử dụng để chống cộng.

Thời cuộc có chứng minh những nhận xét trên đây phản ảnh đúng thực tế hay không? Chế độ ông Diệm có thực sự đại diện Quốc Tế Đen (ám chỉ Thiên Chúa Giáo bằng lời không mấy đẹp) hay không? Một số sư sãi tham gia chính trị có thực sự đại diện Quốc Tế Vàng (ám chỉ Phật Giáo) hay không? Đồng ý là Mỹ chỉ muốn lợi dụng ông Diệm (và những người chống cộng) cũng như một số sư sãi để thực hiện chiến lược của Mỹ, lợi dụng mỗi nhóm một cách khác nhau, nhưng trước khi trách Mỹ, ta nên nhìn đến ta trước: chính ta, vì nhu cầu chống cộng hay vì tham vọng phe phái, đã để cho Mỹ xử dụng kiểu vắt chanh bỏ vỏ, đã

rơi vào bẫy cộng sản và bị cả cộng sản lẫn đồng minh đánh lừa? Kết quả: Mỹ rút được chân ra khỏi vũng lầy, cộng sản đóng vai ngư ông đắc lợi, Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo đều trở thành nạn nhân cùng với cả dân tộc, không còn phân biệt đen hay vàng nữa. Còn những phần tử quốc gia dân tộc đích thực, họ là ai? họ ở đâu? Tại sao họ bằng lòng chấp nhận bị gạt ra ngoài? Tại sao họ không thể tạo một thế đứng riêng để giữ nước, bảo vệ dân tộc, không tùy thuộc ngoại bang? Hay thực tế là đa số trong bọn họ đã xếp hàng theo bên này hoặc bên kia, khi được ân sủng thì ngậm miệng, khi bị thất sủng thì kêu réo, phê bình, cái gì hay thì nhận là công của mình, cái gì dở thì đổ lỗi cho người khác? Chỉ một nhận định chính trị nhỏ như trên đã gây nên rất nhiều thắc mắc. Cãi hoài cũng không cùng. Tác phẩm văn chương không nên rơi vào mê đồ trận này.

Một việc khác là Doãn Quốc Sỹ, vì tính đôn hậu và tin người, đã dành nguyên phần bốn của tác phẩm NGƯỜI VIỆT ĐÁNG YÊU (1965) để làm quảng cáo cho thiên khảo luận "Đôi Mắt Và Nụ Cười Của Người Việt" của tác giả Pazzi người Ý nào đó. Nếu tác giả này là người có thật thì không nói làm chi. Nhưng Pazzi lại có một tung tích qúa mù mờ, được dịch giả là cô Hồng Cúc (?) cho biết tác giả là một người Ý đã sống ở Việt Nam 20 năm. Một người bà con của cô Hồng Cúc ở Pháp đọc được, thích qúa, liền dịch sang Pháp văn rồi gửi về cho cô Hồng Cúc dịch ra tiếng Việt, đăng liên tiếp 20 kỳ trên nhật báo Đất Tổ ở Sài Gòn năm 1965. Doãn Quốc Sỹ nghe vậy biết vậy và cũng không biết là bản dịch Pháp ngữ đã được đăng ở Pháp chưa. Vậy mà ông vẫn tin người giới thiệu. Họ bám riết ông để nhắc nhở ông đọc và viết về tác phẩm của Pazzi. Ông đến báo Đất Tổ ngày 3-6-1965 để tìm bài dịch. Tại đây, "Tôi gặp anh Vũ Hạnh và cô Minh Đức Hoài Trinh đã xếp cho tập báo từ số 1 đến số 20".

Tác phẩm được gọi là của Pazzi được tung ra vào đúng thời điểm quân Mỹ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam để giúp miền Nam chống cộng. Tác phẩm đề cao người Việt Nam hết lời, nhưng luôn luôn với hậu ý. Khen vẻ đẹp của người Việt thì đó "chính là khuôn mặt rám nắng, khắc khoải những lo âu cùng những hy vọng, khuôn mặt linh động và phong phú của những kẻ đang viết những trang sử lớn, khuôn mặt do qúa trình gian khổ và sức quật

cường lớn lao tạo thành". Khen trình độ phản ứng luân lý của dân quê Việt Nam thì đem so sánh với dân quê Pháp, Mỹ để chê rằng Pháp, Mỹ "vô luân" hơn dân Việt. Khen Việt Nam chỗ nào cũng có anh hùng không khác gì văn chương Hà Nội đã có thời cường điệu ra ngõ là gặp anh hùng: "Một người Việt Nam hết sức đáng yêu bảo với tôi rằng: ' Ở trên đất nước chúng tôi, nơi nào cũng có anh hùng. Hãy đi vào các xóm làng, hỏi các nấm mồ và các bờ cây hốc đá, qúy ngài sẽ nghe kể lể biết bao nhiêu chuyện phi thường về giống nòi Việt' ". Cần phải khen Việt Nam có nhiều anh hùng để dọa quân Mỹ xâm lược: "Chúng ta đã từng nói đến những kẻ thù khá quan trọng không ngừng đe dọa Việt Nam. Dân tộc Việt Nam chính là dân tộc duy nhất trên địa cầu này đã chiến thắng những kẻ xâm lược có khuôn mặt lớn lao nhất trong lịch sử loài người".  Sao mà tác phẩm của Pazzi lại phù hợp với giai đoạn "chống Mỹ cứu nước" đến thế?  Sau này người ta mới phát giác ra là chẳng có ông Pazzi nào cả, chỉ có ông Vũ Hạnh cũng là cô Hồng Cúc đã viết ra loạt bài khảo luận này để  đăng trên báo Đất Tổ của ông Vũ Hạnh từ số đầu ra mắt. Mọi người đều biết Vũ Hạnh là một nhà văn cộng sản nằm vùng. Chính ông ta là một trong những người có trách nhiệm lập danh sách các văn nghệ sĩ miền Nam để bắt đi tù cải tạo sau 30-4-1975. Trong danh sách đó có Doãn Quốc Sỹ. Khi viết về việc này, tôi không có ý trách Doãn Quốc Sỹ. Tôi vẫn tôn trọng mọi ý kiến của riêng ông dù có những điều tôi không đồng ý. Tôi chỉ muốn nói lên điều này: Văn chương làm cho người ta dễ gần lại với nhau, còn chính trị dễ làm cho người ta xa nhau. Tuy nhiên, tôi cũng hiểu rằng không phải lúc nào cũng có thể tách bạch rạch ròi giữa chính trị và văn chương.

Sau những năm dài đọc văn Doãn Quốc Sỹ, tôi còn giữ được gì về ông, về văn chương của ông?  "Văn tức là người". Quả vậy, đọc văn Doãn Quốc Sỹ người ta có thể thấy được con người tác giả, một người hiểu rộng biết nhiều nhưng không kiêu căng, một người tính tình hòa nhã, đôn hậu, có tình người, nặng tình dân tộc, luôn hướng về chân, thiện, mỹ. Văn của Doãn Quốc Sỹ làm cho người đọc thích thú, rung động, nhưng cũng để lại cho người đọc những điều phải suy nghĩ, không phải gấp sách lại là quên hết. Đó là nét đặc biệt và cũng là sự thành công của ông. Chỗ đứng của Doãn Quốc Sỹ trên văn đàn Việt Nam đã được xác

định. Người ta thường kể ông chung với nhóm Sáng Tạo. Nhưng theo nhận xét của tôi, ông không có nhiều đặc điểm "Sáng Tạo" như Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo v.v... Xin đừng hiểu "Sáng Tạo" theo nghiã đen. Doãn Quốc Sỹ có lối sáng tạo riêng, không theo ai, không bắt chước ai, không thuộc trường phái nào. Ông là một nhà văn có tầm nhìn ra thế giới bên ngoài nhưng vẫn là một nhà văn Việt Nam gần gũi với tâm tình Việt Nam, cách ứng xử Việt Nam, trân trọng với những con cò lặn lội bờ sông, gánh gạo theo chồng tiếng khóc nỉ non. Doãn Quốc Sỹ đúng là một vệ binh gìn giữ văn hóa dân tộc.

Calgary, Canada, tháng 8 – 2006
MẶC GIAO


Duyên Tri Ngộ


- Hồng Vũ Lan Nhi -

Càng ngẫm nghĩ tôi lại càng thấy sự gặp gỡ nhau trong cuộc đời này, phải có một cơ duyên. Cơ duyên ấy, đã đưa đẩy chúng ta từ xa lạ trở thanh thân thiết. Biết bao người đã từ không quen, trở thành quen, rồi thân, rồi thành bạn tri âm tri kỷ.

Tôi nhớ lại chuyến đi Texas cùng với Ngọc An và Việt Hải. Chủ đích của chuyến đi là để ra mắt sách Nam Phong do nhóm chúng tôi thành lập gồm Ngọc An, Việt Hải, Duy Văn và tôi (Hồng Vũ Lan Nhi). Chuyến đi chỉ có 3 người, vì anh Duy Văn bận công việc. Trước đó, tôi và Việt Hải cũng chưa biết nhau. Nhờ vụ ra mắt thi phẩm Hoài Niệm của tôi, người bạn cùng trường Trưng Vương là Cao Mỹ Nhân đã giới thiệu tôi với Việt Hải, để nhờ anh viết lời giới thiệu. Qua Việt Hải, tôi lại quen thêm Ngọc An. Duyên văn nghệ đã đưa chúng tôi đến gần nhau hơn.

Để tiện việc đưa đón ra phi trường John Wayne, Ngọc An từ San Jose, Việt Hải từ Canoga Park đã xuống vùng Orange County ngủ đêm tại nhà tôi. Buổi họp mặt bất ngờ có thêm anh Lê Đình Hải, anh Phạm Gia Cổn, và câu chuyện văn chương đã thêm phần phong phú và hào hứng khi mọi người được thưởng thức món bún bò Huế của anh Hà Phương Hoài nấu ngon tuyệt.

Và chiếc phí cơ Boeing 747 đã đưa chúng tôi từ miền Cali nắng ấm tới phi trương George Bush của Houston nắng cháy nhưng rất tình người.

Ra đón phái đoàn (nói cho ra vẻ oai oai một chút) có anh Tạ Xuân Thạc, và một người bạn nữa là anh Vũ Tiến Thăng. Chuyến đi này, tôi hoàn toàn xa lạ với các nhân vật, mà sau này lại là những người cùng chúng tôi hoạt động trong duyên văn chương với Văn Đàn Đồng Tâm.

Anh Thạc đưa chúng tôi về nhà nghỉ ngơi, ăn uống. Tôi được biết thêm chị Lê Kim anh, phu nhân của anh Thạc,  chị cũng viết văn và còn nấu ăn cũng giỏi không kém gì khi chị viết. Trong bữa ăn tại nhà anh chị Thạc chiều đó, tôi lại được biết thêm nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Ông hiền lành, nhã nhặn và ít nói. Ông chỉ nói khi cần phải đưa ra một ý kiến gì. Tôi bỗng nhớ đến chuyện Dòng Sông Định Mệnh mà tôi đã đọc từ khoảng năm 60, 61, do "cố nhân" tặng, vì trong câu chuyện hai nhân vật chính sinh tại hai tỉnh giống như quê của hai đứa chúng tôi, chàng quê Bắc Ninh, nàng quê Ninh Bình . . .và không ngờ đoạn kết của chuyện tình chúng tôi lại cũng giống y chang chuyện của hai nhân vật chính trong câu chuyện, 1à hai người xa nhau, mỗi kẻ một phương trời. Khi đọc chuyện, tôi chẳng bao giờ nghĩ có ngày độc giả là tôi lại được hân hạnh ngồi nói chuyện với tác giả là nhà văn Doãn Quốc Sỹ trong bầu không khí cởi mở, thân tình tại miền đất nóng ấm tình người của xứ cao bồi Texas.

Suốt trong tuần lễ ở Houston, tôi còn có cơ duyên gặp thêm Bạch Hạc, Lan Quỳnh, anh Đào Vũ Anh Hùng, Linh Phương, anh chị Trang Sĩ Phước, và nhiều, nhiều người khác nữa mà tôi chưa được hân hạnh quen biết trước đây, trong đó có vợ chồng người cháu ruột của Ngọc An, đã cho tôi ăn ở trong mấy ngày ở Houston, để dễ dàng di chuyển cùng với Ngọc An khi Lan Quỳnh đến đón đưa đi công việc.

Sau chuyến di Texas, tôi đã có thêm nhiều bạn mới. Do đó, khi nhà văn Doãn Quốc Sỹ,  nhân chuyến thăm viếng Cali nắng ấm tình nồng, tôi đã có dịp được đón tiếp nhà văn cùng các văn thi hữu của ông tại nhà tôi, trong bữa cơm thân mật. Hôm đó, ngoài sự hiện diện của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, còn có sự hiện diện của giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, giáo sư Lê Xuân Khoa, anh Trần Nhất Lang, anh Hà Phương Hoài, Trần Việt Hải, Bích Huyền,

Ninh Thuận. Chỉ có một điều đáng tiếc, là tôi đã không liên lạc được với anh Ngọc Linh để nhờ anh cho nói chuyện theo đường dây ba chiều với anh Lê Hữu Mục bên Canada với các nhà văn Doãn Quốc Sỹ và giáo sư Lê Xuân Khoa.

Nhắc đến nhà văn Doãn Quốc Sỹ, ai ai cũng mến mộ, và khâm phục tinh bất khuất của ông, khi ông bị đi tù cải tạo. ông đã tỏ ra cái khí phách của người quân tử, dù ở trong hoàn cảnh nào, ông cũng giữ cho mình được trong sạch khác gì bông hoa sen sống trong bùn mà không bị hôi tanh mùi bùn.

HỒNG VŨ LAN NHI



Từ Tâm Doãn Quốc Sỹ


- Hà Phương Hoài -

Là Người Việt Đáng Yêu
Giữ bóng gương nhiễu điều
Quyết Gìn Vàng Giữ Ngọc
Chiếc chiếu hoa cạp điều

Trên Dòng Sông Định Mệnh
Điqua Khu Rừng Lau
Muôn Trái Cây Đau Khổ
U Hoài cõi  lòng đau

Từng bước Đốt Biên Giới
Mong Cánh Tay Nối Dài
Chẳng Cúi Đầu chịu nhục
Khi dân ta Sầu Mây

Chính trường là Gánh Xiếc
Sợ Lửađỏ quê hương
Cho Cò Đùm trăn trở
Mình Lại Soi Mình thương

Để tránh Hồ Thùy Dương
Làm Người Vái Tứ Phương
Khơi lên Lòng nhân ái
Mưa Ảo Ảnhdặm trường

(Người)  Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến
(Những) Ngã Sông Trên Giòng Đời
(Cho ta trọn) Tình Yêu Thánh Hóa
(Khắc khoải) Tiếng Hú Tâm Linh ơi!

Kìa Khu Vườn Bên Cửa Sổ
Không Trái Đắng Tràng Sinh
Là Dấu Chân Cát Xóa
Ta Vào Thiền lặng thinh

Hà Phương Hoài


Nắng bên kia trời, đồng vọng mênh mông…


- Hoàng Huy Giang  -

Nắng dao động từng giọt nhảy múa ngoài khung cửa. Nhạt nhòa chừng như muốn phai đi. Không xa những cành thông chốc chốc rung rinh, nghiêng mình, chênh chao trong phiến gió. Tôi ngồi thật lâu ngắm nhìn bóng nắng của một buổi chiều dần dà tàn lụi dưới ráng chiều đỏ thẫm. Tôi vẫn chăm chăm nhìn để rồi nhìn. Những con chim chao lượn trong khoảng không đồng vọng. Ngoài xa kia, dòng sông đang chảy chậm. Cuộc đời trầm mặc bỏ ngỏ bên dòng luân lưu của vũ trụ, sóng sánh tháng ngày. Tôi vốn hay nâng niu kỷ niệm, mến thương dĩ vãng, hân hoan với hiện tại và niềm nở với tương lai nên tôi thường tìm tôi trong những ngăn tủ của tâm thức; trở về với cội nguồn tâm linh để nô đùa với bóng, để hạnh ngộ với lòng. Với tôi, mọi hình ảnh trong đời tự mang một sắc thái nào đó nên tôi luôn thích chắt chiu, gìn giữ.

Và chiều hôm nay, dưới bóng chiều quay quắt tôi ngồi nhìn lại vòng quay của tháng ngày. Tôi bắt gặp lòng mình đang giao lưu trên "dòng sông định mệnh" ngày ấy. Vâng! tác phẩm "Dòng Sông Định Mệnh" của nhà văn Doãn Quốc Sỹ là tác phẩm đầu tiên tôi đọc trong loạt sách của ông. Tác phẩm đã để lại trong lòng tôi nhiều băn khoăn, khắc khoải, nhiều trở trăn, dùng dằng trong lòng cô gái thanh xuân đang chập chững bước vào đời.

Tôi có được quyển sách này là do một người bạn học thân thương của tôi tặng. Không những mê đọc sách tôi lại còn thương sách, thương từng trang, từng chữ mà tác giả đã dàn dựng để lòng mình có dịp giao lưu. Dù mấy mươi năm đã trôi qua giờ hồi nghĩ lại tôi vẫn còn cảm thấy sự rung động hôm nào,

một hoài cảm ngu ngơ. Tôi thấy tôi chừng như đang lặn ngụp trong một dòng sông, mặc gió mặc mưa mặc bão táp bít bùng, mặt nước sông cứ phẳng lặng im ru.

Dòng sông ấy nghìn năm và mãi mãi
Đến nghìn sau chẳng có thể nhòa phai (*)

Mỗi dòng chữ trong "Dòng Sông Định Mệnh" là một nỗi niềm trắc ẩn. Mỗi ý niệm là một ngăn tủ chất chứa bao tâm sự, tiềm ẩn một hoài vọng, ước mong, mênh mông trải rộng đã lôi cuốn tôi vào lộ trình của nhiều tác phẩm khác của ông. Vâng! Dòng sông định mệnh ngày đó chính là con sông Bến Hải mà ai kia đã tàn nhẫn cắt đôi đất nước, kẻ bên này, người ở lại bên kia. Những hình ảnh trong "Dòng Sông Định Mệnh" ngày ấy đã dấy lên trong hồn thiếu nữ nơi tôi những xao động, ngỡ ngàng. Đêm ôm quyển truyện ngấu nghiến từng trang để thấy tiếng thở dài nhè nhẹ của sóng nước lăn tăn; tiếng tỉ tê, tiếng nấc nghẹn của triều lưu đâu đó như tiếng đàn bầu thả xuống âm thanh hụt hẫng cuối cùng giữa khoảng không mờ khói.

Dòng sông ấy giờ đã xa xôi nhưng lòng người chừng như còn trăn trở suy tư, còn khắc khoải, mắt vẫn dõi trông về nơi cố quận mong sao có một ngày sáng lạn để đất nước thôi oằn oại, để đồng bào hết khổ đau. Nhớ lại thời buổi ấy, sự ra đời của tác phẩm "Dòng Sông Định Mệnh" chừng như là tiếng thở than theo cơn gió dạt cánh đồng xanh. Tiếng thở than đánh động lòng người. Và tác giả vẫn mặc nhiên ngẩng cao đầu, tin vào một ngày mai với ánh mắt tràn đầy hi vọng, với niềm tự hào của một kẻ sĩ luôn dùng ngòi bút của mình để quật mồ chí khí đấng nam nhi. Vâng! Chí khí ông vững mạnh. Con người ông cương quyết. Và Linh Mục Trần Cao Tường sau này đã viết về Doãn Quốc Sỹ như sau:

'. . . . . . . . Ông hướng về tương lai với niềm tin sâu sắc vào sức

sống mạnh mẽ của dân mình, và quả quyết: "Cái ác đến rồi đi, mưu mô xảo quyệt thể hiện rồi tàn lụi ".

Thế là sau khi nghiền ngẫm tác phẩm "Dòng Sông Định Mệnh", truyện dài đầu tay của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, một nhà mô phạm có duyên mệnh với văn chương, ngày ấy, tôi đã lần lượt tìm đọc nhiều tác phẩm khác của ông như "Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều", "Gìn Vàng Giữ Ngọc" và mấy năm sau là bộ trường thiên tiểu thuyết "Khu Rừng Lau" gồm bốn tác phẩm "Ba Sinh Hương Lửa", "Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến", "Tình Yêu Thánh Hóa" và "Đàm Thoại - Độc Thoại" và tác phẩm "Sầu Mây". Càng đọc tôi càng cảm thấy tôi như một nhà thám hiểm đang đi sâu vào kho tàng văn chương quý báu của nền văn học Việt để tìm hiểu thế giới nội tâm cũng như ngoại hình của thân thể quê hương dấu yêu. Và tôi đã tìm thấy tự tình dân tộc man mác trong các tác phẩm của tác giả qua những tình tiết, những bối cảnh mang đầy dân tộc tính được lồng vào câu chuyện qua văn phong của ông.

Trong cuộc rong chơi chữ nghĩa tôi vẫn phiêu lưu kiếm tìm những hình ảnh, những nhân vật trong truyện, thăm dò tâm thức của người viết để rồi như một định mệnh tình cờ tôi đã tìm thấy một cái gì đó khác người. Vâng! khác thật là khác. Mà sự khác thường này hiếm hoi trong đời thuờng đó là tình người, chập chờn giữa bóng sắc phù du. Tôi dọ dẫm tìm kiếm những cái không mà có, những cái có mà không giữa tầng lớp tinh túy được chắt lọc. Dù bụi thời gian qua bao nhiêu tháng năm đã tầng tầng, lớp lóp khỏa lấp những cảm xúc lần đầu trong tôi như sương chiều đổ xuống nhưng tôi vẫn còn có thể tìm thấy nét bàng hoàng đâu đó chừng như còn réo gọi giữa lòng. Cái cảm giác nghèn nghẹn, nửa tuôn trào, nửa hững hờ, nửa ngu ngơ, nửa xúc động chừng như vẫn lấp ló đâu đây khi tôi nhớ về bộ "Khu Rừng Lau" mà tôi đọc ngày ấy.

Và bao nhiêu năm chừng như vẫn cứ trôi giữa dòng đời sóng

 sánh. Để rồi cho đến năm ngoái, 2005, sau khi đọc lại tác phẩm "Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều" do ông gửi tặng để đăng trong Đặc San Hội Văn Học Nghệ Thuật Nam Úc, tôi lại bắt gặp nơi mình những dao động ngày xưa, dù không còn mạnh mẽ như khi tôi đọc lần đầu. Hầu như trong các tác phẩm của ông người đọc tìm thấy mối giao cảm thiên nhiên, mối giao cảm tâm linh tràn đầy tính nhân bản kết hợp qua bề dày và chiều sâu của nội dung.
"... Gió hun hút giật từng cơn buốt như dao cắt từng mảng thịt hở". . . . . "Chiều ngả mầu xẫm. Gió bấc rít trong bụi tre già làm nền cho tiếng khàn khàn của lũ quạ lục đục trong tổ, gió bấc xoáy từng vòng cuồng loạn dứt từng vốc lá tre, lá bưởi vàng úa rồi lại nhào vút mất hút ra ngoài cánh đồng bát ngát và hiu quạnh". . . . "Sang hạ tuần tháng chạp, suốt ngày mưa phùn gió bấc lạnh như cắt ruột. Không hiểu là vì rét nhiều hơn hay vì chúng tôi đã bắt đầu giảm khẩu phần! Chiếc chiếu mẹ tôi vớt ở lạch đắp cho thằng em út đã rách sơ sác. Trong khi gia đình tôi giật gấu vá vai tìm cách nhường nhau miếng cơm manh chiếu . . ."   bàng bạc đó đây trong "Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều". Để rồi từ đó cái tâm của con người được khai phóng về phương diện đạo đức và trí tuệ.

". . . . . . . . Cũng kể từ sau ngày xảy ra chuyện đó, thái độ tôi đối người đời khác xưa nhiều. Tôi thận trọng tránh mọi thái độ hẹp hòi, kiêu ngạo ích kỷ, sắc cạnh. Lòng dễ xúc động, tôi thương người như thương chính thân mình vậy. Tôi thương những em nhỏ sớm phải lăn lưng vào cuộc đời để tự nuôi sống, tôi thương những người đói khát ham ăn ham uống, tôi thương những hình ảnh lam lũ một sương hai nắng, những hình ảnh nghèo túng giật gấu vá vai, tôi thương những kẻ thù dân tộc hôm qua, ngày nay thất thế ngơ ngác đi giữa kinh thành.

Ở thế giới thực dân tư bản người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn; ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân

loại chỉ có thể mua được bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.
Thấy tôi hằng kiềm chế được nóng giận và nhất là vẫn mỉm cười khi ứa nước mắt, các bạn thân thường khen tôi có thái độ hồn nhiên của Trang-Chu . . . ."
          (Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Doãn Quốc Sỹ)

Phải là những người đã giăng mình trong khói lửa, đã ròng rã với chiến tranh qua bao tháng năm mới thấy rõ bề trái, mặt phải của cuộc đời, mới nhận chân được đâu là thiện và đâu là ác.

 ". . . .Trong óc tôi thoáng hiện những cảnh chợ bị phi cơ tàn phá, những hình người không kịp xuống hầm bị đạn chết gục bên cột lều tay còn quờ ôm những đồ hàng của mình, những hình người bị bom napalm thiêu rụi như những thân chuối cháy đen.... . ."

". . . . Trong cái điên ba của một cuộc thế lọc lừa phản trắc, người ta dày xéo lên tình người, điềm nhiên hy sinh xương máu đồng bào đồng loại nơi này cho quyền lợi thực dân, nơi kia cho học thuyết giai cấp. Tôi không ghê tởm những bộ mặt lãnh tụ
như chúng sao được?. . ."                                                        (Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Doãn Quốc Sỹ)

Thường sau khi đọc bất cứ một tác phẩm hay nào tôi thường tìm hiểu thêm về tác giả của nó. Tôi vẫn giữ thông lệ này đối với nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Mà nói đến Doãn Quốc Sỹ thì không mấy ai mà không biết đến tiếng tăm của ông. Nhưng nếu có viết thêm về những giá trị đạo đức, về những nét thanh thoát, về chữ "tâm" trong các tác phẩm của ông mà tôi đã đọc, đã ngưỡng mộ, thì cũng không thể gọi là thừa; dù đã có biết bao tác giả đã ngợi ca giá trị đạo đức trong các tác phẩm này, cũng như nhiều nhà phê bình văn học đã đề lên bao nét chấm phá trong văn chương của ông như nội dung phong phú, tình tiết đa dạng tràn đầy nhân bản tính mà môi trường chung vẫn là đất nước, vẫn là số phận hẩm

hiu và sự gian truân của những người con Việt. Ông không dùng kỹ thuật tiểu xảo để giàn dựng một cốt chuyện rỗng tuếch, không có chiều sâu mà trải rộng lòng mình trên trang giấy song song với chữ tâm của con người. Ông đã dựa vào những kinh nghiệm thực của đời mình để làm nền tảng cho những tác phẩm của ông.

Đối với tôi những mối liên hệ giữa con người với nhau là do cơ duyên. Sự gặp gỡ. Mối liên lạc. Tất tất đều do cơ duyên mà ra cả. Nếu chúng ta không có duyên với nhau thì cho dù có gần cũng thành xa. Còn nếu có duyên với nhau thì xa cũng thành gần. Thực sự, tôi không có cơ duyên để được làm học trò của ông, ngồi trong lớp học để nghe ông giảng bài. Tôi cũng chưa một lần được gặp ông trong những lần ông đứng trên bục thuyết trình hay trong những buổi hội ngộ. Và tôi với ông, người sống bên đây địa cầu, người ở bên kia trái đất. Nhưng tôi cảm thấy là mình cũng có "cơ duyên" với ông trong văn học khi nhà văn Trần Việt Hải mời tôi cộng tác với Nhóm Thân Hữu Đồng Tâm từ Đặc San số 1 do ông là cố vấn và cũng là niên trưởng của Nhóm. Duyên này đã đẩy đưa để cho tôi có dịp liên lạc với ông, một nhà văn mà tôi ngưỡng mộ, tôn kính và quí mến qua những sáng tác của ông trong bao thập niên qua.

Không những là một người có tấm lòng trung kiên với quê hương đất nước, luôn quan tâm đến con người, một nhà văn luôn xoay quanh dòng sinh mệnh của tổ quốc và dân tộc, ông còn dồn tâm huyết vào việc khuyến khích giới trẻ trau dồi cái tâm của mình cho luôn được trong sáng. Đây là một điểm son thật đáng ca ngợi cho những người cầm bút như ông. Tại buổi mạn đàm "Gìn Vàng Giữ Ngọc và Truyền Thụ Nét Trân Quí của người mình cho thế hệ trẻ" tại trường Lê Bảo Tịnh, Avondale, Louisiana, Linh Mục Trần Cao Tường đã giới thiệu về nhà văn Doãn Quốc Sỹ như sau:

"Và hôm nay ông đến đây để chia sẻ một đề tài giáo dục về Gìn

Vàng Giữ Ngọc. Giới trẻ có tin người Việt mình có vàng có ngọc không để mà giữ, mà truyền? Vàng và ngọc của mình có ăn thua gì với đà tiến mới của thế giới không? Vì đang khi Âu Mỹ giầu có văn minh, thì dân Việt mình vẫn nghèo xác nghèo xơ với gia tài tả tơi rách nát! Nhưng có điều rất lạ là Mẹ Teresa ở Calcutta sau nhiều vòng tiếp xúc với Âu Mỹ thì lại nhận xét rằng trẻ em Mỹ nghèo nhất thế giới. Thế là thế nào? Thì nay nhà văn Doãn Quốc Sỹ trả lời: Giầu mà lại nghèo; nghèo mà vẫn giầu. Ông thấy được mỏ vàng mỏ ngọc từ cõi tâm người Việt, nguồn sinh lực vốn chứa sẵn ở trong lòng, vẫn kiên trì chuyển diễn dù bất cứ gian ác và đầy đọa nào, chỉ cần cái tâm trong sáng là kho tàng biểu hiện ra liền".

Tôi nghe đâu đây tiếng hát vang vọng, tiếng hát phát ra từ một nơi xa xôi nào đó, lúc xa lúc gần chừng như thánh thót, chừng như vang động. Tiếng hát đó phải chăng xuất phát từ cõi "Sầu Mây", từ cõi tâm của con người, cõi tâm sâu thẳm sáng ngời của Doãn Quốc Sỹ.

"Chiến tranh tàn phá gây ra biết bao cảnh đổi đời, nhưng có một cái gì đó mà không gì tàn phá 'nổi... đó là tiếng hát tự lòng đất, từ cõi tâm con người, tiếng hát sầu dằng dặc nhưng là tiếng hát bất tuyệt vỗ về an ủi sự sống làm cho sự sống càng phì nhiêu và bất tuyệt như nó."
      (Sầu Mây, Doãn Quốc Sỹ)
Bên ngoài, nắng vẫn rơi và gió chiều chừng ngừng đọng.

Hoàng Huy Giang
28.7.2006
(*) thơ Hoàng Huy Giang




Biên Khảo - DOÃN QUỐC SỸ, một người Việt đáng yêu


- Lê Mộng Nguyên - *

Tôi nhận lời của nhà văn Trần Việt Hải (của Văn Đàn Đồng Tâm do Doãn Quốc Sỹ thành lập năm 2005, với Tạ Xuân Thạc)  mời viết vài dòng về Giáo Sư Tiến Sĩ Doãn Quốc Sỹ nhằm vinh danh một nhà văn nước Việt, một học giả uyên thâm, một nhà biên khảo nhân văn học và nhân hậu, của nhóm Sáng Tạo nay chỉ còn Trần Thanh Hiệp, họa sĩ Duy Thanh, nhà thơ Tô Thùy Yên và tác giả Người Việt Đáng Yêu (sau khi Nguyễn Sỹ Tế, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền và họa sĩ Ngọc Dũng đã qua đời). Tập tuyển này gồm những bài do các bạn xa gần của DQS đóng góp, đặng tỏ tình văn nghệ và ngưỡng mộ trước một ánh sáng Việt Nam, một trình độ trí thức ngang hàng những bậc đàn anh trong lịch sử vẻ vang của sinh hoạt văn học nghệ thuật nước nhà.  Cũng như qua truyền thống những trường Đại Học Âu Tây, mỗi khi một giáo sư lẫy lừng trên mặt quốc tế sắp về hưu, các đồng nghiệp tổ chức ấn loát một tập tuyển vinh danh một nhân vật anh tuấn, Pháp ngữ gọi là : MÉLANGES en l'honneur de… (ESSAYS in honour of…)

Kính thưa Giáo Sư Doãn Quốc Sỹ, tôi được biết GS quá muộn màng: Qua Pháp từ đầu tháng 10 năm 1950 và lo học hành, thi đậu làm nghề luật sư bắt đầu năm 1959, giảng dạy tại Trường Luật và Kinh Tế từ tháng 10-1962 (sau khi đỗ bằng Tiến Sĩ Quốc Gia Khoa Học Chính Trị và được Giải Thưởng do Đại Học Paris cung cấp cho những Luận Án xuất sắc), tôi không theo dõi thực trạng văn chương tại nước nhà, mà cũng không có dịp giao thiệp với đồng bào di cư trú nhập tại Pháp cho tới vào khoảng năm 1990… Vì vậy tôi không được biết GS đã trở thành một nhà văn lẫy lừng ở quốc nội và hải ngoại, với nhiều sách tuyệt tác như: Gìn Vàng Giữ Ngọc và Dòng Sông Định Mệnh năm 1959, Người Việt Đáng Yêu năm 1965 (và trước đó: Sợ Lửa – 1956, U hoài – 1957, Gánh Xiếc – 1958, Hồ Thùy Dương – 1960, Trái

Cây Đau Khổ - 1953). Sau NVĐY, GS đã cống hiến đồng bào những tác phẩm đượm tình nhân loại và ý nghĩa như: Cánh Tay Nối Dài (1966), Đốt Biên Giới (1966), Sầu Mây (1970), Vào Thiền (1970)… và từ dạo ấy: Khu Rừng Lau (trường thiên tiểu thuyết), Người Vái Tứ Phương, Dấu Chân Cát Xóa, Mình Lại Soi Mình, vân vân.

     Nguyễn Văn Quảng Ngãi, trong bài báo về "Doãn Quốc Sỹ - Một tâm hồn thanh thản, đôn hậu, cao thượng", đã nhận xét một cách xác đáng: "Đọc sách của ông, cảm được tấm lòng đôn hậu và nhân ái của ông, hiểu được tình yêu dân tộc Việt Nam tha thiết của ông, thấy được niềm tin bao la và sâu sắc của ông về chân-thiện-mỹ cho nhân thế, biết được cuộc sống của ông: dạy học (Trung và Đại Học), viết văn, chủ trương nhà xuất bản Sáng Tạo, xem hình cả gia đình ông… đã cho tôi đi đến kết luận: Đó là kiểu mẫu người lý tưởng cho một xã hội Việt Nam lý tưởng!"  Nhà văn NVQN tiếp theo, sau khi so sánh DQS với Võ Phiến:  "Doãn Quốc Sỹ và Võ Phiến là hai nhà văn tiêu biểu ở miền Nam về văn tài, về lập trường Quốc Gia – Dân Tộc và về tư cách đạo đức". Tôi hoàn toàn đồng ý với NVQN, cũng như với văn sĩ Võ Phiến đã nói về DQS như sau :… với ông Doãn Quốc Sỹ đến Mỹ (1995, Texas), Cộng đồng người Việt hải ngoại giầu thêm bằng một người Việt đáng yêu, và bếp lửa cộng đồng ấm hơn".

     Cũng vì thế mà bài này lúc đầu tôi muốn gọi: Cảm nghĩ LMN về sách  Người Việt Đáng Yêu  của Doãn quốc Sỹ, nay sửa lại là: Doãn Quốc Sỹ, một nguời Việt đáng yêu… Như vậy, tôi có dịp không những ca tụng tác phẩm mà còn cả cuộc đời  tác giả là một gương mẫu vẹn toàn cho những nhà trí thức  nói riêng và cho tất cả đồng bào chúng ta nói chung. Tôi được đọc NVĐY nhờ một người bạn cho mượn, với lời dặn bảo: Tôi cho anh mượn với điều kiện anh giữ gìn và hứa trả lại cho tôi, vì sách này quí lắm, không mua đâu được. Ngày xưa tôi là học trò của GS Doãn Quốc Sỹ đấy. Rồi anh tiếp tục: Người Việt đáng yêu, cũng như người Tàu đáng ghét! Tôi không dám đi sâu vào cuộc bàn luận  này vì nó sẽ đưa chúng ta đi xa vấn đề, tôi chỉ biết chắc là những sách nào ký tên DQS toàn được độc giả yêu chuộng: "Kẻ nâng niu ngọc, người trau chuốt ngà" (Phan Trần). Và bài viết

này là để tán dương một nhà văn tiêu biểu  tâm hồn Á Đông, tình thương bao la, và tinh thần nước Việt (la vietnamité) mà Paul Mus (Vietnam, sociologie d'une guerre - Việt Nam, xã hội học của một chiến tranh, 1952) đã phân tích sáng lạng: "Mỗi khi nói đến Việt Nam, cái câu để giải nghĩa những vấn đề lịch sử, nằm đúng trong cái tinh thần kháng cự, liên kết một cách nghịch thường với những năng lực lạ lùng đồng hóa, một ý chí quốc dân không sờn trong thử thách của thất bại, những cắt xẻ đất đai và những chinh phục lẫy lừng. Hơn một thiên niên kỷ, nước VN bị sáp nhập nước Tàu vô điều kiện, không những đã không suy nhược, trái lại đã làm cho nước Việt thêm vững bền…" Như dân Do Thái phải lang thang từ thế kỷ này qua thế kỷ khác trước khi đạt  Đất Hứa (Terre promise), lịch sử dân tộc nước ta là một cuộc Nam Tiến không ngừng cho tới ngày tìm ra Ánh Sáng…Tương tự ba Hiệp sĩ quanh Bàn Tròn (Les trois Chevaliers de la Table Ronde): Perceval, Lancelot và Galaad ngày xưa (lấy trong tiểu thuyết của Robert de Boron và Chrétien de Troyes) đã thề nguyện quyết tìm cho được bình thánh Graal): "Đây là giải đất chứa chan nắng vàng của một dân tộc miền Nam. Nơi đây, trai gái vui hòa làm việc bên nhau tạo nên một nếp sống đặc sắc, thi vị, một đời sống đầy khí trời, đầy ánh sáng, đầy trăng sao và đầy sức mạnh. Cây cỏ phồn thịnh như nuôi dưỡng cho trí tưởng tượng của họ thêm phong phú. Họ có những câu phong dao, thi tứ sao mà dạt dào, những truyện thần kỳ, tinh tiết sao mà huyền ảo!" (NVĐY, Trái Tim Lửa - Phần phụ lục, tr. 74).

    Diễn tả lộ trình của sự xây dựng nhà Nam bởi tổ tiên chúng ta như thế thì quá đẹp, đâu khác gì khúc ca đón chào người và vạn vật mà tác giả Người Việt Đáng Yêu đã hiến dâng đồng bào độc giả?  Dưới khía cạnh này, DQS cũng như Lamartine (Le Lac: Hồ Kỷ Niệm) hay Jean-Jacques Rousseau (Les Rêveries du promeneur solitaire: Những mơ tưởng của người đi dạo một mình) là một nhà văn và sử học cực kỳ lãng mạn!

     Cùng với gần một triệu đồng bào (trong đó khoảng 700 nghìn Công Giáo) nhà văn DQS di cư về miền Nam ấm cúng, sau Hiệp định Genève 1954, và trong không khí tự do tư tưởng - tự do phát biểu của chính thể Cộng Hòa, ông đã xuất bản gần hai chục tác phẩm tuyệt vời, cho đến ngày 30 tháng Tư 1975, ngày đen tối

của dân tộc… Theo nhà văn NVQN: "anh Doãn Quốc Sỹ đã phải vào tù hai lần trước sau hơn 12 năm. Khổ đau từ thể xác đến tinh thần của các tù nhân do bạo quyền gây nên chữ nghĩa trần gian đâu đủ viết cho hết, tả cho tròn ! Nhưng khổ đau không thay đổi được anh vì anh đã viết từ 1965 (trong NVĐY, tr. 27):  "Không có sự trưởng thành đáng kính nào bằng sự trưởng thành trong đau khổ… Khổ đau là sự thiêng liêng ở thế gian này… Dân tộc Việt Nam phải là một sự thiêng liêng đối với nhân loại vì thật hiếm có lịch sử dân tộc nào gian nan khổ ải hơn dân tộc Việt". Ở đây, tác giả NVĐY rất gần Alfred de Musset khi nhà thơ Pháp viết: "L'homme est un apprenti, la douleur est son maître. Et nul ne se connaît tant qu'on n'a pas souffert" (Con người là một người thợ học nghề với thầy của chính mình là sự đau đớn. Không kẻ nào biết rõ được chính mình, nếu chưa bao giờ nếm mùi gian khổ).

     Thay lời phi lộ, DQS tâm tình với độc giả về sách của ông, đượm tình nhân loại man mác:  "… Cuốn sách này không đọc bằng mắt, không nghe bằng tai, không chỉ hiểu bằng trí, mà phải đọc, nghe, hiểu bằng cả con người. Đó là cuốn sách sống với bao gian lao chua xót, với bao thắng lợi vinh quang của cả một dân tộc chiến đấu thường xuyên để tồn tại vĩnh cửu… Kể từ ngày dựng nước đến nay, qua bao phen thử lửa chúng tôi - những người Việt - bại như người, để mà thắng như người, bởi vậy nên cũng bất diệt như người." (tr. 30). Triết gia DQS ở đây có thể so sánh với Jacques Maritain của Pháp là một triết lý, tiểu luận gia (1882-1973): cải tôn Thiên Chúa giáo, ông là người chống lại duy vật chủ nghĩa và quan niệm của Henri Bergson. Ông – cũng như DQS sau này – là một nhà nhân bản, sùng bái con người trước hết. DQS thuộc về trào lưu trí thức Âu Châu văn nghệ Phục Hưng (mouvement intellectuel européen de la Renaissance) có đặc tính gắng  sức  nâng cao phẩm cách và giá trị của con người. Cảm nghĩ buổi thuyết trình của tác giả Người Việt Đáng Yêu về  "Đời sống Văn Nghệ Sĩ Trong Lao Tù Cộng Sản", Nguyễn Văn Quảng Ngãi nhắc lại lời nhà văn Võ Đình nói về biết bao khổ nhục mà DQS đã chịu đựng, nhưng:  "trái tim ông vẫn không suy suyển. Bạo lực có thể uy hiếp ông. Nhưng bạo lực không cách gì đập nát trái tim ông và đặt vào đó lò lửa căm thù. Ông chỉ căm thù bạo lực, ông không thể căm thù con người, dù

đó là con người dùng bạo lực để hành hạ ông…" Linh Mục Trần Cao Tường qua "Mấy Lời Giới Thiệu nhà văn DQS trong buổi mạn đàm Gìn Vàng Giữ Ngọc và Truyền Thụ Nét Trân Quí của người mình cho thế hệ trẻ tại Trường Lê Bảo Tịnh, Avondale, Louisiana) thú thật là Cha đã xúc động muốn khóc khi đọc trong Ba Sinh Hương Lửa: "Chiến tranh tàn phá gây ra biết bao cảnh đổi đời, nhưng có một cái gì đó mà không gì tàn phá nổi… đó là tiếng hát tự lòng đất, từ cõi tâm con người, tiếng hát sầu dằng dặc nhưng là tiếng hát bất tuyệt vỗ về an ủi sự sống càng phì nhiêu và bất tuyệt như nó". Tôi đã nói trên về tinh thần nước Việt, mà nhà văn DQS là một trong những người Việt tiêu biểu,  khi ông viết (NVĐY, tr.153-154): "Rõ ràng lịch sử Việt Nam là lịch sử của một dân tộc biết mình tất thắng dù phải đương đầu với kẻ thù xâm lược hùng mạnh đến mấy. Cả thiếu nhi, cả phụ nữ đều giành được chỗ đứng vinh quang trong lịch sử chiến đấu chống ngoại xâm", trước khi trích đoạn sau từ sách của ông Pazzy là một người Ý-Đại-Lợi thành thật cảm mến  "Đôi mắt và nụ cười của người Việt"  sau 20 năm ở  nước ta (Hồng Vân chuyển dịch sang Việt ngữ từ Pháp văn): "… cái ý chí bất khuất của dân tộc ấy bắt nguồn từ trong lịch sử ngàn xưa, thấm sâu ở trong xương tủy của họ, chan hòa ở trong huyết mạch của họ, bàng bạc trong niềm kiêu hãnh vô biên của một giống nòi không chịu sống trong tủi nhục, luôn luôn có sự gắn bó mãnh liệt vào mảnh đất của quê hương, vào di sản của dân tộc, di sản đau thương mà rất kiêu hùng! Kẻ thù của dân tộc Việt chỉ bắt đầu thấy được sức mạnh ấy khi họ đã thất bại, và thật là quá muộn màng."

     Trong Phần Mở Đầu: "Làng Việt Nam" của sách NVĐY (1965), về Chế độ xã thôn tự trị, nhiều điểm và kết luận của tác giả được vang dội trong bài Pháp ngữ tôi viết trên  Đối Lực (Số 59 – Th. 09 năm 2002: Le doux parfum de la démocratie du temps passé… Nét thơm xưa: Nền Dân chủ hương thôn VN trong quá khứ), mà Ban Biên Soạn của nguyệt san ở Toronto (Canada) đã tóm tắt bằng Việt ngữ, tổng quát như sau: Trong bài này tác giả trình bày nhiều phong tục, truyền thống của nền hương thôn hầu như tự trị của VN ngày xưa với phương ngôn nổi tiếng: "Phép vua thua lệ làng". Tác giả đề cập đến nhiều nhà nghiên cứu hàng đầu về phong tục, tập quán và xã hội VN, từ

các học giả Pháp như Pierre Gourou (hệ thống thứ bậc làng xã, hệ thống gia trưởng - người cha kể như ông hoàng trong gia đình v.v.) đến các học giả VN như Trần Huy Liệu (từng tham chánh theo CS), Đào Đăng Vỹ - hôn nhân trai gái không phải là vấn đề cá nhân giữa một người đàn ông và một người đàn bà yêu nhau, mà là một vấn đề gia tộc, nhằm bảo đảm cơ sở của cuộc sống – "chồng cày, vợ cấy con trâu đi bừa"… Trong bài biên khảo này, GS Viện sĩ Hàn Lâm Lê Mộng Nguyên cũng đề cập nhiều đến các khía cạnh văn hóa, đời sống của xã hội VN, những khái niệm và truyền thống như là "gia phả", cái đình, thổ địa, các lễ tiết như thượng điền, hạ điền, thượng nguyên, trung nguyên, hạ nguyên, hàn thực, đoan ngọ, trung thu, nguyên đán v.v. Những nhà nghiên cứu liên hệ được đề cập là Đào Duy Anh, Jean Leclerc v.v. Để đi vào chi tiết, xin đọc thêm nguyên tác tiếng Pháp của soạn giả.           

     Theo GS Doãn Quốc Sỹ: "Làng ở trung châu Bắc Việt thật quan trọng vì có nhiều ý nghĩa… " , "… làng cổ nhất thuần túy nhất của người VIỆT chỉ đến Hà-Tĩnh là hết. Từ Hà-Tĩnh trở đi hình thức làng không còn như ở miền Bắc nữa, không có cổng chính xây gạch, không có lũy tre…" và làng Khánh-An thuộc quận Thới-Bình tỉnh An-Xuyên (Cà Mâu cũ) là "một làng điển hình miền Nam". Tôi đề nghị - để góp ý vào dự thảo "Xây dựng một nền Đại Học Việt thuần túy" của GS DQS – nên ghi vào chương trình "Maîtrise" Luật và Chính Trị Học  hoặc Văn Chương, rằng mỗi sinh viên phải trình một biện minh thư (mémoire) thay thế kỳ thi viết (trước khi được nhận vào vấn đáp), có tính cách địa phương chí (monographie) về một làng xã, hay phố phường điển hình VN, và nếu cần, thí sinh phải trú ngụ một thời tại chỗ, để có dịp liên lạc với dân chúng địa phương, theo dõi nếp sống hàng ngày, tham dự buổi họp của Hội đồng làng xã hay Thành phố, hòa hợp với dân chúng qua những lễ lạc buồn vui được tổ chức đặc biệt hay thường năm… 

     Tôi không đi sâu vào Phần Ba của sách NVĐY: "Vài ý nghĩ về việc xây dựng Quốc Học", vì dự thảo mà GS DQS đã dày công suy ngẫm và sáng kiến (trong tình thần nhân loại và bảo vệ nhân quyền và dân quyền), chỉ có thể áp dụng  trong một chính thể dân chủ tự do (démocratie libérale) nhưng không thể nào

thực hiện được dưới một chế độ bạo tàn, độc tài đảng trị. Như GS đã trực giác, khi nói trong lời cáo thị: Chúng tôi chỉ xin đánh dấu thời gian viết (1957), để rồi tùy nghi những dòng chữ này đến với quý vị vào thời gian nào, quý vị làm lấy giúp cho một sự đối chiếu với những gì đã biến chuyển hoặc đã thực hiện (tr. 94). Dont acte ! Tôi xin ghi nhớ lời của GS trong ước vọng của ngày mai, với một chính quyền thực sự: của dân, bởi dân và vì dân (gouvernement du peuple, par le peuple et pour le peuple), chúng ta sẽ bắt tay cùng nhau làm việc để xây dựng cho đất nước một nền Đại Học dũng cường và thuần túy Việt Nam.

     Song song với Marcel Proust (1871-1922) Đi tìm thời gian đã mất (À la recherche du temps perdu), sử gia DQS đi tìm "dân tộc tính trong cổ tích Việt Nam". Mặc dầu giữa truyện  nước ngoài và VN có nhiều điểm giống nhau trong kết cục là cái thắng của Thiện trước cái Ác, "nhưng trong cái đại đồng có cái tiểu dị, và chính cái tiểu dị đó làm nổi sắc thái của cá tính dân tộc" (tr. 57). Chứng minh việc đối chiếu giữa một thần thoại Hy-Lạp La-Mã và Việt Nam (Mỵ Châu - Trọng Thủy), tác giả NVĐY (tr.57-58) tóm tắt mối tình giữa Ariane và Thésée, như sau: "Minos là vua đảo Crète có xây một Mê cung (Labyrinthe), người thường đi vào đó như đi vào bát quái trận đồ không sao tìm được lối ra. Mê cung được canh giữ bởi con vật chuyên ăn thịt người, nửa trên là người nửa dưới là bò rừng, tên là Minotaure. Thésée một vị anh hùng Hy-Lạp và là vua thành Athènes, đã từng lạc vào Mê cung của Minos, nhưng may được con gái của Minos là nàng Ariane có lòng yêu trao cho sợi chỉ khiến chàng Thésée nhờ vậy mà tìm được lối thoát ra khỏi Mê cung sau khi đã chiến đấu cùng con Minotaure và hạ thủ được nó. Thương thay nàng công chúa Ariane sau này bị con người bạc tình Thésée bỏ rơi ở đảo Naxos. Tại đó nàng chết vì sầu muộn điên cuồng trên một bãi biển"…  Mỵ Châu cũng như Ariane vì tình yêu, đã bội phản cha bằng cách tiết lộ bí mật Thần Nỏ cho Trọng Thủy, và khi Triệu Đà sang đánh Âu Lạc, An Dương Vương thua chạy bỏ kinh thành, đem Mỵ Châu ngồi trên mình ngựa, phi qua rừng núi hướng về phía Nam đến núi Mộ Dạ gần bờ biển, cầu khẩn Thần Kim Quy hiện lên cho biết là giặc ngồi sau lưng. Tức giận ADV chém Mỵ Châu rồi nhảy xuống biển tự vẫn. Theo dấu lông ngỗng của vợ rắc, Trọng Thủy đến núi Mộ Dạ thì biết nàng công chúa đã mất.

 Đau đớn và hối hận đã phản bội lòng tin cậy của người vợ yêu dấu, chàng đem thi hài MC về an táng ở Loa Thành rồi tự bỏ mình nhảy xuống cái giếng mà MC thường hay lấy nước tắm rửa. Nhà sử học kết luận: "… cái đẹp của truyện Mỵ Châu Trọng Thủy – mà cũng là cái đẹp của dân tộc Việt Nam – là ở mối tình chung thủy của cả đôi bên: Trọng Thủy chôn xác vợ rồi tự tử ở giếng Loa Thành. Câu truyện càng diễm lệ ở chỗ những con trai ở biển Nam-Hải ăn phải những giọt máu của nàng Mỵ Châu mà có ngọc. Ngọc đó mang về rửa ở nước  giếng Loa thành thì sáng đẹp vô ngần (tr. 58-59)". DQS là một nhà trí thức VN đã thâu nhập nền văn hóa Âu Tây một cách trìu mến, nhưng sáng suốt, thông minh. Tỉ dụ trong việc phải làm giàu tài liệu tham khảo cho Đại Học luật khoa, ông đề nghị  "Đặc biệt với các sinh viên Cao học trong thời gian hiện đại (1957) có thể miễn tới trường nhưng bắt buộc mỗi sinh viên phải dịch từ ba đến năm quyển sách đương thời nổi tiếng về khoa mình học…" Sau khi trình bày thành công tác phẩm dịch cuối cùng theo ấn định trước Hội đồng giáo sư, thí sinh được đỗ bằng Cao học, và  chính thức cho phép soạn sửa đầu đề luận án Tiến Sĩ hợp với môn mình học dưới sự điều khiển của một giáo sư. Về bằng Cao học Công Pháp (D.E.S. de Droit Public), GS DQS lấy tỉ dụ  nên dịch sách của 3 tác giả nổi tiếng như André de Laubadère, Marcel Waline và Georges Vedel. Quả thật minh mẫn và xác đáng! Cảm ơn GS DQS: tôi rất hãnh diện trong những năm giảng dạy ở Trường Luật và Kinh tế Paris (1962-1966) trước khi nhậm chức tại Đại Học Besançon, đã được bổ nhiệm làm phụ tá giáo sư hoặc thuộc Ban Giám Khảo chấm thi dưới sự chủ tọa của ba Luật gia sáng chói đó (Công pháp phổ thông, Luật hành chánh, Luật lập hiến);  dù đã vĩnh viễn ra đi, những  tác phẩm của các Thầy để lại sẽ làm gương mẫu cho thế hệ mai sau, một kho tàng quí báu của nhân loại.
    
     Người Việt đáng yêu Doãn Quốc Sỹ, cũng như nhiều nhà thi văn lãng mạn VN vào những năm 1930, ưa xét tìm những "Nét sầu và niềm tin  trong thi ca Việt Nam": chẳng hạn bốn câu thơ sau của một tác giả vô danh, một "người miền Nam chưa từng ra khỏi Biên-Hòa…", vào khoảng những năm khói lửa 1940-1945, muốn nhắn nhủ một nhà thơ sắp ra Bắc (tr. 34):

Ai về cõi Bắc cho ta gởi
Tất cả lòng thương giống Lạc-Hồng
Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng-Long 
           

Niềm tin trong nòi giống, trong tương lai đất nước thanh bình, trong con người như nhà văn DQS đã nhấn mạnh qua những ngày đen tối, bởi vì tình thương nhân loại thật bao la, man mác…vĩnh cửu, như non với nước trong một nguyện thề:

… Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non nước nước không nguôi lời thề
(trích thơ Tản Đà)


Quan niệm của tác giả NVĐY về dân tộc ta là một cuộc chiến đấu không ngừng, bởi vì "lịch sử chúng ta cho đến nay vẫn chưa gặp thanh nhàn, nhưng con sông càng dài gian khổ càng mang về nhiều phù sa bồi bổ cho cánh đồng, cánh đồng phì nhiêu tình thương, bát ngát tình người, man mác tình thiên nhiên cây cỏ, ngợp vẻ thái hòa của hình ảnh con cò bay lả bay la, cánh đồng Việt Nam yêu dấu của chúng ta" (tr. 53).

Kính thưa Giáo Sư Doãn Quốc Sỹ: tôi còn muốn nói nhiều về cuốn sách tuyệt tác của GS và tác giả là người Việt đáng yêu của đồng bào hải ngoại và quốc nội, nhưng bài bản phải viết cho xong như thời hạn định, mặc dầu lòng mến phục của tôi đối với Giáo Sư không bờ bến, trường giang đại hải. Giấy ngắn, tình dài, xin GS cho tôi ngừng bút: "Của tin gọi một chút này làm ghi" (Nguyễn Du – Kim Vân Kiều).

Lê Mộng Nguyên

*Nhạc Sĩ, Viện Sĩ Viện Hàn Lâm Pháp Quốc Khoa Học Hải Ngoại, GS-Tiến Sĩ Quốc Gia, nguyên Luật Sư Tòa Thượng Thẩm Paris.
CHÚT KỶ NIỆM VỚI ANH DOÃN QUỐC SỸ

- Nguyễn Ngọc Bích -

            Anh lớn tuổi hơn tôi khá nhiều nên kinh nghiệm sống cũng như tư tưởng có thể khác tôi khá xa.  Trong bối cảnh của cách mạng và chiến tranh VN, con người ta trưởng thành rất nhanh nên chỉ cần cách nhau chừng 10 tuổi là người ta đã ở thế hệ khác rồi.  Nên nếu nói được về một tình "bạn" giữa anh và tôi thì chắc chỉ có thể nói được là một thứ tình bạn "vong niên" (quên tuổi đi).
            Thật ra anh là bạn của anh tôi, anh Nguyễn Ngọc Chác, thì đúng hơn.  Cũng do sự quen biết giữa anh với anh Chác mà tôi được dự phần biết đến anh - dù như trước đó tôi đã say mê đọc một số tác phẩm của anh: như bộ Khu Rừng Lau (gồm Ba sinh hương lửa, Người đàn bà bên kia vĩ tuyến… đến Đàm thoại, độc thoại), truyện vừa Dòng sông định mệnh, các truyện ngắn, đặc biệt "Chiếc chiếu hoa cặp điều," v.v.
            Trong khi anh đã là một tên tuổi lớn trong nhóm Sáng tạo ở Sài-gòn thì tôi còn là một sinh viên du học ở Mỹ, trước ở Princeton University sau sang Columbia ở New York, lên đại học viện (graduate school).  Thời gian ở New York, tôi rất thân với Nguyễn Thái Sơn (lúc bấy giờ học về Kỹ sư hàng không ở New York ) mà Sơn thì rất mê Sáng tạo nên bao giờ nhận được số nào là đều đem đến khoe tôi.  Nhờ vậy mà tôi không đến nỗi

lạc hậu về những diễn biến trong văn nghệ ở quê nhà.  Qua Sáng Tạo tôi khám phá ra thơ Thanh Tâm Tuyền, thơ Tô Thuỳ Yên, truyện Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, truyện dịch của Cung Tiến…
            Tôi thấy nhóm khá gần gũi với tôi, có lẽ do chúng tôi đều là những thế hệ đã Tây-hoá khá nhiều nhưng rồi vẫn nặng lòng với ngôn ngữ quê hương.  Qua Sáng tạo tôi thấy tiếng Việt đã uyển chuyển lắm, đã thu nhập được vào trong tiếng nước ta không chỉ những từ ngữ mới mà còn cả hình ảnh, cách diễn tả, cách hành văn rất hiện đại, nghĩa là đến đó thì ta đã bắt được với nhịp sống của nhân loại, không còn lỗi nhịp như văn chương miền Bắc cho đến tận thời Cởi Trói Văn Nghệ (1986).
            Rồi Nguyễn Thái Sơn về nước và nhóm Sáng tạo cũng không còn ra báo nữa song dù ở nước ngoài tôi vẫn cố gắng theo dõi sự nghiệp văn chương của Doãn Quốc Sỹ cũng như của Mai Thảo.  Vì thế nên không lạ là khi anh được học bổng sang học cao học để cuối cùng lấy bằng tiến sĩ giáo dục ở Vandebilt University ở Tennessee, tôi rất lấy làm hồ hởi được tin là anh sẽ lên chơi vùng Washington và sẽ ở nhà anh tôi, Nguyễn Ngọc Chác.
            Qua những trao đổi (không nhiều lắm), tôi được biết thêm là lúc bấy giờ anh đang chú ý đến huyền thoại và một số thuyết văn học về huyền thoại.  Sau này về nước, anh đã đem những sở đắc này ra giảng dạy và viết một số sách về lãnh vực này (tuy hiển nhiên chúng không được biết bằng tiểu thuyết của anh).  Không hiểu sao, trong những điều anh nói với tôi hồi đó, có một ý tưởng còn đọng lại trong tôi cho đến bây giờ: đó là quan niệm "tự lòng đất" như trong "Tiếng hát tự lòng đất" của anh.  Tiếng hát là một cái gì bay bổng, vậy mà muốn hay nó phải xuất phát tự lòng đất, người Tây phương cũng có quan niệm này, gọi là "telluric."  Làm như tiếng hát cũng tựa như cỏ cây, phải đâm chồi nảy rễ, bắt được vào lòng đất thì mới có chiều sâu, thì mới bắt được vào lòng người.  Một ý tưởng siêu phàm mà cho đến giờ tôi vẫn cho là có cái gì bí ẩn, tuyệt diệu!
            Từ những quan hệ (không nhiều) mà tôi có với anh trong đời thường, tôi vẫn quý mến anh và có lẽ anh cũng mến tôi.  Sau khi anh ở Việt Nam ra, tôi và một số bạn bè ở miền Đông Hoa Kỳ có tổ chức một buổi chào mừng và đón tiếp anh chị ở Trường Luật George Mason University (Arlington, VA).  Lần đó, anh không nói nhiều và chỉ đưa ra một ẩn dụ để cho người ta hiểu là,

dưới con mắt anh, thế hệ anh đã làm xong phận sự và bây giờ là đến lượt tuổi trẻ, các thế hệ đi sau đã được cõng trên lưng bởi thế hệ của các anh.  Một bằng chứng về tình thân giữa anh và tôi có thể thấy trong chuyện cách đây hai năm, chương trình Paltalk của chuaquocte@online có ý mời một hai vị diễn giả nói về đề tài "Phật giáo trong Truyện Kiều."  Họ cố công tìm anh Phạm Công Thiện nhưng không có duyên tìm được ra anh.  Họ mời anh Doãn, anh nhận lời nhưng rồi giới thiệu tôi, tôi cũng không hiểu sao anh biết là tôi có nghiên cứu đề tài này.  Cuối cùng, hôm bắt đầu xê-ri Paltalk về đề tài khá hắc búa này, anh có lên một lúc để giới thiệu tôi làm tôi rất cảm động.  Rồi anh để cho tôi cáng đáng luôn cả chương trình, kéo dài đến 10 buổi trao đổi, mỗi buổi như thế là 2 tiếng đồng hồ.
            Nhưng trở về chuyện "tự lòng đất" thì có thể nói, "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư."

NGUYỄN NGỌC BÍCH

Vài Dòng Cảm Nghĩ Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ


- Nguyễn Văn Thành -

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là một trong những khuôn mặt văn chương hàng đầu của nền văn học miền Nam. Ông sinh năm 1923 tại Hà Nội, lớn lên trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, di cư vào Nam năm 1954. Ông sáng lập nhóm Sáng Tạo năm 1956 cùng với nhà văn Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, và hai họa sỹ Duy Thanh và Ngọc Dũng, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền.

Những tác phẩm của ông gây xúc động trong lòng mọi người với những lời văn nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, quyết liệt nhưng bao dung, văn của ông có tính cánh nhân bản đôn hậu, với một tâm hồn thanh thản, cao thượng và một tình yêu quê hương dân tộc tha thiết, ông đã viết và nói bằng con tim, bằng cả tâm hồn đầy nhiệt huyết.

Trong những tác phẩm của ông, truyện dài đầu tay  " Dòng sông định mệnh " gây cho tôi nhiều cảm xúc nhất. Có lẽ vì tôi sinh ra và lớn lên bên một dòng sông quê hương.

Dòng sông hay dòng đời, dòng chảy của thời gian hay dòng sinh mệnh...luôn chứng kiến bao thăng trầm, biệt ly, chia lìa; như dòng sông Bến Hải mà định mệnh với Hiệp định Genève 1954 đã cắt chia hai miền đất Mẹ thân yêu.

Những tác phẩm của ông luôn hướng về tương lai. Đọc văn ông, tôi luôn cảm nhận một niềm tin mạnh mẽ, như ông muốn gìn giữ sự trong sáng bất tận của cái thiện, cái tâm con người, một nguồn sinh lực cương quyết trước những sự đày đọa, gian ác.

" Hãy quay trở về với chính mình, vun sới tâm hồn mình là chuốt lọc danh dự cho dân tộc, là gieo hương hạnh phúc cho đồng loại". ( Trích " Tiền Kiếp")

Nhiều tác phẩm của ông với tên gọi vừa đẹp, vừa có ý nghĩa, như Gìn vàng giữ ngọc, Người Việt đáng yêu, Hương nhân loại, Ba sinh hương lửa...; ông đã khéo léo dùng những ngôn từ để khuyên nhủ thế nhân, dù cuộc đời có bao điều tang tóc đau thương, dù năm tháng có hững hờ trôi qua, dù nhân thế biết bao lọc lừa phản trắc, dù phải sống 13 năm trong ngục tù khổ ải với bao khổ đau và bạo lực, ông vẫn giữ được niềm tin bao la sâu sắc về chân thiên mỹ. 

"...Không có sự trưởng thành đáng kính nào bằng sự trưởng thành trong đau khổ...khổ đau là một sự thiêng liêng ở trên thế gian này...Dân tộc Việt Nam phải là một sự thiêng liêng đối với nhân loại..." (Trích " Người Việt đáng yêu ")

Ông luôn mang trong lòng một tình yêu thương nhân loại trước bao cảnh nghèo đói tang thương hay trước những hình ảnh đốn mạt, những nỗi đau như chính nhân phẩm mình. Chiến tranh đã gây bao cảnh đổi đời nhưng có một điều gì đó không tàn phá nổi cái tâm ông đã Gìn Vàng Giữ Ngọc văn hóa VN.

"Hấp thụ cái hay của người mà không giữ được những căn bản của mình, ấy là mình bị mất gốc, ấy là mình bị đồng hóa, ấy là mình nô lệ cho người.

Hấp thụ được cái hay của người mà vẫn giữ được cái tính của mình, khả dĩ mới đứng ngang hàng với người.

Đến như dùng cá tính dân tộc mình làm chiếc đũa thần để đồng hóa mọi cái hay cái đẹp ngoại lai, ấy mới có thể làm người thán phục ta được
……...

Hãy trở về với nguồn dân tộc, với lòng hiếu hạnh vô bờ, tình anh em thắm thiết, tình bạn cao quý, tình dân tộc mãnh liệt; thì trong cơn phong ba của đời có như phong ba của đại dương kia, sóng nhô lên thành núi, nhào xuống thành vực; chúng ta có nhỏ như cái chai nhưng là cái chai được giữ gìn cho kín đáo nên mặc cho phong ba gầm thét uy hiếp, cái chai vẫn nổi mà không chìm. Hãy

trở về với nguồn dân tộc." (Trích " Người Việt đáng yêu " - Doãn Quốc Sỹ)

Ông luôn tin tưởng rằng: " Cánh đồng và dòng sông năm ngàn năm của chúng ta kẻ nào mà làm hoen ố nổi?" (Trích " Tiền Kiếp")

Những năm tháng tù đày có lẽ đã đưa ông thâm nhập vào cái thế giới vô vi của cửa "Thiền". Đọc " Vào Thiền" để thấy ông trong cuộc sống gian truân vẫn nhìn cõi thiên nhiên với một trái tim hồn nhiên vô tư và thanh thản. Đọc " Vào Thiền " để thấy Thiền là cuộc sống, là dòng đời dang trôi chảy không ngừng; để thấy mình đang bơi trong dòng sông đời, đang uống cạn từng giọt nước; hít thở từng hương vị mà dòng sông cuộc sống đang trao tặng; và từ đó hãy mở rộng cõi lòng và trái tim ra đón nhận cuộc sống, hãy dẹp bỏ hết những khái niệm, hãy im lặng để cảm nhận. Chính trong niềm im lặng vô ngôn đó, những vang vọng, ý nghĩ, nhựa sống của ngôn từ, của hành động, của ý nghĩa càng tràn bờ để xóa bỏ mọi biên giới mà tắm gội, bao dung lấy hết thảy (Doãn quốc Sỹ trong Vào Thiền)

Tôi thấy nhà văn Võ Định đã có cái nhìn rất chính xác về ông :" Sống ở một thời đại mà ngôn ngữ lạm pháp thê thảm , mà biết bao con người trở thành hời hợt, trâng tráo, Doãn Quốc Sỹ ăn ở thanh bạch, tình yêu quê hương,gia đình, bằng hữu, về nhân đạo, và danh dự v.v...mà không mảy may e dè, ngượng nghịu. Thiến nghĩ ông thật đáng yêu ở chỗ đó."

Tôi nhớ một lời viết của nhà văn Doãn Quốc Sỹ trong "Người đàn bà bên kia vỹ tuyến "đã ghi khắc trong tim tôi tự bao năm nay: "...Chiến tranh tàn phá gây ra biết bao cảnh đổi đời, nhưng có một cái gì đó mà không gì tàn phá nổi...đó là tiếng hát từ lòng đất, từ cõi tâm con người, tiếng hát sầu dằng dặc nhưng là tiếng hát bất tuyệt vỗ về an ủi sự sống làm cho sự sống càng phì nhiêu và bất tuyệt như nó..." Ông đã nhìn thấy cái giàu, cái đẹp như vàng như ngọc phát xuất từ cõi tâm của tộc Việt, một kho tàng ẩn chứa vẫn duy trì  bất tuyệt dưới mọi bão giông, mọi đợt sóng áp lực gian ác của dòng đời; chỉ cần gìn giữ một cõi Tâm trong sáng là kho tàng vĩnh viễn tồn tại...

Đã bao năm, noi gương ông, tôi cố gắng góp phần vào việc gìn giữ khối vàng mỏ ngọc của một cõi Tâm Việt Nam lúc nào cũng hướng về cội nguồn quê hương dân tộc. Tôi nguyện chúc ông vào tuổi "bát thập cổ lai hy " này vẫn được dồi dào sức khỏe, vẫn cống hiến cho thế hệ mai sau những lời dạy răn "Gìn vàng giữ ngọc", để có một ngày ông có thể nhìn thấy và hãnh diện về một đất nước Việt nam đẹp như tranh, về những người Việt Nam đi khai phá một cõi Tâm trong sáng vằng vặc như ánh trăng rằm...

Viết tại Minnesota, tháng 7/2005
Nguyễn Văn Thành


Ước Mơ Thời Thơ Ấu


- Nguyễn Ninh Thuận -

       Mấy hôm nay, Thuận nhận được email của anh Việt Hải báo  tin "Giáo Sư nhà văn Doãn Quốc Sỹ, cố vấn Văn đàn Đồng Tâm ghé thăm Little Sai Gòn. Chị Lan Nhi có  nhã ý đứng ra điều động một số anh chị em trong nhóm Đồng Tâm tổ chức một bữa tiệc nhỏ để chào mừng và tiếp đón Giáo Sư. Anh chị em hãy liên lạc với Chị Lan Nhi để biết ngày giờ và địa điểm tổ chức...".

     Thuận náo nức trông chờ tin tức Chị Lan Nhi, để được hân hạnh diện kiến nhà văn lớn Doãn Quốc Sỹ. Người mà thuở còn đi học, Thuận ngưỡng mộ tài danh của Người qua văn thơ. Thuận nằm mơ cũng không ngờ có ngày mình được nằm trong tổ chức văn học của Người đề xướng. Trông chờ để rồi trông chờ...

     Một buổi sáng đẹp trời, mây trắng lững lờ trôi trên bầu trời xanh ngắt. Ngoài vườn, muôn hoa đua nở đang cười đùa với nàng gió như mơn trớn trên da thịt chúng tôi. Đâu đó vang lên tiếng ríu rít của bầy chim đua nhau ca hót êm đềm. Bỗng tiếng điện thoại ở phòng khách reo lên mấy tiếng liên hồi. Thuận bỏ dở công việc đang làm vội vã chạy đến bên điện thoại,  cầm ống nghe lên tiếng:
      - A lô! xin lỗi ai ở đầu giây thế.
Bên kia đầu giây tiếng trầm ấm, ngọt dịu cất lên một cách thân thiện đầy tình chị em, pha một chút vui tươi và rộn rã:
      -Chị Lan Nhi đây, Thuận!
     Thuận vui mừng vì biết sắp được tin về buổi họp mặt, nên vồn vã lên tiếng:

       -Dạ! Em xin chào Chị Lan Nhi. Chị có khỏe không? Chắc Chị gọi nhắc em về buổi tiệc tiếp đón giáo sư  nhà văn  Doãn Quốc  Sỹ  ở  Seafood World chứ gì?
       -Đúng đấy em ạ, nhưng chị có bàn với anh chị em trong nhóm là không đến nhà hàng, mà tổ chức ở nhà chị cho thân tình và có thì giờ để hàn huyên tâm sự lâu hơn. Nhà chị hiện nay đang đập phá sửa chữa, nhưng chị cố gắng thu xếp cho gọn gàng để tiếp đón khách quý. Em nhớ ngày... giờ đến nhà chị họp mặt nhé. Hẹn gặp em sau.
       - Dạ chào chị, đến hôm đó em sẽ làm một món để cả nhóm thử tài nấu bếp của em.

        Thế rồi, trưa hôm đó Thuận vội vã đến nhà Chị Lan Nhi với khay thạch trái vải và nhãn cùng với món gà nhồi thịt rút xương. Thuận nô nức trong lòng, nên đến sớm trong khi chi Lan Nhi đi chợ chưa về. Thức ăn đãi khách anh Hà Phương Hoài đã chuẩn bị sẵn sàng, đâu ra đó. Anh ấy là một đầu bếp Pháp chính hiệu "con nai vàng", chuẩn bị món Filet Mignon au Sauvignon, tức anh dùng loại vang Cabernet Sauvignon cho mùi vị thơm khi chiên thịt. Một món ăn theo kiểu Pháp ngon tuyệt cú mèo. Anh Việt Hải kể về anh Trọng (tức anh Hà Phương Hoài) rất thích nấu nướng, anh nghiên cứu làm món đặc biệt để tiếp đãi thực khách, như Bifteck au Poivre, Chateaubriand Béarnaise, hay Boeuf au Bourguignon, nhưng chị Lan Nhi đề nghị món có vang đỏ Sauvignon. Giờ nghĩ lại, nước miếng Thuận chực ứa ra liên hồi. Thịt bò thì quá mền, cái hay là thịt không khô, rất "juicy", thơm mùi vang và thơm mùi tiêu tỏi, anh Phương Hoài đừng vội mừng nhé! nghe nói công chị Lan Nhi mua thịt đấy nhé! Thuận muốn làm theo học khóa Cordon Bleu hàm thụ email của anh lắm. Ngoài ra  món légume như món khoai tây, củ dền, đậu... nghệ thuật sao cho bùi, ngọt và ngon như  hôm đó thôi đấy! Chị Lan Nhi  đi chợ về; Thuận lăng xăng phụ anh chị bày biện thức ăn ra bàn...

  Khách khứa lần lượt đến chuyện trò râm ran, vui vẻ. Thuận chưa được gặp nhà văn Doãn Quốc Sỹ lần nào, nên có ý trông chờ  được đón tiếp Người mình hằng mến mộ từ thuở xa xưa. Cái thuở Thuận còn mài đũng quần  trong  trường Đồng Khánh thân thương, ham mê đọc ngấu nghiến ừng trang trong  những tác phẩm của Người. Ký ức hiện về trong Thuận. . .

Với tà áo dài màu trắng trinh nguyên, với vành nón lá bài thơ nghiêng nghiêng che đầu.Thuận cảm thấy mình thật sung sướng và hãnh diện được là nữ sinh của trường Đồng Khánh. Kỷ luật nhà trường rất nghiêm minh. Dưới sự kiểm soát của bà Giám Học, bà Giám Thị. Hình như dịp tiếp đón nhà văn, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã đưa Thuận về kỷ niệm ngày xưa, có sách của ông  khi bạn bè kể nhau nghe về Gìn Vàng Giữ Ngọc, Khu Vườn Bên Cửa Sổ, Hương Nhân Loại, Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, hay Giòng Sông Định Mệnh. Một thoáng xưa trung học lại hiện về:

Trường nữ trung học Đồng Khánh cũng là nơi chị Lan Nhi theo học khi vào Nam sau 1952. Trước trường là một công viên với hồ nước, cây cối và bồn hoa đủ màu được cắt xén tuyệt đẹp. Những con đường nhỏ tủa xuống  bến đò rất râm mát với ghế đá mát rượi chờ đón. Nơi đó thích hợp cho những cặp tình nhân ngồi hóng mát, ngắm hoa và nhìn mây nước hữu tình. Ngôi trường Đồng Khánh thân yêu của ngày nào nằm bên kia bờ sông, cách Thành Nội một đoạn đường khá xa. Đồng Khánh cách Quốc Học một con đường. Con đường nhỏ bé này là bên hông của hai trường. Trước và sau giờ học, học sinh hai trường có dịp chen chúc gặp nhau. Từng đoàn xe đạp nối đuôi nhau hướng về trường. Những tà áo trắng phất phơ tung bay trước gió như những đàn bướm trắng bay lượn trên khắp nẻo đường.

Với lối kiến trúc của Pháp, trường có hình chữ U, sơn màu hồng. Bên trong khuôn viên trường, nhiều con đường nhựa nối liền các dãy lớp học với các hàng phượng vĩ cao vút. Ở những cây phượng đó, có nhiều con sâu đo màu xanh nhạt mà Thuận rất sợ. Có một lần, sau giờ chơi, khi vào lớp học, một cô bạn ngồi kế bên đưa tay vói lên đầu Thuận bắt được một con sâu đo màu xanh xanh, đưa cho Thuận thấy và khẽ  bảo:
Mùa hè sắp đến, bọn Thuận đi nhặt cánh Phượng rơi và hái lá " học bài " ép vào tập. Bọn Thuận vẫn tin rằng ép lá học bài sẽ mau thuộc bài. Những quyển "lưu bút ngày xanh" được chuyền tay nhau để cùng ghi chép vào đó vài dòng cảm nghĩ tuổi ngây thơ học trò. Mỗi nàng chọn một vài tấm ảnh đẹp của mình dán

vào bên cạnh những vần thơ hồn nhiên pha chút mộng mơ dễ thương. Có bạn thi nhau chép thơ trữ tình của TTKH, Thế Lữ, Nguyễn Bính... Những quyển sách trong Tự Lực Văn Đoàn là cái gối đầu giường của các bạn nữ sinh  thời bấy giờ. Riêng Thuận say mê đọc tác phẩm của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, những tác phẩm nhiều kỷ niệm quê hương như U Hoài, Dòng Sông Định Mệnh, Gìn Vàng Giữ Ngọc, Hồ Thùy Dương. Trong truyện Khu Vườn Bên Cửa Sổ nhà văn Doãn Quốc Sỹ mô tả người con gái tên Linh ở tuổi mới lớn, có nhiều mộng mơ, Linh như chúng tôi, những cô nữ sinh có những ước mơ về cuộc đời, về tình yêu và về tương lai:
"Mưa đã tạnh hoàn toàn, ánh nắng le lói làm xe hấp nóng. Trên đường trường các xa lớn nhỏ đủ cỡ qua lại vun vút để lại chút bụi cuốn và mùi nắng say nồng. Mùa xuân như lên men trong lòng em, chẳng biết có lên men trong lòng chàng? Chàng say mê với nghề chàng chọn y như anh Đạm. Với anh Đạm ngày xưa, em kính mến vì là bậc đàn anh của ông anh cả mình; với chàng ngày nay không quá xa em về tuổi tác, chỉ hơn em năm tuổi là cùng, có lẽ em cũng kính mến như đã kính mến anh Đạm, nhưng em cảm thấy chàng như một trái chín vừa tầm tay với. Em không dám tự kiểm soát mình rõ ý nghĩ hơn để khỏi ngượng ngùng mà thấy rằng em đã mơ chuyện lứa đôi với chàng từ lúc đó...

"Đời người là một kiếp sầu
Thương nhau quên hết niềm đau cuộc đời"


Đó là dòng văn tình tự yêu thương giữa Linh và Hùng. Họ yêu nhau trong văn yêu của tuổi trẻ mộng mơ, của tuổi mà mỗi người lớn chúng ta đã trải qua trong đời. Ngày nay tôi viết về nhà văn, cũng là vị giáo sư khả kính của miền Nam tự do, cũng là tác giả của truyện mà tôi đọc ngày xưa trong sự kính mến.

Đó là khía cạnh tình yêu giữ hai người trẻ trong văn của ông. Về khía canh tình mẫu tử thì ông mô tả dáng mẹ hiền Việt Nam như trong bài viết Nghĩa Mẹ Tình Mẹ, bài viết cho ngày Vu Lan tưởng nhớ đến mẹ, được in năm 1973:

Dân tộc Việt Nam, Tổ quốc Việt Nam, Mẹ Việt Nam, Mẹ tượng trưng cho lịch sử gian truân bi hùng. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là biểu tượng cho những giá trị đạo đức cao đẹp trong những tác phẩm của ông. Ông thích âm nhạc diễn tả về tình yêu về Mẹ, gởi đến các Hiền Mẫu. Thuận nhớ trong nhạc phẩm Mẹ tôi, Nhị Hà có viết:

"... Mẹ tôi tóc xanh nhuộm bạc tháng ngày
Mẹ tôi đau buồn nặng trĩu đôi vai
Bao năm nuôi đàn trẻ thơ nhỏ dại
Cầu mong con mình có một ngày mai

Mẹ tôi nắng mưa chẳng ngại nhọc nhằn
Mẹ tôi mỉm cười nhìn bóng con ngoan
Không than không phiền dù lâm hoạn nạn
Lòng tin con mình xứng thành người dân..."

Hay bài ca vô cùng nổi tiếng của Y Vân gởi đến Mẹ ông qua bài Lòng Mẹ;

"Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào,
Tình Mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào,
Lời Mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào.
Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng Mẹ yêu.

Lòng Mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu.
Tình Mẹ yêu mến như làn gió đùa mặt hồ.
Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ.
Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ..."


Thuận đọc bài viết Nghĩa Mẹ Tình Mẹ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ mà nhớ lại  quãng đời thơ ngây đi học xa nhà tại Huế có Mẹ, có chị với bao vui buồn. Lớn lên trong gia đình hàn vi, nhưng Ba Mẹ trọng học vấn, chị cả Hường phải lăn ra ngoài xã hội đi làm sớm lắm, sự hy sinh, dành dụm của gia đình với  hy vọng dành

cho Thuận tại Đồng Khánh. Nhà nghèo chị Hường lo sợ đủ thứ, nên chị tính toán chi ly đủ điều, có khi trở thành quá keo kiệt. Chị đếm từng đồng bạc cho Thuận vừa đủ chi tiêu ăn học, Thuận lại khóc lóc làm cho Mẹ khổ thêm. Mẹ Thuận lại phải chạy mượn trước tiền hụi, lấy trước tiền lúa mùa sắp đến, để lén lút cho Thuận. Ba thì quá hiền lành, ký cóp tiền bạc, cất dấu không dám tiêu xài, làm được bao nhiêu giao cho Mẹ hết. Càng nghĩ về mẹ, Thuận càng thấy thương nhớ Mẹ nhiều vô cùng. Thuở đó, đêm đêm Mẹ thường hay ngủ với Thuận . Mẹ đã cho Thuận tình mẫu tử thật bao la như nhạc Y Vân mô tả, như sông nước đại dương. Thế mà Thuận thường hay giận hờn, nhịn ăn để làm yêu sách với Mẹ, làm Mẹ phải dịu ngọt dỗ dành buồn lo...

Nhớ thời lứa tuổi học sinh,
Áo dài màu tím bên mình thường xuyên.
Nhà nghèo đâu kiếm ra tiền,
Mẹ thương, mẹ bán dây chuyền tân hôn.
Mẹ vì " tất cả cho con ",
Miễn sao con được vuông tròn  Mẹ vui .


Thuận đang đắm chìm trong  dòng tư tưởng quay về quá khứ; bỗng tiếng chị Lan Nhi reo lớn lên:

- Giáo sư nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã đến.

Thuận bừng tỉnh sau một chuyến viễn du về thời thơ ấu xa xưa, đưa mắt hướng về phía cửa ra vào. Một người đàn ông quắt thước, dáng đi chững chạc tiến vào nhà trong sự vui mừng của mọi người. Không khí rộn rịp hẳn lên, tiếng chào hỏi cười nói lao xao không ngớt vang lên. Doãn Quốc Sỹ, nhà văn mà Thuận hằng ngưỡng mộ từ thuở học sinh mà  không được hân hạnh làm học trò của Thầy, bằng xương bằng thịt đang đứng trước mặt Thuận đây! Thầy rất trẻ so với tuổi đời của Thầy. Dáng của thầy gầy, nhưng xem ra rất rắn chắc và hết sức linh hoạt. Ở Thầy toát ra cốt cách của nhà mô phạm đúng nghĩa của nó. Cái đặc tính cao quý nhất của bao nhận xét mà người đời dành cho ông như "Doãn Quốc Sỹ một tâm hồn thanh thản, đôn hậu, cao thượng",

và  "... Doãn Quốc Sỹ ngồi đó, và ông đúng như hình ảnh tôi tưởng tượng buổi thiếu thời. Dáng người dong dỏng, gầy, khuôn mặt nhân hậu và trí thức. Hình như bao năm cơ cực tù đày cũng không xóa mất nụ cười khoan hòa và nhân ái, cái nhân ái bàng bạc trong văn chương ông. Những dòng văn chương diễn tả được cái đẹp vô cùng nhân bản và tình người... Ông hỏi tôi có học với ông không? Tôi thưa là tôi học ở Huế, không được học với thầy nhưng văn chương của thầy đã dạy con biết mơ mộng và tư duy từ thuở hoa niên cho mãi đến bây giờ... Chỉ trong mấy giây với Doãn Quốc Sỹ mà tôi tưởng như được trở về với ngày xưa có sắc hương thầm kín lụa là... Tôi sống thật đầy, thật đẹp với vầng trăng của Doãn Quốc Sỹ. Đã qua rồi những mùa trăng trầm thống nhưng hồn tôi vẫn giữ mãi vầng trăng mười sáu nguyên vẹn của ông... Hình như thời gian đang ngừng lại, tôi đang đi trên lối xưa đầy diễm ảo và tôi đã được gặp một nhà văn biểu tượng cho tình yêu, sĩ khí và bất khuất của nhiều thế hê.. Hạnh phúc thay!".

Bằng lời văn của nhà văn Nguyễn Văn Quảng Ngãi viết về giáo sư Doãn Quốc Sỹ, Ninh Thuận xin kết thúc bài viết ở đây và cầu xin giáo sư, nhà văn trong mơ ước mà bây giờ Thuận đã gặp được nhiều khỏe mạnh để dẫn dắt các bạn trẻ trong và ngoài Văn Đàn Đồng Tâm vào lãnh vực văn chương của sáng tạo, của nhân bản và của nhân hậu như gương sáng của người thầy tôi hằng tôn kính. Lời cuối vẫn mãi mãi là lời chân thành chúc Thầy những lời tốt đẹp nhất.

Nguyễn Ninh Thuận


DOÃN QUỐC SỸ
Một Tâm Hồn  Thanh Thản, Đôn Hậu, Cao Thượng


- Nguyễn Văn Quảng Ngãi -

MỘT THOÁNG HƯƠNG XƯA: Ôi, dòng sông, cánh đồng năm ngàn năm của chúng ta, mênh mông thanh thản dưới mắt nhân loại kẻ nào mà làm hoen ố nổi ...

Thuở xưa, ngót bốn mươi năm rồi, trong Tiền Kiếp của Gìn Vàng Giữ Ngọc, Doãn Quốc Sỹ đã mạnh dạn, tự hào viết như vậỵ

Gìn Vàng Giữ Ngọc. Sao mà cái tên của tác phẩm đẹp đến vô cùng! Không ít người đã quên khuấy đi mất cái nguồn gốc từ truyện Kiều:

Gìn vàng giữ ngọc cho haỵ
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời


mà Kim Trọng đã ân cần dặn dò Thúy Kiều trước khi giã biệt về nhà hộ tang chú. Nhất định cụ Nguyễn Du chẳng những đã không trách họ Doãn mà còn vui mừng khi thấy hậu thế đã biết khéo léo dùng lại ngôn ngữ của mình để khuyên nhủ thế nhân. Còn nữa, Doãn Quốc Sỹ còn nhiều tác phẩm mà tên gọi vừa đẹp, vừa ý nghĩa như: Dòng Sông Định Mệnh, Ba Sinh Hương Lửa, Trái Cây Đau Khổ...

Cùng với Lỡ Bước Sang Ngang của Nguyễn Bính, Ngàn Năm Một Thuở của Hồ Hữu Tường, Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân... đó là những tác phẩm có tên gọi hay nhất, đã trở thành những điển tích mà nhiều người hay mượn tiêu đề để trích dẫn nhiều hơn là nội dung của tác phẩm...

Nhưng khi nói đến Doãn Quốc Sỹ là nhiều người nói đến Dòng Sông Định Mệnh, tác phẩm đã gây xúc động trong lòng rất nhiều người từ năm 1959.

Tôi đã yêu Dòng Sông Định Mệnh từ đó, thuở mà tâm hồn còn xanh tươi, bầu nhiệt huyết còn đầy ắp. Mãi đến ngày nay, đôi khi nhắm mắt ôn lại một thoáng hương xưa thân yêu đó, tôi vẫn còn tìm lại được nguyên vẹn cái cảm giác đầy rung động, thích thú khi đọc Dòng Sông Định Mệnh:

Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung Có ai đàn lẻ để tơ chùng Có ai tiễn biệt nơi xa ấy Xui bước chân đây cũng ngại ngùng.

Dòng sông gợi cho chúng ta nhiều cảm giác, lắm suy tư: khi nỉ non tâm sự, lúc ôm ấp hiền hoà, khi giông tố ba đào, lúc trầm tư mặc tưởng. Dòng sông còn gợi cho chúng ta biết bao là kỷ niệm mà bụi thời gian đã phủ mờ theo năm tháng:

Con nước ấy đã bao lần sóng vỗ
Chút tàn phai đọng lại dưới chân cầu
(Hà Nguyên Thạch)

Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu
(Hoài Khanh)

 
Nhưng có ai chận đứng được thời gian nên phương Đông đã tra vấn nước sông: Chảy mãi như thế này ư chẳng kể ngày đêm?

Và có ai tìm lại được những ngày xưa thân ái nên phương Tây đã than thở: Người ta không thể tắm hai lần trên một dòng song
           
...Với Doãn Quốc Sỹ thì khác!

Dù thời gian có hững hờ trôi như nước chảy qua cầu, dù cuộc đời có gây nhiều đau thương, tang tóc cho nhân thế, dù cuộc thế có đầy rẫy lọc lừa phản trắc, dù cầu Hiền Lương qua sông Bến Hải thuở đó như là một vết thương còn rướm máu mà Định Mệnh

 vừa mới tàn nhẫn chia cắt đất nước thân yêu... Doãn Quốc Sỹ vẫn một lòng tự hào tin tưởng: "Cánh đồng và dòng sông năm ngàn năm của chúng ta kẻ nào mà làm hoen ố nổi?".

XUÔI DÒNG THỜI GIAN:

Là độc giả thường xuyên của Bách Khoa, tờ báo có tuổi thọ cao nhất và thành công nhất ở miền Nam trước 1975, ngoài những bài vở giá trị về nhiều phương diện, có một dạo tôi rất thích thú với những bài phỏng vấn tài tình Sống Và Viết Với... của Nguyễn Ngu Í. Bài viết về Doãn Quốc Sỹ là bài xuất sắc nhất - theo tôi - trong loạt những bài phỏng vấn này và sau được Nguyễn Ngu Í cho in thành sách với tên gọi như trên (Ngày Xanh xuất bản 1966). Ngoài những chi tiết liên quan đến Sống Và Viết... của Doãn Quốc Sỹ, điều mà cho mãi tới ngày nay vẫn còn ghi đậm trong tôi là bức hình chớp toàn gia đình của ông. Bà Doãn Quốc Sỹ với nét dịu hiền thanh tú của một mệnh phụ Việt Nam (bà là con nhà thơ Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu) cùng ông và rất đông con (đông thật!) mà cô nào cậu nấy đều tươi cười, xinh xắn. Đặc biệt là những đôi mắt: tất cả đều tròn xoe, trong sáng!...

Đọc sách của ông, cảm được tấm lòng đôn hậu và nhân ái của ông, hiểu được tình yêu dân tộc Việt Nam tha thiết của ông, thấy được niềm tin bao la và sâu sắc của ông về chân-thiện-mỹ cho nhân thế, biết được cuộc sống của ông: dạy học (Trung và Đại Học), viết văn, chủ trương nhà xuất bản Sáng Tạo, xem hình cả gia đình ông... đã cho tôi đi đến kết luận: Đó là mẫu người lý tưởng cho một xã hội Việt Nam lý tưởng!

Trên đây là tất cả những điều tôi biết về Doãn Quốc Sỹ trước năm 1975.

Trong 9 năm tù ngục có thời gian dài tôi ở nhà giam Kim Sơn và Nước Nhóc (K18) thuộc tỉnh Nghĩa Bình (Quảng Ngãi và Bình Định sát nhập) và cùng làm chung một bộ phận lao động với một nhà nho ẩn danh. Anh làm thơ rất hay, có kiến thức về Hán văn rất rộng và đặc biệt là biết rất nhiều về những nhà văn, nhà thơ ở miền Nam. Theo anh thì nhân loại đã và đang bị lún sâu vào cuộc chiến tranh lạnh tranh chấp giữa hai khối (dạo đó).

Nếu những tác phẩm của ông Doãn được dịch ra Anh hoặc Pháp văn để loài người đọc và suy gẫm về cái tâm của ông cho tình yêu (gia đình, bằng hữu, quê hương, nhân loại), về tấm lòng cương quyết và tin tưởng hướng đến chân-thiện-mỹ của ông... thì những điều đó sẽ có ảnh hưởng sâu đậm và Doãn Quốc Sỹ xứng đáng nhận giải thưởng Nobel về văn chương. Chúng tôi cũng bàn đến những tác phẩm và văn tài của Võ Phiến, nhà văn Bình Định chòm xóm gần gũi từ thuở Mùa Lúa Mới mà chúng tôi rất quý kính để có cùng chung một kết luận: Doãn Quốc Sỹ và Võ Phiến là hai nhà văn tiêu biểu ở miền Nam về văn tài, về lập trường Quốc Gia - Dân Tộc và về tư cách và đạo đức.

Sau vài chuyến vượt biển thất bại, bị bắt, vượt ngục, cuối cùng tôi đến được trại tị nạn Galang ở Nam Dương năm 1985. Một hôm tôi đang ngồi tại văn phòng Trung Tâm Thiếu Nhi Không Có Thân Nhân (Unaccom-panied Minors Center) thì anh bạn Chủ Tịch Ban Đại Diện Cộng Đồng đưa một thanh niên đến thăm và giới thiệu:

- Đây là trưởng nam của nhà văn Doãn Quốc Sỹ đang dạy level C (trình độ cao nhất của ESL).

- Có phải em đang cho đăng truyện của bố trên tờ Tự Do không? (Tự Do là tờ báo Việt Ngữ của trại).

- Sao anh biết?

- Trước kia ai đã đọc nhiều sách của bố thì, dù bố có ký dưới bút hiệu nào đi nữa, khi đọc truyện người ta sẽ nhận ngay ra văn phong của bố... Tôi cố nhớ lại tấm hình chớp toàn gia đình của Doãn Quốc Sỹ trên Bách Khoa thuở trước để đối chiếu với anh bạn thanh niên trắng trẻo, đẹp trai, ăn nói nhỏ nhẹ, lễ phép nàỵ

Vài tháng sau đó, một buổi sáng, anh ăn mặc chỉnh tề, vai đeo chiếc xách nhỏ vội vàng ghé lại thăm tôi trước khi lên đường sang Úc định cư. Việc này đã thực sự làm tôi cảm động vì ai đã từng ở trại tị nạn đều biết là ngày cuối cùng vô cùng bận rộn và vội vàng: nào phải lo hoàn tất những thủ tục cần thiết bắt buộc

của Cao Ủy tị nạn, của cơ quan IOM, nào phải lo soát xét lại hành trang cá nhân, nào kẻ còn ở lại nhờ nhắn tin, gởi thư, nào bằng hữu đưa tiễn... nên nhín một chút thì giờ tạt lại thăm nhau quả thật là đặc biệt quý giá!

Mãi đến năm 1996 tôi mới có duyên gặp tác giả Dòng Sông Định Mệnh khi cả hai chúng tôi được Cộng Đồng Việt Nam tại Wichita - Kansas mời nói chuyện trong dịp lễ kỷ niệm 30 tháng 4. Anh bạn Lê Hồng Long, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tạp chí Thế Giới Ngày Nay đã dành cho chúng tôi sự tiếp đãi ân cần, chu đáo khó kiếm. Chúng tôi mỗi người ở một phòng riêng với đầy đủ tiện nghi tại nhà anh. (Hoàn toàn trong tình văn nghệ chứ anh không có trách nhiệm gì trong cộng đồng hay trong ban tổ chức ngày lễ). Sau những phút xã giao ngắn ngủi chúng tôi dễ dàng trở nên tương đắc khi tâm sư ...

Vâng, tôi đang đối diện với tác giả Dòng Sông Định Mệnh. Dù đã qua tuổi cổ lai hy, với nhiều năm dài trong tù ngục nhưng anh vẫn còn mạnh khoẻ từ thể xác đến tinh thần. Dáng cao, gầy, nước da ngăm đen, khuôn mặt chữ điền. Đôi mắt sáng, vừa hiền hòa vừa cương quyết. Nụ cười cởi mở, bao dung. Nói chuyện với anh tôi có cảm tưởng như mình đang hầu chuyện với một bậc thiền sư vì anh lắng nghe từng chi tiết nhỏ, anh tâm tình chậm rãi, khoan dung trong tinh thần hồn nhiên, phá chấp...

Đề tài anh nói chuyện với Cộng Đồng là: Đời Sống Văn Nghệ Sĩ Trong Lao Tù Cộng Sản. Anh nói nhỏ nhẹ như đang chia xẻ với bằng hữu thâm giaọ Anh kể một vài mẫu chuyện thoạt nghe tưởng như chẳng có gì đáng nói nhưng gẫm lại thì rất chí lý. Bởi vì anh nói bằng cả con tim của anh. Do đó phải nghe anh bằng cả tâm hồn mình mới tâm đắc được hết tâm sự anh muốn giải bàỵ Nhà văn Võ Đình đã rất chí lý khi viết về Doãn Quốc Sỹ trong ngục tù: ...Ngày nay, dẫu có đắng cay khổ nhục mấy đi nữa, ông vẫn còn nhìn với đôi mắt thương hại những công tố viên đang xỉa xói ông, những cán bộ chấp pháp đang truy vấn ông, những cai tù đang kềm giữ ông. Và như vậy ông mới có "Tự Do", cái tự do ông trả với tất cả đau đớn ê chề cả thể xác lẫn tinh thần. Trái tim ông vẫn không suy suyễn. Bạo lực có thể uy hiếp ông. Nhưng bạo lực không cách gì đập nát trái tim ông và đặt vào đó

lò lửa căm thù. Ông chỉ căm thù bạo lực, ông không thể căm thù con người, dù đó là con người dùng bạo lực để hành hạ ông...

Vâng, chìa khóa của kiếp nhân sinh là cái "Tâm". Các vấn nạn trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng chỉ có thể giải quyết bằng cái "Tâm"...

Ba ngày tại Wichita - với lòng hiếu khách đặc biệt của anh Lê Hồng Long và gia đình - chúng tôi đã tạo được sự cảm thông quý giá và tôi thật sự vinh hạnh được anh xem như bạn hiền. Từ đó, mỗi lần biên thư cho tôi anh thường nhắc đến nhà báo họ Lê và mong có ngày gặp lại nhau ở thành phố Wichita nhỏ bé xa xôi nhưng thắm tình đồng hương của tiểu bang Kansas.

Tháng 4 năm 1999 anh Doãn Quốc Sỹ và tôi lại có dịp gặp nhau tại thành phố Dallas, Texas khi chúng tôi cùng được mời sung vào ban Giám Khảo cuộc thi truyện ngắn năm 1998 do hai tờ tuần báo Viet nam Weekly News và Người Việt Dallas tổ chức. Một chi tiết nhỏ chứng tỏ tấm lòng luôn luôn vì văn hóa dân tộc của anh. Thoạt đầu quý anh Trần Lộc, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tuần báo Vietnam Weekly News và anh Thái Hóa Lộc, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tuần báo Người Việt Dallas mời hai người điạ phương là anh Đàm Trung Pháp, Giáo sư ngôn ngữ học tại Đại học ở Dallas và tôi sung vào ban Giám khảọ Tự biết mình chỉ viết lách một cách tài tử, nhưng, để khích lệ việc làm ý nghĩa này và tạo dễ dàng cho ban tổ chức, chúng tôi đã vui vẻ nhận lờị Khi thấy số người gởi bài tham dự cuộc thi khá đông (gần 100 người từ nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ và từ một vài nước khác), để tăng giá trị cho cuộc thi và vinh dự cho những người trúng giải, vào giờ chót, hai anh đã nhờ tôi mời anh Doãn Quốc Sỹ vào ban Giám khảọ Dù biết mời khá muộn là chuyện không phải nhưng tôi vẫn viết thư trình bày chi tiết gởi đến anh kèm theo bản sao của 31 truyện dự thi đã được ban tổ chức chọn vào chung khảọ Anh đã chấm từng truyện cẩn thận, cho điểm, ghi chú và gởi trả lại ban tổ chức trước cả anh Đàm Trung Pháp và tôị Và anh đã về Dallas tham dự lễ phát giải thưởng. Anh Đàm Trung Pháp, dù rất bận rộn với Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương của Cộng Đồng, vẫn đưa chị Pháp đến thăm thầy (Giáo sư Pháp vốn là học sinh cũ của anh Doãn Quốc Sỹ). Hành động ấy, mấy lời

 thăm hỏi nhẹ nhàng, ngắn ngủi ấy đã nói lên cái "tình thầy trò" đậm đà cao quý cuả nền văn hóa Việt Nam đầy nhân nghĩa, thủy chung khó tìm được ở xứ này! Dạo đó tôi vừa nhận cuốn hồi ký Việt Nam, Một Thế Kỷ Qua do tác giả, Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, gởi tă.ng. Trong sách có đoạn nói đến nhà thơ Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu... chất phát, hiền hậu, khiêm tốn, ít nói về mình và đặc biệt là luôn luôn đi xe đạp một cách chậm chạp, từ tốn như đi dạo mát...

Anh Doãn Quốc Sỹ rất cảm động khi đọc đoạn này cùng một số nhận xét đặc biệt nữa về nhạc phụ mình và chép ngay tại chỗ tặng tôi bài thơ cuả cụ Hồ Trọng Hiếu "Tú Mỡ đi xe bình bịch":

Tú rững mỡ cưỡi xe bình bịch Máy nỗ vang sình sịch chạy như bay Bóp còi toe như quát tháo giương vây Khách đường cái vội rãn ngay tăm tắp Tú nhớ thuở còn đi xe đạp Một thứ xe chậm chạp hiền lành Trên đường dù chuông bấm liên thanh Khách đủng đỉnh làm thinh không chịu tránh ...Ồ ngán nhỉ ở trên cõi tục.

Con người ta bất độc bất anh hùng - Phần phát biểu trong buổi lễ phát giải anh nói về đề tài như một nhắn gởi tha thiết, nhẹ nhàng đến tất cả mọi người hãy cố gắng duy trì tiếng Việt ở miền đất mớị Anh đọc lại bài thơ Ông Đồ Già nổi tiếng của Vũ Đình Liên (thầy cũ của anh ở Hà Nội thuở xa xưa) và một nỗi buồn thấm thía gợn lên trong lòng mọi người về một viễn ảnh suy thoái, tàn lụi của tiếng Việt trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại:

..Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nhiên sầu
Ông Đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơ i trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay


Anh cũng đọc thơ của hai người bạn thân trong nhóm "Sáng Tạo". Một đã ra đi là nhà văn Mai Thảo:

Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao Trời sẽ hiểu thôi.


Bốn câu thơ này Mai Thảo làm như là một linh tính báo trước ngày ra đi của mình và đã được khắc trên bia mộ của Mai Thảo ở Nam Calị Một còn sống là nhà văn Nguyễn Sỹ Tế:

Đỉnh Trời gió quét mây tan tác
Trăng lưỡi liềm ngơ ngác lạnh căm
Trăng sao giọt lệ u trầm
Trăng sao quá đổi âm thầm hỡi trăng?


Bốn câu thơ này anh dịch từ một bài thơ trong tập thơ bằng tiếng Pháp của Nguyễn Sỹ Tế kể lại thời gian hai người cùng ở trại giam Gia Trung. (Hai anh Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút Trần Lộc và Thái Hóa Lộc cùng nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp rất đáng được tuyên dương vì đã tổ chức rất chu đáo và thành công cuộc thi truyện ngắn 1998!)

PHỤ TRANG: Hòa trong nỗi đau khổ chung của cả dân tộc sau biến cố kinh hoàng 30-4-1975, anh Doãn Quốc Sỹ đã phải vào tù hai lần trước sau hơn 12 năm. Khổ đau từ thể xác đến tinh thần của các tù nhân do bạo quyền gây nên chữ nghĩa trần gian đâu đủ viết cho hết, tả cho tròn! Nhưng khổ đau không thay đổi được anh vì anh đã viết, từ 1965, trong Người Việt đáng yêu: "... Không có sự trưởng thành đáng kính nào bằng sự trưởng thành trong đau khổ... khổ đau là một sự thiêng liêng ở trên thế gian này... Dân tộc Việt Nam phải là một sự thiêng liêng đối với nhân loại..."

Thuở xưa anh đã ân cần khuyên nhủ mọi người: "Hãy quay trở

về với chính mình, vun xới tâm hồn mình là chuốc lọc danh dự cho dân tộc, là gieo hươ ng hạnh phúc cho nhân loại". (Tiền kiếp)

Và anh tha thiết ước ao: "Niềm ao ước vĩnh cửu của tâm hồn nhân loại, và cũng là sự thực vĩnh cửu cuả vũ trụ là: bao giờ cuối cùng "thiện cũng thắng ác".

Khổ đau, bạo lực chẳng những không làm anh căm thù mà - như một sự thiêng liêng - đã làm tâm hồn anh dịu lạị Trong truyện ngắn Người vái tứ phương, một mặt anh diễn tả thật đầy đủ xã hội miền Nam sau bảy năm bị đọa đày bằng những từ ngữ nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, mặt khác anh vẫn tiếp tục ân cần khuyên nhủ mọi người: "Cuộc sống đầy rẫy những khác biệt và đụng chạm. Hãy cảm thông và bao dung những vui buồn phải trái cuả nhau... Cuộc đời tự nó đã quá nhiều phức tạp, sầu khổ, còn gây thêm sầu khổ cho nhau mà làm gì!".

Noi gương người xưa đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân mà thay cường bạo nên Giáo sư Hoàn, dù tốt nghiệp tiến sĩ sinh vật học tại Hoa Kỳ đã không được tiếp tục dạy lại tại Đại học Khoa học, vẫn đầy lòng từ tâm thánh thiện đã bình thản, không có một lời nói hay cử chỉ thất thố nào khi đối diện với viên trung tá công an hạ trác đòi mình đến trình diện: "Tôi rất mực điềm đạm thùy mị trả lời... Tôi trả lời như thể tự ngàn xưa vốn dĩ tôi như thế và cho tới ngàn sau tôi không thể khác hơn..."

Và giáo sư Hoàn đã chinh phục, cảm hóa được viên trung tá nàỵ Một ghi nhận nhỏ là thuở xưa có rất ít người xấu, việc xấu trong các tác phẩm của anh nên nhà văn Võ Phiến đã viết: "Hầu hết các nhân vật tiểu thuyết cuả Doãn Quốc Sỹ đều tốt ... Hoạ hoằn lắm mới có một nhân vật xấu..." (Văn Học Miền Nam - Truyện I) và đã dí dỏm một cách khéo léo: "Đọc sách ông thơm tho cả tâm hồn". (Văn Học Miền Nam Tổng Quan). Nhưng trong Người vái tứ phương, anh đã viết: Trong cõi tương đối này chúng ta há chẳng thấy thường khi cái đúng và cái sai chỉ là đường tơ kẻ tóc, hoặc giả chính vì cái sai này mà cái đúng kia hiển hiện. Thực ra trên dòng biến dịch không ngừng nghỉ của vạn hữu, cái sai cũng mầu nhiệm như cái đúng...

Kiếp nhân sinh là như vậy đó: Cái tốt nương tựa cái xấu, nỗi buồn gắn bó với niềm vui, khổ đau quyện theo hạnh phúc.

Rồi anh tiếp tục ân cần khuyên nhủ mọi người:

"...Thế giới này là nơi cộng đồng trách nhiệm. Khi cái đẹp, cái thiện đã được khơi nguồn, thắp sáng, người ta dễ bề mở rộng cái tôi cá biệt đi vào cái ta hoà đồng...

...Bất kỳ hành động thiện, hành động đẹp nào của bất kỳ ai đều có khả năng mầu nhiệm bảo vệ giá trị sản nghiệp tinh thần của cả nhân loại...

... Khi nhân tính vươn vai thức giấc, mọi chủ nghĩa, đảng phái không thành vấn đề...."

Cuối thu năm ngoái, ở tuổi 75, trong một lá thư gởi cho tôi anh đã viết: "...Nhà tôi ở hiện giờ còn giữ nguyên màu xanh ngút ngàn của thiên nhiên: đó là những rừng oak và thông đẹp tuyệt vờị Sáng sáng tôi cùng bà xã đi bộ độ nửa giờ, sau đó tôi đạp thêm 1 giờ bằng chiếc xe đạp được một anh học trò cũ tă.ng. Vì vậy sức khoẻ giữ đều không ốm đau vặt như thường thấy khi tới tuổi cổ lai hi của tôi...".

Trong tất cả những tác phẩm cuả anh - từ tập trường thiên qui mô và quan trọng nhất là Khóm Rừng Lau đến những truyện cổ, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài hoặc khảo luận, tuỳ bút - tình thươ ng bàng bạc khắp cùng: Anh đã gánh trọn cái trách nhiệm luân lý nặng nề. Ngày nay, ở tuổi hoàng hôn của cuộc đời, ước mong từ miền Houston sầm uất đó, anh hưởng được đầy đủ cái hương nhân loại lâng lâng tỏa ra từ bốn phương tám hướng mà anh đã ước mơ vào một chiều bên hồ Lạc Thiện vùng Ban Mê Thuộc thuở xa xưa trong Gìn Vàng Giữ Ngọc.

Đã có rất nhiều người viết về Doãn Quốc Sỹ. Từ những vị có đầy đủ uy tín và tuổi tác trong văn giới đến những độc giả đã từng mến mộ anh và văn chương anh đã ảnh hưởng nhiều đến đời sống tinh thần của ho.. Những bài viết, nhận xét thật đầy đủ, thật

chi tiết. Do đó xin được gọi những dòng tâm tình này là "Một Phụ Trang" để bày tỏ lòng quý kính của tôi đối với một nhà văn hàng đầu tôi được biết qua nhiều tác phẩm và, do một duyên lành, được quen thân qua những dịp tâm tình tương đắc. Đã gọi là phụ trang - mà là một phụ trang tâm tình - thì không thể viết dài (Mà nếu muốn viết nữa thì cũng vẫn không thể nói hết những điều mình muốn viết).

Để chấm dứt bài viết tôi xin chép lại đây cảm tưởng cuả nhà văn Đổ Thiên Như về lần đầu tiên cô được gặp gỡ tác giả mà cô đã ngưỡng mộ và xem như là thần tượng từ vài thập niên qua và còn giữ mãi cho tới ngày nay tại thành phố Seatt le tháng 6 năm 1995:

"... Doãn Quốc Sỹ ngồi đó, và ông đúng như hình ảnh tôi tưởng tượng buổi thiếu thờị Dáng người dong dỏng, gầy, khuôn mặt nhân hậu và trí thức. Hình như bao năm cơ cực tù đày cũng không xóa mất nụ cười khoan hòa và nhân ái, cái nhân ái bàng bạc trong văn chương ông. Những dòng văn chương diễn tả được cái đẹp vô cùng nhân bản và tình người... Ông hỏi tôi có học với ông không?

"Tôi thưa là tôi học ở Huế, không được học với thầy nhưng văn chương của thầy đã dạy con biết mơ mộng và tư duy từ thuở hoa niên cho mãi đến bây giờ..."

Chỉ trong mấy giây với Doãn Quốc Sỹ mà tôi tưởng như được trở về với ngày xưa có sắc hương thầm kín lụa là... Tôi sống thật đầy, thật đẹp với vầng trăng của Doãn Quốc Sỹ. Đã qua rồi những mùa trăng trầm thống nhưng hồn tôi vẫn giữ mãi vầng trăng mười sáu nguyên vẹn của ông... Hình như thời gian đang ngừng lại, tôi đang đi trên lối xưa đầy diễm ảo và tôi đã được gặp một nhà văn biểu tượng cho tình yêu, sĩ khí và bất khuất của nhiều thế hệ.. Hạnh phúc thay!"

Nguyễn Văn Quảng Ngãi


Kinh-nghiệm văn-chương Doãn Quốc Sỹ


- Nguyễn Vy Khanh -

Hiệp định Genève 20-7-1954 đã đánh dấu một cuộc đình chiến nhưng lại chia cắt đất nước thành hai miền Nam-Bắc với ý thức hệ đối nghịch nhau; mâu thuẫn này sẽ đưa đến cuộc chiến tiếp diễn từ 1957 và tạm thời chấm dứt lần nữa vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cuộc đình chiến năm 1954 đã đưa hàng triệu người di cư trốn tránh bạo lực và chủ nghĩa cộng-sản, vào miền Nam tìm tự do, dân chủ và an cư lạc nghiệp. Một thay đổi có ý thức, nhất là đối với thành phần trí thức. Miền Nam và Sài-Gòn đã là tụ điểm của những lên đường mới, của những nảy mầm và chín mọng văn-nghệ. Nhiều khuôn mặt mới xuất hiện trên trường văn trận bút, những Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Đỗ Thúc Vịnh, ... di cư vào phía nam vĩ tuyến 17 sinh hoạt văn-nghệ bên cạnh những Bình Nguyên Lộc, Nguyên Sa, Võ Phiến, Đỗ Tấn, ... Khi Sài-Gòn trở thành thủ đô, với một cơ cấu chính quyền, thì ở đó và trong không khí đấu tranh văn nghệ cho chính trị ý thức hệ, những nhóm văn-nghệ được hình thành và phát triển. Tạp chí Sáng Tạo ra đời trong hoàn cảnh mới đó. Số 1 ra tháng 10-1956 và kéo dài được 31 số, ngưng từ tháng 9-1959, đến tháng 7-1960 tiếp  tục bộ mới nhưng cũng chỉ ra thêm được 7 số. Mai Thảo, trong số ra mắt tạp chí Sáng Tạo đã phần nào chủ quan nói văn nghệ từ thủ đô Hà Nội đã chuyển vào thủ đô văn hóa Sài Gòn! Nhưng khẳng định của Mai Thảo là một diễn dịch khác của một cơ cấu xã hội và chính trị bị-động, phải đối phó tức thời với kẻ thù cộng sản. Sáng Tạo không đi ra ngoài quỹ đạo đó! Sáng-Tạo ra đời với cái gọi là ý thức văn nghệ mới và làm mới văn học cho thời đó. Tạp chí Sáng Tạo đã muốn làm đại diện cho nền nghệ thuật mới hậu chiến được gọi là "nghệ thuật hôm nay".

Nói đến nhóm tạp chí Sáng Tạo người ta nghĩ đến nhiều người: Mai Thảo "đầu đàn" với văn nói chung mới và tân cải hình thức, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên và Quách Thoại với

thơ tự do, Nguyên Sa với thơ ca tụng tình yêu tân kỳ, Cung Trầm Tưởng, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn) và Trần Tuấn Kiệt làm mới thơ lục bát, Trần Thanh Hiệp và Nguyễn Văn Trung (Hoàng Thái Linh), người lập thuyết, người giới thiệu triết lý thời thượng của Âu châu. Nhưng bên cạnh còn có Doãn Quốc Sỹ, Viên Linh, Người Sông Thương (Nguyễn Sỹ Tế), Trần Dạ Từ, Thạch Chương (Cung Tiến), Vương Tân (Hồ Nam), Hoàng Anh Tuấn, Mai Trung Tĩnh, Nguyễn Nghiệp Nhượng, Mặc Đỗ, Duy Thanh, Lữ Hồ, Trần Lê Nguyễn,...  Doãn Quốc Sỹ viết trên Sáng Tạo ngay từ những số đầu và chủ trương nhà xuất-bản Sáng Tạo; sự có mặt của ông đã là một đóng góp lớn, về chính-trị chẳng hạn, nhưng không là căn bản, không ở mặt nổi như những nhà văn thơ đã kể ở trên trước. Thật vậy, Sáng Tạo đã góp phần làm mới văn học về văn cũng như thơ, về hình thức, thể cách cũng như nội dung. Trong khi Thanh Tâm Tuyền cổ võ thơ Tự do, không vần, bất ngờ về ý và chữ dùng, Nguyên Sa với thơ tự do là thơ phá thể, Cung Trầm Tưởng, Sao Trên Rừng, ... hiện đại hóa thơ lục bát với ngôn ngữ tân kỳ, hình ảnh mới hơn, bất ngờ, cũng như trong cách dùng chữ, ngắt câu; trong khi Mai Thảo đã đóng góp cho một cách làm mới hành văn, có thể nói là làm xiếc với chữ, Thanh Tâm Tuyền và Thảo Trường tra vấn triết lý phận người, Thanh Tâm Tuyền con chữ sắc lạnh và Thảo Trường nung lửa cho từng chữ dùng, v.v. thì Doãn Quốc Sỹ đã là gạch nối cho truyền thống-cách tân và đã là "hương lửa" dẫn truyền đến thế hệ trẻ hơn.

Mặt khác, trong bầu không khí chính trị mới, tự do và dân chủ của sau hiệp định Genève 1954, văn chương của Võ Phiến, Đỗ Tấn, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Đỗ Thúc Vịnh, Kỳ Văn Nguyên, ..., những con người từng theo kháng chiến, đã góp phần xây dựng chính trị miền đất mới trong giai đoạn đắp nền của thời đệ nhất cộng hòa. Tác phẩm của họ đã đáp ứng những chờ đợi của con người thời đó. Văn chương trở thành vũ khí đấu tranh chính trị với cộng sản, dĩ độc trị độc, cũng như người cộng sản đã đặt văn nghệ thành chính sách. Những chuyện xảy ra ở các liên khu kháng chiến. Trong Người Tù, Kỳ Hoa Tử, Khu Rừng Lau, Mùa Ảo Ảnh, v.v., đấu tranh con người và chính trị là một! Cùng với các nhà văn nói trên, Doãn Quốc Sỹ đã quyết tâm bảo vệ lý tưởng, ý nghĩa đã có, dứt khoát vai trò của

người trí thức, phải bỏ chủ nghĩa cộng sản, đề cao dân tộc tính và tình người khi còn có thể. Một cách phá đổ huyền thoại kháng chiến đồng thời nhận chân giá trị thực của công cuộc vận động kháng thực đó! Vì an sinh của miền Nam cộng hòa, nơi tập hợp mới của con người không cộng sản, văn chương chống cộng, tố cộng, đề cao tự do, cảnh tỉnh người dân về hiểm họa cộng sản là thiết yếu, là những viên gạch không thể thiếu trong hoàn cảnh. Người ta nhân danh chiến tranh, muốn cảnh giác hiểm họa cộng sản. Và một tuổi trẻ năng động trong hành trình trí thức và tâm cảm, nhiều khắc khoải, ưu tư, nhưng họ lại có thể không cùng kinh nghiệm kháng chiến hay chống Cộng, dễ ngây thơ chính trị. Doãn Quốc Sỹ từng nhìn họa cộng-sản như chuyện Tái ông thất mã "tai ách Cộng-sản vò nát tự do, tàn phá nhân phẩm, chính là mũi thép nhọn, sắc mà nhân loại dùng để tự điêu khác khuôn mặt mình theo một khuôn mặt lý tưởng mà mọi người hằng mơ ước" - như ông đã có lần tâm sự với Hoàng Vyễn Ngư ("Con người Doãn Quốc Sỹ". Nghệ Thuật SG, 34, 6-1966, tr. 7 và 31). Như vậy, nạn nhân cộng-sản do đó đã chết không vô ích, một cái giá phải trả cho tự do, tương lai. Trong cùng phỏng vấn, ông cũng cho biết khi gia nhập kháng chiến "tôi kháng chiến hết mình. Tôi từng là một 'anh hùng lao động' của cơ quan tôi. Nhưng đến khi giã từ 'Thiên Đàng Đỏ' thì cũng giã từ quyết liệt, dứt khoát". Di cư, nhưng Doãn Quốc Sỹ cũng đã thất vọng, như "về với quốc-gia thì lại đụng đầu với thối nát, thối tha, (...) nhưng ở thế-giới mệnh danh là tự do này, dầu nó thối tha đến đâu, nó thối nát đến mấy, mà mình muốn giữ vũng lòng mình thì cũng còn đất đứng. Chớ ở thế-giới cộng-sản thì đừng hòng"(bđd).

Dĩ nhiên sau ngày 30-4-1975, lời của Doãn Quốc Sỹ về cộng-sản đã ứng nghiệm và những phê-phán chế độ miền Nam đã thiếu tầm nhìn xa và tích cực! Nhưng trước đó, miền Nam bốc lửa, nếp thanh bình tương đối của thời ngưng chiến sau 1954 dần mất. Nhà văn cũng như bao người dân khác, bị thời cuộc xáo trộn, phải đối phó. Sinh hoạt văn hóa cũng bị biến cố thời thế ảnh hưởng, và ảnh hưởng nặng nề. Người hiểu biết sẽ thấy khi chế độ đệ nhất cộng hòa bị lật đổ, dân chủ bị phản bội - mà những người sinh hoạt chính trị hình như cũng chưa thực hành được dân chủ, chưa chấp nhận "trò chơi" dân chủ - chống Cộng sẽ hết còn dễ dàng. Và một tuổi trẻ năng động trong hành trình

 trí thức và tâm cảm, nhiều khắc khoải, ưu tư, nhưng họ lại có thể không cùng kinh nghiệm kháng chiến hay chống Cộng, dễ ngây thơ chính trị. Không khí văn-nghệ trong tình cảnh đó trở nên nặng nề và bi quan, cái không khí buồn tột cùng hay bất lực đó đã thấy trong các tác phẩm của Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, ... cũng như cái phi lý dửng dưng trong tác phẩm Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn. Một lần nữa, con người trí thức lại phải lên đường đi tìm ý nghĩa của cuộc sống, người như Thanh Tâm Tuyền hăm hở mà dửng dưng, tự hào, không cảm tính, thì người khác như Nguyễn Đình Toàn chậm chạp khám phá theo cảm tính và tư duy. Đến giai đoạn này, nhà văn Doãn Quốc Sỹ ngưng lại với tuổi trẻ và tâm linh Thiền!

 Sau biến cố chính-trị tháng 4-1975, kẻ "chiến thắng" đã tung nhiều chiến dịch nhằm bôi xóa văn-hóa tự do và nhân bản của miền Nam cũng như cùm nhốt lý trí và thân xác con người làm văn-hóa và nghệ-thuật. Doãn Quốc Sỹ bị 12 năm tù và bủa vây, rình rập, nhưng ông đã gửi ra ngoài nước xuất-bản tập tiểu-thuyết Đi!  do nhà Lá Bói khởi dựng lại ở Paris in năm 1982 và ký Hồ Khanh như một thách đố và bằng chứng cho việc độc tài tư tưởng và chính-trị cũng không kiềm chế được tâm trí con người nhất là con người nghệ thuật.

Sự nghiệp văn-chương của Doãn Quốc Sỹ kéo dài hơn nửa thế-kỷ, ở đây chúng tôi ghi lại những khuynh-hướng và đặc điểm chính. Tạp chí Sáng Tạo là diễn đàn xuất hiện phần lớn các tác-phẩm  quan-trọng của ông ở vào giai đoạn đầu, như Dòng Sông Định Mệnh, Vỡ Bờ, và một số kịch và truyện ngắn khác cũng như những nghị luận về giáo dục và sư phạm. Ông cũng đã có mặt trên hầu hết tạp chí văn-học nghệ-thuật chính của nền văn-học miền Nam tự do 1954-1975.

Chiến-tranh và lý tưởng 
Cùng trường hợp với một số nhà văn từng tham gia kháng chiến chống Pháp hoặc từng dứt khoát lập trường quốc-gia từ trước hoặc qua việc ly khai về "thành", bất hợp tác, chống đối và di cư vào miền Nam, Doãn Quốc Sỹ, đã đóng góp cho văn-học miền Nam với những kinh nghiệm kháng chiến và thất

 vọng về cộng sản. Họ viết lên những nhiệt huyết, trình bày những đối kháng, nghi ngờ về tính cách dân tộc và chính sách chiến tranh cách mạng khả nghi của chủ nghĩa cộng sản, viết với kinh nghiệm kháng chiến, di cư và nhắm nói với thế hệ trẻ hơn. Doãn Quốc Sỹ viết nhiều về chiến tranh trong Dòng Sông Định Mệnh, Khu Rừng Lau, v.v. Khởi từ kinh-nghiệm bản thân, toàn bộ tác-phẩm của ông có thể xem như là một hành trình vươn lên, xuyên Bắc Nam, xuyên nhiều thế hệ, cổ võ Chân Thiện Mỹ, chống lại cái ác!

Trước hết, với bộ Khu Rừng Lau, được tác-giả gọi là "trường thiên tiểu-thuyết", Doãn Quốc Sỹ thiết tha viết về "thế-giới của chúng ta, nóng hổi thực tại đất nước". Tập một, Ba Sinh Hương Lửa (1962), trãi dài qua ba thời kỳ đều đen tối của đất nước, thời Pháp thuộc, Nhật thuộc rồi Cộng-sản. Ngay từ đầu, tác-giả đã giới thiệu các nhân-vật: Khiết Khóa, Lãng sinh vào thập niên 1910, thuộc thế hệ Nguyễn Thái Học; Kha, Hãng, Hiển, Miên, Tân thuộc thế hệ "trưởng thành trong cuộc khói lửa toàn dân kháng Pháp 1946-1954". Biến cố mùa Thu 1945 đưa họ nhập cuộc, những con người yêu nước cương trực, không cộng sản, theo kháng chiến chống Pháp. Chiến thắng Bông Lau (đèo Lũng Vài) 1947 gây hứng khởi kháng chiến. Nhưng họ đã phải thất vọng về con người và chủ nghĩa cộng sản tàn bạo, xảo quyệt. Ba người trốn về thành, rồi cả xã-hội "ba sinh hương lửa" cũng sẽ phải ra đi về "thành", nơi chưa hẳn là tốt, nhưng không còn lựa chọn nào khác! Rời bỏ bạo lực, hầm chông, thủ đoạn và mù quáng, đường đời từ nay ít ra đã có những ba bóng người (Hiển, Miên, Kha) dù cánh đồng có phải biến thành khu rừng lau dù khô xác!

Trong tập đầu này, tác-giả đã nói nhiều đến những "bưng bít tuyệt kỹ" và "tuyên truyền xảo trá" của cộng-sản cũng như những "sơ hở ấu trĩ" của người quốc-gia yêu nước. "Nhân danh dân-tộc trong một cuộc chiến vì chính nghĩa thì từng giải đất, từng ngọn cỏ, từng thớ cây như có sự giao tình thắm thiết với người chiến đấu và trăm ngàn vạn mớ lệch lạc đem tình dân-tộc ra kê cũng thành vừa. Nhảy sang mảnh đất khô cằn của giai cấp đấu tranh, lũ người lãnh đạo kia như lũ chó thả mồi bắt bóng. Rồi trong thế chơi-vơi vỡ-lỡ, một mặt chúng bám lấy những ưu

thế dĩ vãng, một mặt chúng dùng đủ thủ đoạn mà củng cố lập trường. Thực thể dân-tộc là sự hiện diện mênh mông của lịch-sử của thời gian, của không-gian, cố tình bưng tai bịt mắt phủ nhận thực thể dân-tộc, kìa, hãy trông chúng bơi trong ảo tưởng như bơi trong khoảng bọt ngầu trắng bập-bềnh vì phản bội" (tr. 281).

Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến (tập 2, 1964) mở ra với "hình ảnh lá cờ vàng ba gạch đỏ phe-phẩy thanh bình vẫy gió còn mãi mãi về sau này in hẳn trong tâm tưởng Miên một ấn tượng của thịnh vượng và của tình người"(tr. 9). Về "thành" cũng là miền quốc-gia, thành trì cuối của những con người tự do không chấp nhận chủ nghĩa cộng-sản, bộ ba tái ngộ những người bạn như Luận nay đi sĩ quan quân đội quốc-gia, làm báo Quân đội. Những mối tình nẩy nở, đến đích hoặc tàn lụi, những cái chết vì chiến-tranh vì thù hận và vì tình-yêu, những mảnh đời "tiểu tư sản" thành thị, v.v. tiếp nối nhau.

Tình Yêu Thánh Hóa (tập 3, 1965) gồm hai phần Vỡ Bờ và Quỳnh Hương. Các nhân-vật Khiết, Kha, Miên, Lãng, Khóa, Luận, ... di cư vào miền Nam tự do, để bảo vệ nhân phẩm và truyền thống văn-hóa dân-tộc. Truyện được mở đầu như sau: "Năm 1954 với những đợt di cư đầu tiên, khuôn mặt dân-tộc Việt đẹp một cách kỳ diệu...", vì "toàn dân Việt Nam đã trực tiếp hoặc gián tiếp đánh bại giặc Pháp trước và sau Điện Biên Phủ". Truyện đặt trong bối cảnh lịch-sử miền Nam với chính quyền Ngô Đình Diệm được tác-giả so sánh như "một cô gái nghèo hiếu hạnh vừa đến tuổi dậy thì với một nhan sắc vừa khích động tình-yêu vừa khính động lòng thương và lòng ái quốc dâng lên như nén hương long thơm ngát...". Miên-Kha tái ngộ và thành đôi ("ân ái quả là một lễ hiến dâng để vừa cầu khẩn vừa đồng hóa Hạnh Phúc vào với Nhân Loại", tr. 39), Tân-Lê cặp tình nhân nhiều sóng gió, thử thách, cuối cùng cũng "phá vỡ bờ để lý tưởng thuần túy cho đam mê tràn bờ vào thành một thế quân bình" (tr. 186). Khóa, Luận, Kha buôn xi-măng với người Nhật, Lãng dựng sân khấu kịch thời sự về cuộc chiến chống Pháp vừa qua, kết thúc với thơ Tố Hữu khóc Sít-ta-lin! Nhóm ra báo Văn-Hóa, các thành viên có cơ hội thi thố tài văn-nghệ, ... và những tranh luận, đối chấp về làm mới, làm trẻ văn-nghệ, v.v. ... Khiết làm đại diện cho chính phủ dự hội nghị trung lập New Delhi.

Quỳnh Hương cuộc đời sóng gió vào Nam đi hát phòng trà, nàng gặp lại Kha và Hãng từ Pháp về, nhưng thánh hóa ... tình với Kha người đã có vợ, Hãng cuối cùng cũng lấy Thu, Quỳnh Hương đi sang Đức đóng phim và lập gia-đình với Karl, đạo diễn. Tình-yêu như vậy đã được các nhân-vật thánh hóa bên cạnh các hoạt động chính-trị, văn-hóa và phòng trà về đêm của họ! Riêng Khu Rừng Lau thì như được cụ thể hóa qua việc khởi dựng từ mầm cây lau bên cạnh những mầm cây ăn quả mà các thành viên của nhóm đem đến trồng mừng nhà mới của Tân-Lê ở Vĩnh Hội.

Đến tập 4, Những Ngã Sông Trên Giòng Đời (hay Đàm Thoại Độc Thoại, 1966) diễn ra ở miền Nam, những kinh nghiệm chính trị đeo đuổi các nhân-vật chính, Khóa, Kha, Luận, v.v., khiến họ thành những con người phản kháng, những người "cách mạng", lúc nào cũng đi tìm, lập thuyết, đến cả bất mãn chế độ đệ nhất cộng hòa, thấy "miền quốc gia (...) thủ đô đầu não đã thành bãi rác mênh mông có lẫn đủ loại bài tiết của lũ người nô dịch đến xương tủy cho nếp sống đơn thuần vật chất (tr. 194). Nhóm có tên "gia-đình Văn-Hóa" đó, theo Những Ngã Sông Trên Giòng Đời, sinh kế nhiều ngành, nhưng tình hình chính-trị biến xoay, người thì thành y sĩ trong quân đội nhảy dù (Tân), người bị nha Công An thẩm vấn, bỏ khám (Kha, Khóa) và nhốt gần năm nhưng trong rủi có cơ may gặp được "mối tình thiên thu" (Khóa), lão thành như Khiết luôn tìm minh chủ thì dính vào những vụ đảo chánh hụt rồi thả bom hụt, Phiệt, nhân-vật lớp lớn khác, thì tích cực xông pha trận mạc đến bị thương, v.v. Họ, như Khiết, nhận ra làm văn-hóa mà rơi vào chính-trị thì "chính-trị bây giờ như anh chồng trẻ lấy cô gái già hơn mình nhưng có sức mê hoặc, cô ta nắm vững nghệ-thuật chiều chồng lại biết hờn giỗi đúng mức nữa, khiến mình đành chịu bó tay trong cái vẻ đắm say của mê hồn trận đó". Chính cái "ung nhọt" "xù uế" đó của người quốc gia đã xô đẩy những người trẻ sang phía đối phương mà Hiển, một nhân vật chính ở tiền tuyến của chiến-trận, đã biết rõ. Và dù chỉ trích nặng nề chính quyền đệ nhất cộng hòa, Khiết đành thú nhận sự thất bại của đường lối của nhóm, "bao giờ thì văn-hóa chẳng là ngọn triều có thể đi xa và thấm sâu hơn cả trong quảng đại quần chúng để làm chất men ủ mầm cho mọi trào lưu tiến hóa, đó là lãnh vực của chúng ta. Rồi đây chẳng có

ai thắng, ai bại đâu, hay nói cho đúng cả hai cùng bại để lịch-sử Việt Nam thoát kiếp sâu sang kiếp bướm" (tr. 166-7). Tập 4 được sáng-tác trong không khí chính-trị nóng hổi của thời hậu đảo chánh, nếu có chiến thắng thì đã là của một thế lực, vì dân-tộc vẫn thua, lịch-sử vẫn nát! Thời sự (của thời khắc) dễ làm mất giá trị (lâu dài) của "tiểu-thuyết"!

Bộ Khu Rừng Lau vừa là một bản phân trần những bế tắc của một lớp người trẻ yêu nước vừa là một bản phân tích các chế độ chính trị độc tài. Những con người tốt phải sống giữa đám người tàn độc! Nhân-vật lý tưởng nhưng hay nặng tình và thích thơ văn, làm báo. Về văn-chương, đây đó có những chương đoạn khá thành công về đất nước quê hương, về thời thơ ấu của các nhân-vật ở những giai đoạn lịch-sử, về tâm lý các nhân-vật, về nghệ-thuật, văn-hóa, v.v. Những trích dẫn thơ văn và bài hát một thời và cả cung cách đối xử, ngôn-ngữ sử-dụng (cán bộ, kháng chiến, người Hà-nội, Sài-Gòn, trí thức, cách mạng, pha tiếng Pháp rồi Anh, Đức, v.v.) đã chứng tỏ là thiết yếu cho bộ tiểu-thuyết trãi dài theo thời gian và đa dạng địa lý cũng như giai cấp xã-hội.  

Trong truyện dài Dòng Sông Định Mệnh (1959), những biến cố đau thương của đất nước đi song hành với mối tình của Thiệu với Yến, từ thời tắm chung ở sông Đuống, Bắc Ninh, đến khi gặp lại Yến chủ tiệm thuốc tây giàu có, đã hai con nhưng chồng chết; rồi chàng sang Pháp du học, phải lòng Suzanne, một thiếu nữ Pháp có mái tóc giống Yến ("Suzanne đã lẫn vào Yến, Thiệu chỉ biết yêu chân thành và trong thâm tâm Thiệu vẫn yên chí rằng chàng yêu có một người"(tr. 137), rồi trở về Sài-Gòn dạy học thì Yến cũng dở dang phái tái giá và theo chồng ra Huế. "Điều đáng buồn cho Thiệu là ở Pháp, Yến lẫn với Suzanne, nhưng khi Thiệu về tới Saigon, Yến bỗng tách khỏi Suzanne để trở thành hình ảnh độc lập"(tr. 142). Tình định mệnh dang dở vì cái mặc cảm sợ hãi, băn khoăn của một chàng trai đứng trước cô gái mà mình cảm thấy cách biệt với mình vì giáo dục gia-đình, định mệnh trở thành cái cớ để tự bào chữa cho những ngần ngại và nhút nhát của chính mình. Cuối truyện, Thiệu nằm cạnh Suzanne mà mơ thấy Yến ở phố xá Sài-Gòn, anh tự nhủ "Chả việc gì mà phải xao xuyến! Dòng sông định mệnh đến đây sắp

đổ ra biển rồi, sông đã mở rộng đôi cánh tay nhỏ bé để ôm lấy Mẹ là biển cả, có còn khúc quanh nào đâu?". Nói vậy nhưng vẫn đau khổ mộng mơ "Kiếp sau em làm vợ anh, tình chúng ta chân thành, nhất định kiếp sau em là vợ anh!" (tr. 145, 146).

Tình-yêu là chính, nhưng không khí kháng chiến cũng chiếm nhiều trang. Thật vậy, con người nghệ sĩ Thiệu đã ra Khu lúc cuối cuộc chiến-tranh Việt-Pháp, nơi chàng đã quan sát được những ngu dốt (thế-giới người mù) và hèn nhát của cán bộ, như ở chiến trường Bình Trị Thiên "Đâu đâu cũng chỉ thấy những người dân tự động làm nuôi nhau, tự động chống giặc. Hầu hết cán bộ đảng chính cống hình như đã chuồn ra Thanh Nghệ Tĩnh từ lâu rồi".

Truyện dài Sầu Mây (1970) được viết sau khi tác-giả tu nghiệp ở Hoa Kỳ về. Tất cả sinh hoạt và quan sát của nhân-vật Huy như nối dài cuộc kiếm tìm làm người Việt Nam. Những mâu thuẫn và đấu tranh giành quyền lực giữa hai nhóm trí thức thân Pháp và thân Mỹ, những tái ngộ bên cạnh những mối tình của giới trí thức và cao vọng. Và cả kiếm tìm quyền lực chính-trị, như khi hai nhân-vật viết cho nhau: "vụ Mậu Thân thoạt là đại bất hạnh cho mình mà rồi thành ra đại bất hạnh cho chính cộng-sản. Phải chăng đó là cái l'imondérable de l'histoire - điều mà anh viết cho tôi trong bức thư trước. Những giáo điều nhai nhải của chúng thật hết sinh khí rồi. Lũ lãnh đạo ngoài đó hoàn toàn đã là lũ ký sinh trùng, cố bảo vệ lấy đặc quyền giai cấp mới của chúng, chẳng hơn mẹ gì những tên thối nát bên mình. Cũng nên nói thêm từ sau Mậu Thân, bên mình trên bề mặt đã thấy có những tiến bộ nho nhỏ, đành rằng nhiều kẻ ngồi trên còn bẩn thỉu lắm. Điều đáng buồn là kể cả những người giàu thiện chí nhất bên mình cũng không thấy vị nào có được một sách lược nhịp nhàng, thuần chỉ là giai đoạn, mà giai đoạn cho hôm nay thì mai đã hóa thành trơ trẽn bẽ bàng vì bị đặt sau lưng tình thế ..."(tr. 226-7). Tình-yêu như dòng sông, vẫn tiếp tục đuổi chạy theo nhân-vật của Doãn Quốc Sỹ, ở đây là Huy với Crys, một cô gái Mỹ: "Với sự đam mê kỳ lạ và ngay thẳng của hai người Huy cả quyết nghĩ rằng quãng sông đẹp nhất của đời Crys chính là quãng sông gặp gỡ mảnh đất tâm hồn của chàng. Sự gặp gỡ đồng điệu của hai tâm hồn làm cho dòng sông chảy tuy mải miết mà

vẫn ra chiều hiền hòa..." (tr. 233). Khi máy bay đưa Huy hồi hương, "mây khói sầu giăng man mác" cũng có thể xem như là "sâu mây lên cao thành niềm vui chiến thắng ... nếu chúng ta bieêt nhìn trước thấy dòng luân lưu của sự vật" (tr. 255)!

Trong số các truyện ngắn đã xuất-bản thành tập (U Hoài 1957, Gánh Xiếc 1958, Gìn Vàng Giữ Ngọc 1960, Cánh Tay Nối Dài 1966, ...), một số truyện được xem là tuyệt tác của Doãn Quốc Sỹ, như Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Khu Vườn Bên Cửa Sổ, Hương Nhân Loại, ..., tuyệt vì như khi tác-giả sống lại quá-khứ và thời hoa mộng thì văn-chương lên cao! Thật vậy, các truyện này đã như những đoạn hồi ký của một người tâm hồn vừa thi nhân vừa giàu tưởng tượng, mà các nhân-vật và tình-yêu trong thế-giới Doãn Quốc Sỹ thường có khuynh-hướng lý tưởng, lãng mạn (như Linh trong Khu Vườn Bên Cửa Sổ, và nhiều nhân-vật trong Dòng Sông Định Mệnh và bộ Khu Rừng Lau).

Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều tả cảnh đời sống một thời chiến-tranh. "... Mùa đông năm đó rét lạ lùng. Gió hun hút giật từng cơn buốt như dao cắt từng mảnh thịt hở, ... ". Nhờ chiếc chiếu vớt ở lạch mà tối đến thằng em út có chiếu đắp ấm, nhưng rồi "sang hạ tuần tháng chạp, suốt ngày mưa phùn gió bấc lạnh như cắt ruột. Không hiểu là vì rét nhiều hơn hay là vì chúng tôi đã bắt đầu giảm khẩu phần! Chiếc chiếu mẹ tôi vớt ở lạch đắp cho thằng em út đã rách sơ sác (sic)". Tình cờ người mẹ ra phía bụi tre đầu nhà thấy cong queo dưới hầm trú ẩn một chiếc chiếu hoa cạp điều". Cái khốn khổ vật chất đưa đến cái nhục, khi ông Lý Cựu, chủ chiếc chiếu, đòi lại. "Tôi hiểu khi đó hầu hết các gia đình khác cũng như chúng tôi, chịu đựng bao nhục nhằn với những phút sa ngã nhỏ như chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều. Tất cả những hy sinh đó - kể cả hy sinh một chút danh dự cho sự yếu đuối thường tình của con người - tuy dằn vặt, ray rứt mà không tàn phá nổi niềm vui trong sáng, thanh thản của tâm hồn, vì ai nấy vẫn sống ngợp hy vọng một ngày mai vinh quang. (...). Cộng sản dìm nhân loại trong thiếu thốn để chứng minh nguyên lý "Vật chất quyết định hết thảy". Chúng lầm! Con người càng từng trải cảnh thiếu thốn vật chất, niềm tin và đạo đức càng được hun đúc và tình cảm thêm dạt dào. Sau này khi về vùng quốc gia, rồi di cư vào Nam tôi còn trải qua nhiều gian lao nghèo túng và

nhiều lần bị khinh rẻ, nhưng dù nghèo túng đến đâu, dù bị khinh rẻ đến đâu, điều đau nhục nhất với tôi vẫn là chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều, tuy thực tình câu chuyện chỉ giản dị có vậy".

"Cách đây ít lâu khi mua được đôi chiếu hoa Phát Diệm ở đường 20 về giải lên phản cho con nằm, tôi thấy vợ tôi chợt úp mặt vào hai bàn tay trước bàn gương. Có lẽ nàng nghĩ đến câu chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều khi xưa. Chuyện đó như biến thành chiếc phao xẫm màu, bất chấp mọi giông tố vẫn nổi lềnh bềnh trên biển, biển thời gian của đời, biển kỷ niệm của hồn. Cũng kể từ sau ngày xảy chuyện đó, thái độ tôi đối với người đời khác xưa nhiều. Tôi thận trọng tránh mọi thái đô. hẹp hòi, kiêu ngạo, ích kỷ, sắc cạnh. Lòng dễ xúc động, tôi thương người như thương chính thân mình vậy. Tôi thương những em nhỏ sớm phải lăn lưng vào cuộc đời để tự nuôi sống, tôi thương những người đói khát ham ăn ham uống, tôi thương những hình ảnh lam lũ một sương hai nắng, những hình ảnh nghèo túng giật gấu vá vai, tôi thương những kẻ thù dân tộc hôm qua, ngày nay thất thế ngơ ngác đi giữa kinh thành" (tb 1967, tr. 152-3).

Doãn Quốc Sỹ còn là tác giả tuyển tập 4 vở kịch Trái Cây Đau Khổ. Vở kịch mang tựa tuyển tập chung vẽ lại những tàn ác của những người theo cộng sản như cai ngục và lãnh tụ đảng. Nhân-vật Cai Ngục kêu xin Ngọc Hoàng:

"-  Muôn tâu Thượng-Đế, khi còn ở trần gian con là tên cai ngục trung thành của Đảng. Con đã được Đảng huấn luyện từ thời măng sữa để suốt đời thành một giống chó ngao hung dữ khát máu đồng loại. Ngày nào không được tra khảo, ngày ấy con ăn không biết ngon. Máu và nước mắt đồng loại đã làm gia vị không riêng gì cho bữa ăn mà còn cho cả đời con (cúi mặt khóc nức nở). Chúng đã bóp ngẹt tấm linh hồn trong trắng mà Thượng Đế đã ban cho con để thay vào một linh hồn giả tạo ...

Ngọc Hoàng - (gật đầu) Quả vậy, ngươi đã không hề được sống với người.

Cai Ngục - Cho đến ngày con chết! Thần Chết đã là cứu tinh của con! Thần Chết đã giải thoát con ra khỏi vòng mê hoặc

của chúng (ngước nhìn Ngọc Hoàng). Con đã mắc những tội tầy đình nhường ấy mà sao ngài vẫn nhìn con bằng con mắt thản nhiên?

Ngọc Hoàng - (cười hiền từ) Làm sao mà ta không thản nhiên. Trước khi ngươi tái sinh, ta chẳng đã ban cho ngươi trái cây đau khổ? Và giờ đây lòng ngươi bứt rứt như vậy, há không đủ rồi sao?

(... )

Cai Ngục - Con thấy phần tinh anh bất diệt của Thượng Đế ban cho càng trở nên tinh tế, linh động và mãnh liệt. Đâu đâu con cũng thông cảm được nguồn sống rộng rãi hiền hòa của Thượng Đế. Bất kỳ cái gì của Ngài cũng làm con đe mê. Con sung sướng khi thấy gió rung lên thì cành cây phe phẩy; trông lá xanh hoa nở mà cảm thấy mạch đất mênh mông dâng màu vô tận. Trời ơi! Trời đất ở đâu cũng chan chứa một niềm rung cảm đại đồng. Con đã rời bỏ bầu sữa mênh mông của Mẹ để ngậm vú sửa tanh mùi máu, hôi thối mùi thịt xương của yêu tinh... Khi bú sữa Mẹ, con nuôi tình yêu thương, khi bú sữa yêu tinh, con nuôi chí căm hờn. Ngày nào con được trở về lòng Mẹ, dù là trở về để vào địa ngục, con sung sướng biết bao!"

Triết lý nhân sinh "trở về", trở về làm người, để tự cứu và cứu cả nhân loại.

Tiếng Hú Tâm Linh là vở kịch với ưu tư "giữ được sen tâm hồn ngát hương". Và ở đây, kịch như thơ, lời cũng như tên nhân-vật (hai thi sĩ Hoàng Hoa, Trực Ngôn, điêu khắc gia Miên Trường, ...) :

"Tiếng tiêu não nề, rũ rượi như biến thành tiếng thở dài muôn thuở. Tiếng tiêu nhập vào tâm tình của mây lang thang, của gió phiêu bạt, niềm tâm sự như vừa phóng mình đi vừa bắt lại mình trong ngàn sương mung mung mạc mạc. Sự rượt bắt vô hình để làm gợn vàng dòng sông, làm thảng thốt loài chim đêm, hơi mát bỗng đọng lại thành những hạt sương long lanh, duy có dãy núi xa là giữ nguyên vẻ trầm tư" (tr. 128-9).

Những nhân-vật kịch lý tưởng lớn, tâm hồn lớn, hoặc muốn làm chuyện lớn, chuyển đổi xã-hội và cả nhân sinh. Tuy vậy, có thể nói Doãn Quốc Sỹ không thành công lắm với thể kịch vì thường là những đối thoại dài, để đọc và thưởng thức kiểu thẩm thấu; lại được pha thần thoại, siêu hình và luân lý, khó đưa lên sân khấu hoặc nếu đưa được thì cũng khó mà giữ chân được người xem. Như Thanh Tâm Tuyền trong lời Từ, đã nhận xét về kịch Doãn Quốc Sỹ: "Bản chất không chấp nhận sự tàn nhẫn, anh viết kịch với những nhân-vật hạnh phúc của anh. Và kịch trở thành thơ, một cuộc đối thoại tiền miên, không dứt, ngụp lặn trong thế-giới của Thực và Mộng, quái gở và hồn hậu. Những cái Thực được coi là Mộng, và Mộng hóa thành Thực. Kịch rốt cuộc chỉ là cổ tích và thần thoại".

Dấu Chân Cát Xóa (1995) viết 1974 chưa kịp xuất-bản thì xảy ra biến cố 30-4-1975, nhà Văn-nghệ Cali in năm 1995. Một tiểu-thuyết ngắn về những hành hương trí thức "dấu chân cát xóa" của hai thanh niên trên đất Mỹ, về tình-yêu lãng mạn, lý tưởng hào hùng và Chân Thiện Mỹ trong một không gian của tâm linh và đạo người á đông, Việt Nam. Đất nước Hoa-Kỳ mênh mang thiên địa nhân đem lại một chiều kích mới cho cuộc kiếm tìm mà tác-giả đã khởi từ thập niên 1950.

Thuộc vào sáng-tác trước biến cố 30-4-1975 xuất-bản trễ còn có tập Cò Đùm (1996) tiếp tục cuộc kiếm tìm con người Việt Nam, tập gồm những chiêm nghiệm về chiến tranh vừa qua, về những biến cố lịch sử khác. Nông nhân luôn là nạn nhân trong cuộc chiến giai cấp và khi mà kẻ trí thức có vấn-đề, chỉ là thứ trí thức "ma trơi, cò mồi", một thứ "vong bản" vì đã đánh mất gốc thuần phác nông dân của người nhà quê. Nhân-vật Cò Đùm "tượng trưng cho tâm hồn điển hình nhất của quảng đại quần chúng Việt Nam vùng thôn dã. Một tâm hồn bén nhạy, tuyệt luân khôn ngoan, ... đôn hậu, ... để tự bảo tồn và cũng có nghĩa là bảo tồn dòng giống quê-hương (...) Kể từ ngày quốc-gia thành nền tang tự đời Lý đến nay, chúng ta cứ diệt xong ngoại xâm thì anh em lại cấu xé nhau - đó cũng là một nét xấu dân-tộc tính - sở dĩ chúng ta còn giữ được nước chính là nhờ phần trực giác mẫn nhuệ kia ..." (tr. 52, 54).

Trong Đi! gửi xuất-bản ở hải-ngoại (Lá Bối, Paris 1982) và ký Hồ Khanh, nhân-vật ông giáo bị đây xuống vực sâu đày đọa của người đối với người, của nhồi sọ, có lúc tưởng đã mất hết tin tưởng, cũng đã tìm lại yêu thương và tình người từ những đứa bé miền núi hẻo lánh. Năm 1997, Doãn Quốc Sỹ cho tái bản, chứng tích của một giai đoạn bi đát của đất nước và con người. Sau ngày "giải phóng" 30-4-1975, kẻ "chiến thắng" đã được dịp nhận chân sự thực về xã-hội miền Nam; nhưng đã trễ, bánh xe lịch-sử  đã chuyển vần. Sống trong một chế độ chuyên chính thì nhận chân phải tự phủ nhận, thất vọng phải ngậm câm, chỉ có người miền Nam - kẻ "thua" nhưng quen sống tự do dân-chủ, mới dám nói thay kẻ "thắng": "Tao nói thực với mày, nhìn vào đời sống thực tế rõ rang ngày một xuống dốc rất nhanh, nghe những lời hoa mỹ nơi đài phát thanh, đọc những lời hoa mỹ trên khắp các mặt báo, tao có cảm tưởng chứng kiến cảnh một thằng chủ bất lực vì củ đinh thiên pháo đương hãm hiếp một cô gái thất thế bằng cái lõi ngô hay củ khoa gì đó, trong khi đám đàn em của nó ôm đàn cất cao giọng đồng thanh ca ngợi chủ soái chúng đương ân ái với Hằng Nga và sẽ hạ sinh những hoàng tử kiêu hùng, những công chúa chim sa cá lặng. Đ. M. đúng là thủ dâm bằng mồm" (tr. 165).

Người Vái Tứ Phương (1995) viết năm 1982 khi còn ở trong nước và sau khi bị kẻ thắng tàn độc đọa đày. Nhưng tác-giả, một nạn nhân, vẫn đôn hậu không hận thù khi nhìn cuộc đời, xã-hội và đời sống trong các trại gọi là "cải tạo" và ở miền Nam sau 1975. Dăm nghi vấn cực chẳng đã như trong lớp "cải tạo" đã phải hỏi một đất nước đã "thống nhất, khẩu hiệu 'không gì quí hơn độc lập tự do' được nêu cao khắp nơi, mà lại cả triệu người đủ nam phụ lão ấu đua nhau bỏ nước ra đi, bất chấp tù đày, bảo biển, cướp biển giết chóc, hãm hiếp?" - kể cả cán bộ cộng-sản! ". Viên trung tá công an, hồi tâm, nhờ nhân-vật giáo sư Hoàn, đã ra bùng binh ngã sáu Sài-Gòn giờ giới nghiêm để lập vái tứ phương để mong gặp lành tránh dữ và trừng phạt, "khi vái tứ phương cử chỉ phải thực chững chạc, thân hình thẳng vút như cây tùng chứng tỏ lòng thành khẩn của mình bộc trực với trời đất. Tiểu vũ trụ là mình với đại vũ trụ đồng nhất thể, mình nguyện với trời đất là mình nguyện với chính mình đó thôi!"(tr. 64). Không những

một, mà nhiều anh "nườm nượp" đến tìm giáo sư để được "gặp lành tránh ác". Ông giáo sư chỉ làm công việc "đánh thức nhân tính". Sau cùng, tập Mình Lại Soi Mình (1995) tiếp nối chuyện va chạm sống chung sau 1975 và cuộc vượt thoát của nhân vật Phượng.

*
Khởi nghiệp văn với khuynh-hướng truyện kể (truyện cổ tích, thần thoại), tác-giả đi qua thể-loại tiểu-thuyết trước khi trở về một cách nào đó với hợp thể qua hình-thức đoản văn hoặc truyện chỉ còn là cái vỏ chuyên chở ý tưởng, tâm tình của tác-giả! Những truyện cổ tích, thần thoại, Thiền thoại, tâm linh của Doãn Quốc Sỹ đã góp phần đưa vào yếu tố kỳ-áo cho thế-giới tiểu-thuyết Việt Nam, nhưng không là những hiện thực huyền-ảo như trong các sáng tác vào cuối thế-kỷ XX và đầu thế-kỷ XXI như với Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, v.v. ở trong nước. Thể đoản văn và tùy bút được ông một thời chiếu cố, với Vào Thiền (1970) gồm những giai thoại tùy bút và Trái Đắng Trường Sinh (1971) gồm những đoản văn. Thiền được ông xem như sống, không thể dùng lý luận mà hiểu hoặc đến với Thiền. Có "không tâm" thì cũng có "diệu hữu" và có "tri" thì phải có "hành"!

Doãn Quốc Sỹ khởi đầu sự nghiệp với nhưng tập truyện cổ tích như Sợ Lửa, Hồ Thùy Dương, những truyện tưởng đọc để giải trí nhưng thực ra là gây suy nghĩ. Ông còn nhà giáo dục và đã hơn một lần khai phá những lãnh vực nghiên cứu văn-học và ngôn-ngữ. Ông là tác-giả của tiểu luận văn-hóa Người Việt Đáng Yêu (1965), biên khảo về ngôn-ngữ (Lược Khảo về Ngữ Pháp Việt Nam, 1970 , viết chung với Đoàn Viết Bửu), và văn-học (Văn-Học Và Tiểu Thuyết, 1972), cũng như chủ biên nhiều tuyển tập văn-chương nhắm giới trẻ như Tuyển Tập Văn-Chương Nhi Đồng (1969-1972), Ca Dao Nhi Đồng (1969), Thần Thoại (1972), Ngụ Ngôn (1969),...

Người Việt Đáng Yêu tập trung những suy nghĩ và kinh-nghiệm của ông về người Việt, từ lũy tre xanh, ngôi làng, ra đến chốn thị thành. Thi ca đã là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn người Việt, tạo mỹ cảm nơi con người Việt. Tuy chưa là một tổng hợp

đa dạng, nhưng tập Người Việt Đáng Yêu của ông đã ghi nhận một số những đặc điểm và cá tính thực hữu của người Việt. Trong khi đó tập Người Việt Kỳ Diệu đã được văn-nghệ "nằm vùng" Vũ Hạnh ký A. Pazzi xuất-bản cùng năm 1965 đã lừa được một thế hệ với những cường điệu về người Việt, cho phù hợp tuyên truyền về một chủ nghĩa "dân-tộc" và "người Việt Nam thực đẹp!". Khiêm tốn và thực tế hơn Vũ Hạnh, Doãn Quốc Sỹ đã kết luận: "Hãy dùng đau khổ làm đầu mà thắp lên ngọn lửa tin yêu, bởi quả thật dân-tộc mình vì đã kinh qua quá nhiều đau khổ mà có thừa chất "Người" để trở thành một trong những dân-tộc đáng yêu nhất của nhân loại".

*
Thuộc nhóm "văn-nghệ hôm nay" Sáng Tạo, nhưng thành viên Doãn Quốc Sỹ không đặt nặng làm văn-chương hình-thức như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Trần Dạ Từ, Dương Nghiễm Mậu, v.v. hay đem vào nội-dung, tư tưởng mới như Thạch Chương, Thanh Tâm Tuyền, Thảo Trường, v.v. Họ Doãn đã chứng tỏ chuộng văn-hóa truyền thống nếp cũ, dân-tộc. Tuy vậy, một số tác-phẩm của ông đã cho thấy bút pháp, văn phong của riêng Doãn Quốc Sỹ. Ông kết thúc tập Khu Rừng Lau 2 như sau: "...Tiếng hát giọng đò đưa buồn buồn, chơi-vơi, xa vắng. Lời không rõ nhưng cảm giác thì như vậy. Tựa như tự thuở nào đến giờ cứ vào giờ thanh vắng đó là tiếng hát nổi lên, tiếng hát như thoát lên tự lòng đất, kể lể nỗi niềm để vừa xoa dịu vừa làm cho thấm thía thêm những sầu hận của những kẻ chợt thức giấc đón nghe nó... Kha vẫn đứng nguyên chỗ cũ hoàn toàn bị giọng hát thôi miên, hay đúng hơn để cho tâm hồn tan vào tiếng hát, xóa nhòa ý niệm về thời gian và không-gian. Tuy nhiên chàng vẫn cảm thấy lạnh, cái lạnh của một tâm hồn cô đơn. Hình như chàng mỉm cười vì trong cái vô cùng cô đơn ấy chàng thấy rõ chiến tranh tàn phá gây biết bao cảnh đổi đời, nhưng có một cái mà không gì tàn phá nổi là tiếng sáo diều và nhất là tiếng hát kia, Tiếng Hát Tự Lòng Đất, tiếng hát sầu dằng-dặc, nhưng là tiếng hát bất tuyệt vỗ-về an ủi sự sống làm cho sự sống càng phì nhiêu và bất tuyệt như nó." (tr. 245-6).

Nhiều đoạn văn tả cảnh tả tình trong tập Dòng Sông Định Mệnh rất gợi cảm, nên thơ. Hay đoạn mở đầu truyện dài

Sầu Mây : "Trời mưa bụi thì phải. Huy đi trong một vùng hơi nước bao phủ mờ mờ. Quyền, người bạn đồng niên của chàng, tay dắt đùa con nhỏ đã đứng chờ chàng ở góc đường kia. (...) Huy đi ngay về chỗ để xe, đi quanh quẩn sang một đường hẻm lầy lội khác, mưa bụi nhường như mau hạt hơn. Một cô gái nhỏ khuôn mặt trắng muốt, cô mặc áo màu xanh dài lướt thướt, đi vội qua đường, ngoái cổ lại cười trong mưa bụi. Đó là điểm tươi sáng duy nhất của khung cảnh mưa bay buồn thảm hoang vắng lúc đó. Sau lùm cây kia hẳn là bờ sông hoang dã, cỏ dại và cát trắng. Người con gái đã mất dạng sau lùm cây xác xơ, không nói một tiếng: Huy khao khát được nghe tiếng nàng, chàng đoán thầm nếu nàng cất tiếng, lời nàng sẽ biến thành dòng nước tinh khiết mát rợi chảy qua người chàng. Hay thèm một cái gì bình dị như nụ cười hồn nhiên của bất cứ một ai. Nụ cười có thể thâm thúy, có thể hời hợt, chính sự bất thường đó làm cuộc đời phong phú như con thuyền nhỏ chìm nổi theo sóng gió đại dương. Huy thấy mình đã đi vào căn nhà mái cao, bố bề không có tường, ..." (tr. 5-6). Hãy tưởng tượng đó là tâm tư của một nhân-vật đang sống ở trên đất Hoa-Kỳ!

*
Doãn Quốc Sỹ đã hơn một lần nổ lực làm mới văn-chương, nghệ-thuật, nhưng không như một số đồng hành của ở tạp chí Sáng Tạo, mà ở lõi ý tưởng chuyên chở, ở ý hướng đóng góp, đưa đến cái mới, kể cả khi viết đoản văn, tùy bút, tạp bút hay tiểu-thuyết, truyện thần thoại. Doãn Quốc Sỹ thuần túy là một nhà văn- nhà giáo, hay có thể thâu tóm gọi ông là một nhà nho thời đại mới, thời mà đã là hiền giả thì không thể không trở nên lạc lõng. Nhưng ông đáng quí vì tính nhân hậu, mà bên trong còn là một con người tâm hồn phản kháng, cứng rắn và kiên trung khi cần phải đương đầu với bạo quyền, bền gan tiếp tục đề cao chân thiện mỹ và ngợi ca những nét đẹp tinh thần và thực tế của dân tộc, cũng như vạch ra cái gian cái ác của bầy yêu ma quái quỷ vẫn còn đang thống trị trên quê hương.

Cái ác của quá-khứ ai cũng mong không có chỗ đứng mai sau, nhưng cái ác vốn không tự hủy, không tàn lụi, nếu con người không ý thức và ra tay! Tác-phẩm của Doãn Quốc Sỹ đã ra tay! Viết như một người có lý tưởng và như một nhà giáo, đầy

lòng nhân hậu, kiên nhẫn, nhưng ông giáo cũng chờ đợi ở những cải đổi và ở chân thiện mỹ! F. Nietzche ở thế-kỷ XIX đã lớn tiếng khai tử Thượng đế, con người được tự hào đề cao, đến thế-kỷ XX thì một mặt chủ nghĩa cộng-sản tận diệt con người như một chủ thể tự do thì ở thế-giới gọi là không cộng-sản, người ta cứ thi đua phát triển kỹ thuật, văn minh có vẻ vô cùng tận, dù có phải hy sinh môi trường sống, thì rồi người ta cũng nhận ra con người đã chết! Nhà văn Doãn Quốc Sỹ ngược lại, lúc nào cũng đề cao con người và kinh-nghiệm văn-chương của Doãn Quốc Sỹ đồng thời và rốt cùng cũng là kinh-nghiệm làm người Việt Nam ở thế-kỷ XX

Nguyễn Vy Khanh
Montréal, 15-8-2006


NGƯỠNG MỘ DANH THẦY

Mến chào anh  Trần Việt Hải.
Trường hợp tôi không được sự may mắn được học với Thầy Doãn Quốc Sỹ ngày nào cả, nhưng danh Thầy qua văn chương thì tôi hằng đọc và vô cùng ngưỡng mộ. Ngày trước những năm 75 mà vẫn chưa được một lần vinh hạnh diện kiến. Nhưng dù sao bây giờ anh cho tôi xin có ít dòng Ngưỡng Mộ Danh Thầy gởi đến anh.


NGƯỠNG MỘ DANH THẦY

Đã lâu ngưỡng mộ danh thầy
Dù chưa có được một ngày bái sư
Nhưng lòng em vẫn luyến lưu
"Gìn Vàng Giữ Ngọc" nghìn thu rạng ngời
Dù cho vật đổi sao dời
Tình thầy non nước trọn đời sắt son...

 
Nhược Thu
Xuân 2007


CHIẾC CHIẾU HOA CẠP ĐIỀU và EM TÔI.


- Phong Vũ -

Có những hình ảnh trong cuộc đời không bao giờ phai nhạt nơi tâm khảm. Ta không ngồi cậm cụi nhớ đến, nhưng văng vẳng trong tiềm thức, tiếng vọng âm thầm ngày xưa vẫn đánh thức hồn ta, những khi có sự kiện gì chợt đến.

Tôi vẫn nhớ buổi chiều, mấy mươi năm về trước ngồi một mình trong vườn Ông Thượng, sau này có tên là công viên Tao Đàn. Trên tay là  tờ tạp chí Sáng Tạo và tâm hồn tôi đang xúc động. Tôi đã đọc một câu chuyện, mà hình ảnh của nó vẫn lung linh trong lòng mãi đến hôm nay..

Bây giờ đã hơn nửa thế kỷ, mà hình ảnh của những ngày chạy giặc Tây vẫn còn đậm nét trong tâm trí của người Việt Nam. Trường thiên chạy giặc của dân Việt phải viết thành hàng ngàn pho sách mới kể hết những tháng năm gian khổ của dân tộc ta thời ấy.

Chiến tranh bao trùm khắp nơi. Từ đồng bằng Nam bộ, nơi vùng Đồng Tháp Mười mênh mông mùa nước nổi dân chúng chống ghe xuôi ngược tản cư từ vườn ra bưng, đợi hết giặc lại chống xuồng quay về. Hay những đêm chui rúc muỗi mòng trong bạt ngàn rừng dừa, kinh lạch xứ Kiến Hòa. Hoặc lênh đênh trong ruộng đồng vùng Cao Lãnh, Sa Đéc, Vàm Cống …Rồi những đêm tối không trăng, lần theo sông Vàm Nao để qua dòng Hậu Giang bát ngát. Hay chèo ghe từ sáng đến chiều theo sông cù lao Ông Chưởng, xuyên ngã chợ Mới để qua ruộng vườn Long Xuyên.

Dòng Cửu Long bát ngát đôi bờ chia hai nhánh chảy vào từ hướng Châu Đốc. Sông Tiền Giang chảy xuống Vĩnh Long, ngăn

chia bởi cù lao An Thành, cù lao Minh, cù lao Bảo, cù lao An Hoá, rẽ thành bốn ngả chảy qua Bến Tre, Chợ Lách, Mỹ Tho, Mõ Cày, Ba Tri, Trà Vinh rồi đổ ra cửa Tiểu, cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cung Hầu...

Dòng kia là sông Hậu Giang dạt dào chảy thắm đất vườn vùng Cần Thơ, Trà Ôn, Long Phú, Sóc Trăng, Mỹ Phước, Vĩnh Châu, rồi xuôi ra cửa Định An, Bát Sắc, Tranh Đề. Có lúc dân tản cư lại theo nước chảy xuôi xuống Ngã Bảy Phụng Hiệp, Rạch Giá, Chương Thiện, Cà Mau. Từ đây dân tản cư khi cần lại chạy vào rừng tràm ngập nước U Minh, hay qua các vùng Cái Nước, Đầm Dơi, Năm Căn...

Khắp nơi láng giềng hàng xóm kể nhau nghe bao câu chuyện của những người kháng chiến với tầm vong vạt nhọn chống Tây. Những đau khổ, gian nan của người dân chạy giặc từ làng này sang làng khác. Từ con rạch kia đến ngọn kinh cùng nọ…Từng gia đình lênh đênh trên ghe thuyền, lên xuống theo con nước để trốn Tây càn.

Nỗi khổ của dân quê Nam bộ là nổi đau chung của dân chúng Bắc phần. Bao làng mạc, ấp xóm, bị máy bay Pháp thả bom cháy rụi từ bờ tre bụi cỏ. Đình miếu bị trưng dựng làm nơi đóng quân. Rồi tiêu thổ kháng chiến, với chiến thuật giặc đến đâu vườn không nhà trống đến đấy. Dân chúng sơ tán vào núi, lên rừng…Rồi nỗi thống khổ của trận đói năm 1945 với sự bạo tàn của Phát xít Nhật.

Những tình cảnh khổ đau thời đó của dân tộc Việt Nam mà nhà văn Doãn Quốc Sỹ là một nhân chứng đã ghi lại trong những tác phẩm của ông. Ông là người trong cuộc, bên những trang lịch sử đen tối của đất nước. Gia đình ông cũng là nạn nhân của ly loạn
…………….

"Ngày hôm sau có tin quân Pháp đánh lên Vĩnh yên. Những người có thóc giữ lại. Mẹ tôi phải vất vả lắm mới mua được bằng giá khá cao sáu nồi thóc để chúng tôi có việc làm.

Quân Pháp chiếm Vĩnh Yên. Tiền Hồ Chí Minh sụt giá vùn vụt.

Vẫn số tiền cũ giờ đây chưa chắc mẹ tôi đã mua nổi bốn nồi thóc.

Quân Pháp theo sông đào tiến lên chiếm chợ Mẹ Dân chúng xao xác chuẩn bị chạy. Số tiền trong tay mẹ tôi hầu trở thành giấy lộn. Chúng tôi ăn một bữa quà bánh đúc, lúc giả tiền thấy vợi hẳn túi. Viễn ảnh những ngày đầu xuân có gạo nếp, có thịt gà, thịt lợn bị giập vùi trong khói súng và biến thành một điểm mong manh chết đuối giữa cảnh tàn phá rùng rợn của bom đạn tơi bời cha lạc con vợ lạc chồng, anh em tán loạn mỗi người một phương."

(Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều)…

Một trong những truyện ngắn của ông mà cho đến bây giờ, sau mấy mươi năm, thỉnh thoảng tôi đọc lại vẫn còn thấy vô cùng xúc động.

Nhớ lần lần đầu  tiên đọc "Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều" đăng trên tạp chí Sáng Tạo phát hành vào những năm đầu của Đệ Nhất Cộng Hoà, tôi đã ngồi im lặng hết một buổi chiều trong công viên Tao Đàn, mặc những đôi mắt tò mò của khách nhàn du chung quanh. Tôi xúc động vì câu chuyện thật  trong đó, vì những cay đắng cuộc sống, và vì những dằn vật lương tâm mà người trong chuyện phải gánh chịu, mà nhà văn Doãn Quốc Sỹ viết rất thật về gia đình mình lúc ấy:
……………………..

Thế là gia đình tôi xuôi Vĩnh Yên, còn một mình tôi ở lại Sở Thông Tin Liên khu I. Công tác của tôi là đi tuyên truyền mười điều kháng chiến trong toàn huyện Yên Thế. Vì lưu động như vậy nên tôi cũng quên đi nỗi buồn gia đình phân cách đôi nơi. Nỗi buồn đó chỉ đến thắc mắc lòng tôi mỗi khi trở về trụ sở kiểm điểm công tác. Trụ Sở Thông Tin ở một làng bên tả ngạn sông Thương, gần một bến đò đẹp vào bậc nhất Bắc Giang, bến đò Lục Liễu. Để tăng phần thơ mộng cho cái tên đó tôi vẫn thường dịch nôm là "Bến đò liễu xanh".

Thư của em tôi tới báo cho hay gia đình đã tới tản cư cùng làng

với gia đình cậu mợ tôi. Làng đó ở ngay bến Rau, bên này là Vĩnh Yên, bên kia là Sơn Tây rất thuận tiện cho việc buôn bán.

Rủi thay, thầy mẹ tôi vừa đến Vĩnh Yên thì quân Pháp mở chiến dịch càn quét khắp vùng Sơn Tây rồi thiết lập thêm đồn quân dọc theo hữu ngạn sông Hồng từ Sơn Tây ngược lên đến Việt Trì. Các ngả đường giao thông với Liên khu III đều bị quân Lê Dương phục kích ráo riết.

Cậu tôi đã rơi vào ổ phục kích của chúng, dấn vốn khánh tận may thoát được người. Mẹ tôi phải ngừng chuyện buôn bán. (Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều)

*   *   *

Đọc "Chiếc Chiếu Chiếu Hoa Cạp Điều" khiến tôi chợt nhớ đến người em.Tôi  có người em trai đang sống lẽ loi trong gia đình. Lẽ loi vì nó không có người anh trai lớn gần kề để chỉ dẫn, bảo bọc, mà một đứa con trai nhỏ cần có. Nó thường đạp xe đi, về âm thầm từ một tiểu chủng viện. Nó ít nói, chỉ lặng lẽ một mình trong phòng khi về nhà mỗi cuối tuần. Không tới lui với bạn bè, không chơi banh, nó luôn âm thầm một mình. Có phải chăng vì thế, nó đã chọn dòng tu?

Những lần tôi về phép, anh em chỉ nói với nhau dăm câu rồi thôi. Có những đêm khuya tôi thức giấc nghe tiếng đàn mandolin nhè nhẹ vẵng ra từ phòng nó. Tôi nhìn qua khe cửa  khép hờ, thấy bóng nó đang ngồi ôm đàn bên cửa sổ. Trong bóng đêm, tôi thấy em tôi quá cô đơn ở lứa tuổi con trai đang lớn…Rồi tôi lại lên đường về đơn vị, nhiều tháng, hoặc nửa năm mới quay về một lần. Tôi vẫn nghe tiếng đàn cô lẽ của nó vang ra trong đêm khuya. Tôi không hiểu em trai tôi có tâm sự gì trong lòng? Nó yêu ai chăng? Nỗi thất vọng nào khiến nó buồn bã đến thế? Có đôi lần tôi ướm hỏi, nó chỉ mĩm cười lắc đầu nói: " Anh Hai đừng bận tâm về em nhiều. Em có hướng đi của em..

Tôi vẫn không gần gũi em tôi. Nó có muốn như thế không? Những ngày về phép tôi vẫn la cà với bạn bè trong các quán cà phê, vũ trường. Tôi không nhớ đến đứa em trai mỗi chiều đạp xe

âm thầm trở lại từ chủng viện (nó ở nhà thường hơn mỗi khi tôi về phép). Những đêm khuya chia tay lũ bạn, tôi trở về. Cả nhà, ba má tôi, hai đưa em gái đều đã đi ngủ. Chỉ riêng phòng người em trai vẫn còn ánh đèn. Nghe tiếng tôi nơi cửa, nó chậm rãi mở khóa cho tôi vào. Tôi chỉ hỏi qua loa: " em chưa ngủ sao?" Rồi không đợi nó trả lời, tôi đã đi thẳng vào nhà.Chắc nó đợi cửa và trông chờ anh trai mình trở về? Nó có điều gì muốn tâm sự với tôi chăng?

Lúc nhà tôi còn ở cạnh bãi đất rộng, trước một bờ sông. Mỗi chiều anh em tôi thường cùng nhau đi ra đó chơi. Lúc ấy tôi chưa bị động viên, vẫn còn đến giãng đường. Khoảng đất trống rộng bao la. Cỏ mọc hoang vu, chen lẫn dăm ngôi mộ đá rong rêu không biết của ai, và tự lúc nào? Tôi đã đốn trúc, vuốt nan, và dán cho em trai tôi chiếc diều giấy. Nó vui lắm, và cầm ống chỉ chạy vùn vụt trong gió ngược để kéo diều lên. Gió thổi phần phật trong các bụi lau, tuổi thơ sao dễ vui quá!

Có lần tôi cùng chúng bạn đang bơi lội ầm ỉ dười bờ sông, thì em trai tôi đến. Mẹ sai nó ra gọi tôi về ăn cơm. Đến nơi thấy tôi đang lội dưới nước, nó chợt nhảy đùng xuống và quơ tay chân đập nước loạn xạ! Nó chưa từng biết bơi, và cũng chưa được tôi cho tắm sông lần nào. Trong làn nước sủi bọt, tôi thấy nó biến mất. Hoảng hốt, tôi nhoài lại chỗ nó vừa nhảy xuống. Không thấy tung tích nó, tôi vội ngụp xuống lặn, hai mắt mở trừng trừng tìm kiếm trong làn nước đụt ngầu. Một vài phút sau, tôi thấy mái tóc nó đang vật vờ trước mặt, tôi liền túm lấy kéo lên mặt nước lội vào bờ. Lo sợ quá, tôi khóc thét lên khi thấy mặt nó tái xanh, mắt nhắm nghiền nằm im lìm trên bãi cỏ. Vài người lớn chạy đến, vác ngược nó lên để xốc nước từ phổi ra. Trời Phật thương em tôi, chỉ vài phút sau nó mở bừng mắt và nôn ọe, nước chảy òng ọc ra từ mồm, mũi…Tôi ôm chặc nó vào lòng, hôn nó và vừa khóc vừa nói: " em của anh tỉnh lại rồi. Mai này anh sẽ dạy em lội nghen.."

Đêm đó nó bị sốt. Tôi nằm bên cạnh, nhìn nó ngủ mà thấy thương em mình vô cùng…Tôi sẽ không đi tắm với lũ bạn nữa, để dạy em tôi bơi thật giỏi !

Rồi thời gian sau, tôi bị động viên và lên đường nhập ngũ. Tôi vẫn chưa thực hiện lời hứa sẽ dạy em tôi bơi. Chiếc sáo diều tôi làm cho nó đã bị băng giây bay mất, tôi mãi ham chơi với đám bạn cùng tuổi, nên vẫn chưa làm chiếc khác cho em tôi. Ngày tôi đi, nó buồn lắm. Hình như chỉ có tôi là bạn với nó mà thôi.  

*   *   *
Trở lại câu chuyện trong "Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều" . Nhân vật trong thuyện muốn em trai mình có chiếc chiếu đắp để chống rét, nên đã nói dối vì bản năng sinh tồn trong giây phút ấy. Nói xong rồi mới thấy thẹn với chính mình. Lương tâm trong sáng của một người lương thiện đã làm người anh thấy xấu hổ vì hành động mình. Dù rằng đó  là do lòng thương em mình thúc đẩy.

Tôi cũng thấy bùi ngùi, xúc cảm với lòng người mẹ thương con mình tha thiết. Nhà văn Doãn Quốc Sĩ đã viết một đoạn thật xâu xa:
……………..

" Câu chuyện vừa xong phần xã giao thường lệ thì ông ngửng nhìn thấy chiếc chiếu hoa cạp điều vắt ở giây thừng, ông đứng nhỏm dậy chạy lại kéo tuột xuống nói gọn:
- Chiếc chiếu này của tôi.

Mẹ tôi chợt có một cử chỉ phản ứng của một người mẹ gìn giữ con trong cơn nguy biến.
Người nói:
- "Ấy chiếc chiếu đó của nhà tôi..."

Mẹ tôi vốn là một Phật tử trung thành. Người chỉ nói được đến đấy thì lương tâm Phật tử trở lại và người lúng túng quay nhìn ra ngõ.
………………………

Nhà văn Doãn Quốc Sĩ đã viết lên nét độc đáo của người đàn bà truyền thống Việt Nam là đức tính hy sinh, cần cù, chịu khổ cực
gian lao để nuôi sống gia đình:
……………………..

"Nhưng đến ăn còn chẳng đủ làm sao chúng tôi mua được đôi chiếu bây giờ?

Hôm đó suốt từ sáng sớm đến trưa phi cơ bay từng đoàn bắn phá và dội bom liên tiếp xuống các chợ lân cận: chợ Me, chợ Vàng, chợ An Lạc... Mọi ngày chỉ khoảng bốn giờ chiều mẹ tôi có mặt ở nhà. Ngày đó giời đã xế chiều mà người vẫn chưa về. Toàn thể gia đình tôi bắt đầu sốt ruột tuy không ai nói một câu.

Chiều ngả màu xẫm. Gió bấc rít trong bụi tre già làm nền cho tiếng khàn khàn của lũ quạ lục đục trong ổ, gió bấc xoáy từng vòng cuồng loạn dứt từng vốc lá tre, lá bưởi vàng úa rồi lại nhào vút mất hút ra ngoài cánh đồng bát ngát hiu quạnh.
Mẹ tôi vẫn chưa về.
 
Trong óc tôi thoáng hiện những cảnh chợ bị phi cơ tàn phá, những hình người không kịp xuống hầm bị đạn chết gục bên cột lều tay còn quờ ôm những đồ hàng của mình, những hình người bị bom napalm thiêu rụi như những thân chuối cháy đen... Và tôi vùng ra cổng.
Thày tôi biết ý hẹn với:
- Con cứ thẳng đường ra bến Rau. Mẹ con thường về đường ấy.

Ra tới cổng làng, tôi đi như bay theo đường đã định, cổ họng nghẹn ngào, dạ cồn lên như lửa đốt. Con đường như rộng thênh thang, cánh đồng ngập trong bóng chiều xẫm và trong gió bấc, càng trở thành mênh mông. Tôi vun vút nhảy qua các hố phá hoại mà đi như một bóng ma cô độc đương muốn biến theo luồng gió.

Từ xa như có bóng người đi lại. Chắc người đó ở chợ Rau về. Để tôi phải hỏi tin tức về việc phi cơ oanh tạc hôm nay.

Hình như trên đòn gánh người đó có vắt ngang một cái gì.
Tôi lướt vội lên. Trời ơi, mẹ tôi!
Hai mẹ con mừng mừng tủi tủi như gặp nhau ở cửa âm ti.

Tôi hỏi: "Sao mẹ về muộn thế, cả nhà lo tưởng phát điên lên". Mẹ tôi cho biết hàng hôm nay bán ở chợ không hết, người phải

đi sâu vào một vài làng lân cận để bán nốt. Rồi khi xuống khỏi đê, qua cái lạch lớn, thấy có chiếc chiếu trôi, vội tìm cách vớt lên và giặt luôn bên lạch. Đó là chiếc chiếu còn khá tốt tuy chiều rộng bị xén đi mất một phần ba.

Mẹ tôi chỉ vào chiếc chiếu phơi trên đòn gánh nói:

- Về đến nhà thì chiếu vừa khô con ạ. Tối hôm nay thằng Tư - tên
thằng em út tôi - có chiếu đắp ấm."
.(Chiếc Chiếu Hoa Cạp điều)…
…………………………………………

Dù tôi không còn giữ lại cuốn tạp chí Sáng Tạo có truyện "Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều" bên mình. Sau bao biến cố thăng trầm của đời người, của thế sự, cuốn tạp chí ấy đã thất lạc góc trời nào. Hay cũng đã tan biến theo bao hưng phế cuộc đời, nhưng câu chuyện vẫn hằn sâu trong lòng tôi không nguôi. Nhà văn Doãn
Quốc Sĩ đã viết nhiều truyện khác, như:

Gìn Vàng Giữ Ngọc.
Người Việt Đáng Yêu.
Ba Sinh hương lửa.
Người đàn bà bên kia vĩ tuyến.
Sầu Mây.
Dòng Sông Định Mệnh v.v.


 Và mới xuất bản tại hải ngoại sau khi ông tới Mỹ:
 
Dấu chân cát xóa.
Người vái tứ phương.
Mình lại soi mình.


Và tôi  cũng lại  say mê đọc, vì ông viết truyện quá hay, quá thật…Đúng là ông đã "Gìn Vàng Giữ Ngọc" cho văn hóa Việt Nam. Những năm sau này cuối thế kỷ 20, 1996, tôi lại có dịp đọc cuốn "Vietnam: a Traveler's Literary Companion " do John Balaban  và Nguyễn Đức Quý  chủ bút.  Gồm 17 truyện, mà trong đó có bài viết Anh ngữ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, với tựa đề  " The Stranded Fish". Phải chăng ông muốn nói về thân phận của mình, như một nhà văn lưu vong, quê hương yêu dấu đã mất. Như một con cá mắc cạn, không còn dòng nước ngọt ngào phù sa chung quanh để vẫy vùng!

*   *   *
Như một mối tình đầu tiên. Như một nụ hôn đầu. Cái cảm giác bàng hoàng, rạo rực  vẫn luôn là thứ cảm giác không tìm lại được lần sau. Cái cảm giác của hơn nhiều chục năm về trước trong buổi chiều tà nơi công viên Tao Đàn vẫn luôn thấp thoáng hiện rõ trong tôi khi nghe ai đó nói về nhà văn Doãn quốc Sỹ. Cái cảm giác xúc động khi vừa đọc xong truyện "Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều". Buổi chiều ấy, khách nhàn du hóng mát trong vườn ông Thượng này chắc có người tự hỏi: "Quái, cái gã thanh niên kia làm gì mà ngồi đừ ra thế hàng giờ bên gốc cây?". Họ đâu biết rằng, tôi đang tưởng tượng nhìn thấy đất trời Vĩnh Yên trước mắt. Tôi tưởng như dòng sông Thương đang lượng lờ chảy qua bến đò Lục Liễu trong xanh, thơ mộng.

Mơ màng hơn nữa, tôi thả hồn xa tới ngọn núi Tam Đảo hùng vĩ. Nơi đây khí thiêng của hùm xám Yên Thế, anh hùng Hoàng Hoa Thám ngày trước còn vang dậy núi rừng. Len lõi qua những cánh đồng xanh mênh mông là dòng sông Cà Lồ thảnh thơi chảy xuống từ Sơn Tây, rồi chảy về Bắc Ninh đưa người đến hội hát Quan họ. Mùa mưa nước cuồn cuộn chảy. Chẳng bù cho mùa hạn sông chậm buồn trơ đáy, chơ vơ những bãi cát vàng nằm giữa lòng sông. Những ruộng đồng phì nhiêu do phù sa sông Hồng Hà bồi đắp bên tả ngạn từ ngàn đời, giúp người dân Vĩnh Yên trồng trọt nhiều loại hoa mầu xanh tốt.

Tôi cũng mơ như đang nghe các bài ca kháng chiến trong các liên khu. Tôi căm hờn nghĩ đến cảnh máy bay Tây đang bắn phá các xóm làng, và các dòng người dân chạy nạn đang tan tác chia lìa khắp các nẽo trời, núi rừng xa lạ.

Câu chuyện tình anh thương em trong truyện, đã  khiến tôi nhớ đến em trai tôi đang sống âm thầm trong một góc chủng viện. Cuộc đời nó tựa như đã đóng khung trong đó. Nơi có những

ngọn bạch lạp chập chờn trên các bàn thờ. Nơi có những tiếng cầu kinh buồn bã mỗi chiều, mỗi sáng. Nơi có những giờ giáo lý khô cằn như vị cố đạo già người Pháp đã ở lại với chủng viện này từ 1954. Và nơi mà trái tim con người được dạy dổ hướng thượng, về hình ảnh cây thánh giá khổ nhục. Tình yêu dâng hết cho thượng đế ba ngôi.

Chiều ấy, tôi ngồi trong một góc công viên Sài Gòn, gió chiều thổi lá khô lăn rào rạt trên lối đi.  Tôi tưởng như đang nghe tiếng đàn mandolin, lẽ loi đến tội nghiệp của em trai tôi trong những đêm khuya. Tôi cũng như thấy lại dòng sông đục ngầu sủi bọt, tôi lặn mò tìm nó đang trôi vật vờ trong đó. Em trai tôi vẫn đang sống cuộc đời lặng lẽ nơi quê hương. Uớc vọng trở thành linh mục của nó đã tan theo vận nước năm 75. Nó trở lại đời, xuất tu khi cha tôi qua đời từ trại tù cải tạo, và chủng viện phải đóng cửa. Nó cùng mẹ tôi và hai chị em gái về lại quê nội tìm sống. Sau đợt đánh tư sản, gia đình tôi trở thành nghèo khó. Đêm ngủ trời lạnh, tuy không phải đắp bằng chiếc hoa cạp điều nhặt được như trong truyện của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, nhưng là  những chiếc mền cũ  rách, vá víu chằng chịt.

Tôi vẫn không có mặt ở nhà với gia đình. Trong bức thư gởi, em tôi kể những lần phải đi qua các vùng khác tìm mua gạo ăn. Nó giả dạng như một người đánh đàn dạo. Chiếc  mandoline ngày trước được xử dụng để dấu gạo trong thùng đàn khi qua các trạm kiểm soát. Các em gái tôi cũng rời trường học lăn vào đời tìm sống. Tôi nhớ em tôi,  tôi không thể về để nghe tiếng đàn của nó mỗi đêm quạnh quẽ. Lần này tôi đã ở thật xa, hơn nửa vòng trái đất…

Phong Vũ
SUY TƯ VỚI 'DÒNG SÔNG ÐỊNH MỆNH' CỦA DOÃN QUỐC SỸ

- Quyên Di -

Tôi gặp Doãn Quốc Sỹ có mỗi một lần. Ðó là dịp đài phát thanh Saigon-Houston của Dương Phục – Vũ Thanh Thủy tổ chức họp mặt đầu năm. Dù chưa gặp nhau bao giờ, nhưng Doãn Quốc Sỹ niềm nở, thân tình với tôi như chúng tôi đã từng quen biết lâu năm. Tôi nghĩ có lẽ đó là cách cư xử bình thường của ông với tất cả mọi người, chứ nếu bây giờ hỏi ông rằng nhân dạng của tôi ra sao, chắc ông không nhớ đâu.

Chính vì thế, tôi không có nhiều kỉ niệm với Doãn Quốc Sỹ như nhiều văn thi hữu khác.

Nhưng nếu nói "văn tức là người", văn thế nào thì người như vậy, và, đọc văn cũng như chuyện trò, tiếp xúc với người, thì tôi "quen" Doãn Quốc Sỹ lâu lắm rồi, từ khi ông đã là một tiếng tăm lừng lẫy trong văn giới còn tôi chỉ là một cậu học sinh lớp đệ Tứ. Lí do là tôi đọc khá nhiều sách của ông, đọc rồi thích, phục và cảm. Tác phẩm của ông, tôi đọc truyện cổ tích Sợ Lửa, Hồ Thùy Dương; kịch Trái Cây Ðau Khổ; khảo luận Người Việt Ðáng Yêu, tùy bút Vào Thiền, Trái Ðắng Tràng Sinh; truyện dài - truyện ngắn U Hoài, Gánh Xiếc, Dòng Sông Ðịnh Mệnh, Gìn Vàng Giữ Ngọc, Ðốt Biên Giới, Cánh Tay Nối Dài, Cúi Ðầu, Sầu Mây; đặc biệt là bộ trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau,

mà hai tập tôi thích nhất là Người Ðàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến. Những tác phẩm sau năm 1975 của ông, tôi không đọc nhiều lắm.

Trong những tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ, có nhiều cuốn tôi đọc kĩ, đọc mà nghiền ngẫm, nhất là tập "truyện vừa" Dòng Sông Ðịnh Mệnh. (Tôi gọi là "truyện vừa", vì đó là một cuốn truyện dài mà ngắn, hay là một truyện ngắn mà dài thì cũng thế.)

Ở khía cạnh đọc văn thì không những tôi có chút kỉ niệm với Doãn Quốc Sỹ, mà mối liên hệ được nâng lên đến mức độ "suy tư" với tư tưởng của Doãn Quốc Sỹ.

Tôi muốn chia sẻ với các bạn về mức độ "suy tư" này.

Cuốn "Dòng Sông Ðịnh Mệnh" tôi hiện có trong tay do nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam chụp và in lại (không thấy đề năm xuất bản) gồm 146 trang, chia làm 10 chương. Nhân vật chính trong truyện là Thiệu. Thiệu quen và chơi thân với Yến từ khi cả hai còn tuổi ấu thơ. Thuở ấy Thiệu có vẻ là đàn anh, đã từng cứu Yến khỏi chết đuối, từng bẻ thỏi sô-cô-la cho Yến ăn, để rồi "thấy bên mép Yến có một vệt sô-cô-la màu nâu xẫm" và "thích vệt đó lắm." Lớn lên, Thiệu lên tỉnh Bắc Ninh trọ học, còn Yến lên học Hà Nội. Thỉnh thoảng về làng Thiệu có dịp gặp Yến cũng về, Thiệu thấy Yến càng lớn càng đẹp. Năm mười sáu tuổi, Thiệu biết ngắm trăng rằm và biết viết thư tỏ tình với Yến; Yến đọc thư nhưng trả lời Thiệu rằng: "Ðừng anh ạ." Câu trả lời có giọng bối rối chứ không phải là giọng hắt hủi nên Thiệu không bực mình và cũng không thất vọng. Thiệu chỉ không hiểu tại sao Yến lại trả lời như thế.

Năm mười bảy tuổi Thiệu đỗ bằng thành chung, nhưng rồi sau đó song thân lần lượt qua đời. Thiệu học ở Hà Nội, thỉnh thoảng có gặp Yến, nhưng bây giờ hai người đã lớn và biết ngượng. Có khi tan học thấy bóng Yến đạp xe phía trước, Thiệu đạp xe theo sau, nhưng khi theo Yến đến Bờ Hồ thì Thiệu thôi, vì đạp xe lên ngang với Yến thì Thiệu ngại, mà cứ đạp theo thì không biết đến bao giờ.

Thiệu vào học trường Mỹ Thuật. Thiệu có tài, tranh của Thiệu bán được giá. Còn Yến thì đi lấy chồng. Thiệu xem đây là "cái tang lòng" của mình. Thực ra cùng một lúc Thiệu có hai "cái tang lòng" vì sau khi Thiệu học trường Mỹ Thuật được ba năm thì trường tạm đóng cửa. Ðiều này chứng tỏ Thiệu yêu Yến và yêu nghệ thuật như nhau. Có thể nói hai tình yêu ấy là một.

Rồi Thiệu về ở nhà gia đình chị ruột ít lâu, sau đó vào Huế mở trường dạy học, theo lời rủ của một người bạn. Trên chuyến tàu tốc hành chạy xuyên Bắc-Nam, Thiệu cảm nhận rằng "giờ đây đời Thiệu với đời Yến như một dòng sông tách làm hai ngành cách biệt hẳn."

Thiệu ở Huế tới mười năm, lúc đầu dạy học bình thường, sau đó bí mật tham gia Mặt Trận Cứu Quốc rồi vào chiến khu. Ðó là giai đoạn cực kì rối ren của lịch sử dân tộc. Pháp, Nhật, quân Tàu của Lư Hán đều kéo vào Việt Nam. Các lực lượng kháng chiến nổi lên khắp nơi chống ngoại xâm. Ðói rách và tang tóc lan tràn. Phần Thiệu, vừa tham gia kháng chiến chàng vừa trau giồi nghệ thuật hội họa. Nhiều văn nghệ sĩ tìm cách vào chiến khu tham gia kháng chiến nhưng rồi họ lại lẻ tẻ trở về. Lí do "Ðảng lãnh đạo tỏ thái độ rất khinh khi tụi 'nghệ sĩ tiểu tư sản'."

Năm 1954, Ðiện Biên Phủ thất thủ. Hiệp định Genève được kí kết. Thiệu được các "đồng chí" cho lựa chọn: hoặc là tập kết ra Bắc, hoặc ở lại lĩnh công tác nằm vùng. Giờ đây Ðảng trở mặt ve vuốt tiểu tư sản và khuyến khích thành phần này lĩnh công tác "nằm vùng." Càng ngày Thiệu càng nhìn rõ sự xảo trá của Ðảng lãnh đạo nên không mắc mưu nữa, chàng lẳng lặng chọn con đường riêng của mình là trở về thành.

Thiệu vào Sài Gòn sau khi bắt được liên lạc với gia đình người chị. Sau đó chàng nhận lời một người bạn, làm tổng thư kí và phụ trách phần trình bày cho tuần báo "Nguồn Việt". Cũng tại Sài Gòn, Thiệu gặp lại Yến. Khi ấy, Yến đã góa chồng và là một dược sĩ, làm chủ một nhà thuốc tây. Hai người thân thiết với nhau như xưa. Một lần nữa Thiệu tỏ tình, Yến lại trả lời "Thôi anh Thiệu ạ!" Trả lời như vậy, nhưng "cả hai cùng bàng hoàng

như đôi trai gái hò hẹn và gặp nhau trong một đêm sáng trăng xuông."

Tình cảm hai người đang càng ngày càng dâng cao thì giữa hai bên có sự hiểu lầm. Một ngày kia Thiệu có hẹn với Yến, nhưng "bị" bạn bè văn nghệ rủ đi chơi xa và giữ lại quá giờ hẹn. Yến giận, cho rằng Thiệu không quan tâm đến mình đủ. Giai đoạn Yến giận Thiệu kéo dài, cho đến khi Thiệu nhận được học bổng sang Pháp du học ngành hội họa. Thiệu tìm gặp lại Yến, hôm ấy Yến đã hết giận thì Thiệu phải báo tin chàng đi xa.

Ở Pháp, sau khi học xong chương trình, Thiệu gặp Suzanne, một cô gái Pháp rất dễ yêu. Suzanne yêu nghệ thuật, đánh dương cầm giỏi và trọng tâm hồn Á Ðông của Thiệu. Thiệu thấy mái tóc Suzanne y hệt mái tóc Yến. Chàng gặp Yến trong Suzanne. Chàng thấy Yến và Suzanne là một. Hai người yêu nhau và lấy nhau.

Thiệu về Việt Nam trước, một tháng sau chàng và gia đình người chị đón Suzanne. Suzanne hội nhập nếp sống Á Ðông bằng cả tâm hồn. Nhưng giờ đây Thiệu thấy Yến tách rời khỏi Suzanne để trở thành một người độc lập, chứ hai người không lẫn vào nhau như khi Thiệu ở Pháp.

Yến thì đã tái giá, lấy một giáo sư đại học và cư ngụ ở Huế, mở một hiệu bào chế. Thiệu nghĩ còn lâu lắm chàng mới gặp lại Yến. Thiệu buồn, nhưng rồi đến một lúc chàng "ngộ" ra rằng dòng sông định mệnh đã đổ ra biển. Dòng sông ấy như "mở rộng đôi cánh tay nhỏ bé để ôm lấy Mẹ là biển cả, có còn khúc quành nào đâu?"

Thiệu yêu vợ. Nhưng Thiệu nghĩ rằng tình yêu chàng dành cho Yến vẫn thắm thiết. Kiếp này không lấy được nhau thì "nhất định kiếp sau em là vợ anh", vì "tình chúng ta chân thành."

Tôi hi vọng cách kể truyện tóm tắt và vụng về của tôi không làm sai lạc những ý tưởng và tình cảm chính mà Doãn Quốc Sỹ trình bày trong Dòng Sông Ðịnh Mệnh (nhất là phần kết.) Tôi bạo gan làm chuyện này, vì tôi muốn được chia sẻ với các bạn rằng, qua

Dòng Sông Ðịnh Mệnh, tôi đã gặp Doãn Quốc Sỹ, một Doãn Quốc Sỹ nhà giáo/nhà văn, một Doãn Quốc Sỹ đứng đắn, chững chạc, nghệ sĩ, lãng mạn, đam mê. Không những gặp Doãn Quốc Sỹ qua Dòng Sông Ðịnh Mệnh, mà, ở một mức độ nào đó, tôi còn gặp được chính tôi trong Dòng Sông Ðịnh Mệnh. Tôi nghĩ chẳng riêng tôi, mà tất cả người đọc đều tìm thấy một chút nào đó của mình trong Dòng Sông Ðịnh Mệnh. Thật tuyệt vời khi tác phẩm đạt được điều ấy.

Dòng sông là một hình ảnh được nhiều nghệ sĩ dùng làm biểu tượng hoặc để diễn tả tư tưởng, tình cảm của mình. Cũng như thế, là vầng trăng. Trong Dòng Sông Ðịnh Mệnh của Doãn Quốc Sỹ cũng có Sông và Trăng. Sông và Trăng gắn bó với nhau.

Trong "Biết Ðâu Nguồn Cội" của Trịnh Công Sơn, Sông là "quán trọ" còn Trăng là "tên lãng du." Sông ở một chỗ và trách Trăng rằng "Trăng ơi Trăng rất tệ" rồi dặn dò "mày đi nhớ chóng về." Nhưng trong "Dòng Sông Ðịnh Mệnh" của Doãn Quốc Sỹ thì Sông là chính Mình, còn Trăng là chân lí, là sự thiện, là vẻ đẹp của cuộc đời. Chân, Thiện, Mĩ kết lại thành một, đó là Trăng, biểu tượng cho lí tưởng đời mình.

Có điều ở đây Sông không phải là Mình số ít, mà là Mình số nhiều. Sông là cả Thiệu lẫn Yến, khi đời Mình có biến cố là lúc Sông có khúc quành, khi hai Mình xa nhau là Sông có khúc rẽ. Khi hai Mình gặp nhau là lúc hai nhánh sông nhập một. Khi Thiệu "ngộ" ra chân lí cuộc đời thì là lúc hai nhánh Sông cùng đổ ra biển, giống như hai cánh tay nhỏ bé mở ra để ôm lấy Mẹ.

Cuộc đời Doãn Quốc Sỹ, tác giả Dòng Sông Ðịnh Mệnh, cũng là một dòng sông. (Dòng sông này có mấy nhánh thì cái này tôi không biết à nhe.) Ðời tôi, một độc giả đọc Dòng Sông Ðịnh Mệnh cũng là một dòng sông. Mỗi chúng ta đều là một dòng sông. Trải dài theo thời gian và trải rộng theo không gian, có tỉ tỉ dòng sông cứ trôi, cứ chảy, để rồi cuối cùng đều đổ vào biển cả là Ðại Ngã. Ấy, đọc Dòng Sông Ðịnh Mệnh mà tôi cứ miên man suy tư như thế. Ông Doãn Quốc Sỹ làm tôi mệt quá, nhưng ông cũng làm cho cuộc sống nội tâm của tôi phong phú hơn, sâu thẳm hơn nhiều.

Với các bạn thích suy tư, tôi giới thiệu với các bạn một số câu trong Dòng Sông Ðịnh Mệnh, tôi thường lấy làm đề tài suy tư về cuộc đời, về chính mình:

Trời không trăng, đường không trăng, tuổi không trăng. Thà chết quách! (trang 26)

Con sông dài như tương tư, như thao thức và đương lần đường đi tìm ánh trăng mười sáu. (trang 30)

Màu vàng úa của vừng trăng gợi màu nâu thăm thẳm lấp loáng sáng của dòng sông. (trang 35)

Mình đã lớn phải biết tu tỉnh. (trang 38)

Khi đã một lần mắc đậu mùa, một lần mắc dịch tả… thì suốt đời người ta không mắc những chứng bệnh đó lần thứ hai nữa. (trang 49)

Cơn mưa đã đến, cỏ cây phải hồi sinh. (trang 52)

Yến không muốn lớn bằng thần thánh, Yến chỉ muốn lớn bằng người. (trang 78) (Có thể đổi tên Yến thành một tên nào khác, hay đổi Yến thành Mình, thành Tôi.)

Có những thứ hoa buông rủ ở ngoài hiên làm bạn với sương gió thì đẹp, như phong lan chẳng hạn; có những thứ hoa cắm trong lọ bầy trên bàn thì đẹp, như cẩm chướng, glaїeul chẳng hạn. (trang 84)

Làm sao nói hết được cái hoang vắng của khoảng trời chợt rụng mất vì sao đẹp? (trang 99)

Cuộc đời mà không có những cái vô lý như thế thì chán chết. (trang 105)

Còn gì buồn hơn khi xuôi dòng, con sông còn phải ngoái cổ lại thắc mắc về một khúc quành. (trang 108)

Tôi đoan chắc với các bạn là các bạn có thể tìm được rất nhiều câu khác trong Dòng Sông Ðịnh Mệnh để làm đề tài suy tư.

*

Ðấy! Kỉ niệm tôi gặp Doãn Quốc Sỹ như thế đấy. Tôi cám ơn ông đã cho tôi được gặp Ông, gặp Tôi, gặp Cuộc Ðời trong Dòng Sông Ðịnh Mệnh của ông. Tôi xin lỗi ông nhé, nếu bài viết ngắn này làm giảm mất giá trị tuyệt vời của Dòng Sông Ðịnh Mệnh.

QUYÊN DI

 

Sách Kỷ Niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ - Phần 2

 
Gửi góp ý
Tiêu đề
Nội dung

Những tin mới hơn

  • Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 3
    Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 3

    Nói Về Anh Liêm

    - Mai Thanh Truyết -

    G:\P1030171.JPG

    Việt Hải trong Văn đàn Đồng Tâm có điện thư cho tôi như sau:” Anh Truyết, cùng là nhà giáo, cùng là học trò LPK (Lycée  Petrus Ký) mà sao VH chưa bao giờ thấy anh nói hay viết về GS Nguyễn Thanh Liêm hết?”. Xin thưa, hôm nay, nhân gần đến ngày lễ thượng thọ cho anh Liêm do Văn đàn Đồng Tâm tổ chức, tôi cũng xin góp vài lời viết về anh Liêm của tôi. Trước hết, sở dĩ tôi gọi bằng anh Liêm, vì giữa tôi và anh Liêm có nhiều kỷ niệm với nhau trong suốt thời gian sinh hoạt cộng đồng ở tại đất nước Hoa Kỳ.

    (08/06/2011)
  • Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 2
    Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 2
    Untitled Document

    Những Trở Ngại Lớn Trong Việc Phát Triển Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay

    - Nguyễn Thanh Liêm -

    Việt Nam chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế, và trong thời gian không xa có thể sẽ trở thành thành viên của WTO và các tổ chức kinh tế khu vực. Nhưng muốn hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam phải có chất lượng và khả năng cạnh tranh, và muốn có chất lượng và khả năng cạnh tranh với các nước tân tiến thì Việt Nam trước hết phải có một nền công kỹ nghệ tân tiến tiếp cận với các nước đó. Giáo dục đóng vai trò then chốt trong việc đưa nước nhà ra khỏi cảnh chậm phát triển, nâng nước Việt lên hàng một quốc gia có nền khoa học kỹ thuật tân tiến...

    (08/06/2011)
  • Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 1
    Sách Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm - Phần 1

    Kỷ Niệm Về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm

    Nhà Văn Biên Khảo, Nhà Giáo Khả Kính.

     

     

    LEAD Technologies Inc. V1.01 Năm 2010

    Tủ sách: Đồng hành với những cây viết trẻ Vinh danh những nhà văn hoá nhân bản của VĂN ĐÀN ĐỒNG TÂM

    ISBN 987-0-98230922-3

    Copyright @ 2010 by Đồng Tâm

    (08/06/2011)
  • Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 6
    Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 6

    Phần Phụ Lục

    Lời Giới Thiệu

    Qua những trang sách của nhiều tác giả trình bầy trước đây, chúng ta đã có được một sự nhìn tổng thể về những hoạt động của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh qua bốn cái Nghiệp, Nghiệp Binh, Nghiệp Giáo, Nghiệp Văn, Nghiệp về ngành Khoa học Không Gian. Qua những lời giáo sư tâm sự cũng như những bài các thân hữu viết về ông, chúng ta cũng có thể mường tưởng được sự kính nể cùa chính phủ Hoa Kỳ, và của giới khoa học và giáo dục ở các nước tiền tiến đối với ông. Sự trân trọng này được thể hiện qua những bảng vinh danh, những sự bầu vào những Hàn Lâm Viện Khoa Học Quốc Tế, những thư mời chủ toạ những buổi hội thảo quốc tế hay thư mời tới giảng dậy đến từ các nước. Ban chủ trương đã được Hội Khuyến Học Truyền Thống Nguyễn Xuân Vinh cung cấp cho một số chứng liệu và chúng tôi đã lựa ra những bản văn cơ bản để trình bầy trong phần Phụ Lục này. Đặc biệt với những bảng vinh danh, chúng tôi chỉ trình bầy tượng trưng từ cấp tiểu bang trở lên mà thôi.

    (05/06/2011)
  • Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 5
    Sách Kỷ Niệm Về Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh - Phần 5

    Cuộc Đời Thành Tựu Khoa Học Của Joseph-Louis Lagrange, Toán Gia Lỗi Lạc Nhất Thế Kỷ 18   Bài viết này đưọc trích ra trong chương “Những Vương Công Trong Toán Học” của cuốn sách Vui Ðời Toán Học của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh. Mỗi bài viết là một câu chuyện thích thú được tác giả kể với ngòi bút bác học của mình. Ðiều đặc biệt ở đây là dù kể chuyện xẩy ra ở nước người, ông cũng đưa vào chút hình ảnh của quê hương và chen thêm kỷ niệm và tâm sự riêng của mình. Cuộc Đời Thành Tựu Khoa Học Của Joseph-Louis Lagrange, Toán Gia Lỗi Lạc Nhất Thế Kỷ 18

    (31/05/2011)
Tin tức
  • Phóng Sự Ra Mắt TTDT số 12 và Web site VDDT
    Phóng Sự Ra Mắt TTDT số 12 và Web site VDDT

    CHƯƠNG TRÌNH GIỚI THIỆU

    TUYỂN TẬP ĐỒNG TÂM SỐ 12 & WEB SITE

    www.VanDan-DongTam.org TẠI HOUSTON TEXAS VÀO NGÀY 15 THÁNG 05 NĂM 2011

    Từ mấy tuần trước ngày Giới Thiệu Sách (GTS), tôi đã nhận được thông báo qua email, và qua diễn đàn của Văn Đàn Đồng Tâm rằng: vào ngày 15- 5- 2011, Văn Đàn Đồng Tâm (VĐĐT) sẽ có buổi giới thiệu Tuyển Tập Đồng Tâm số 12, chủ đề Xuân Hy Vọng, và chính thức ra mắt web site vandan-dongtam.org, được tổ chức tại nhà hàng Phố Núi 8282 đường Bellaire, khu Southwest Houston. 

     

    (29/05/2011)
  • Doãn Quốc Vinh - ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’
    Doãn Quốc Vinh - ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’
      Doãn Quốc Vinh Dùng Nghệ Thuật Để ‘Cho Em Niềm Hy Vọng 9’

     

    Doãn Quốc Vinh, hậu duệ của nhà văn lão thành Doãn Quốc Sỹ - cố Vấn VĐĐT, đã sáng tác và thực hiện những tập thơ  được chuyền tay nhau qua các bạn hữu thân thương và những anh chị em trong gia đình của tác giả. Thơ anh chuyên chở nhiều tâm sự - như nhắn nhủ hay hồi tưởng về quá khứ. Những vần thơ âm hưởng lục bát thật ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một bầu trời thênh thang,  tình cảm của tác giả rộng mở chan chứa tình quê hương, dân tộc. Bằng vào sự thiết tha với gia đình cha mẹ anh em, với người tình, với bạn bè thân yêu, cho mọi người xa gần ngay cả với các thành viên của Đồng Tâm chúng ta nữa. Xin cám ơn họa sĩ DQV của ĐT vì ngoài những hoạ phẩm riêng cho TTĐT anh còn gửi thêm qua thi phẩm những nỗi niềm đau thương chua xót hay yêu thương trìu mến của tác giả đối với những điều trông thấy biểu hiện trong 4 tập thơ :  Lục Bát Tùy Bút ,  Lục Bát Đôi Bờ, Lục Bát Ru Hời  và  Lục Bát Tình của Doãn Quốc Vinh DOÃN QUỐC VINH với đêm dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng 9,” sẽ được tổ chức vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011, tại nhà hàng Mon Amour, thuộc thành phố Anaheim, California.

     

    Văn Đàn Đồng Tâm (VDDT) xin hân hạnh giới thiệu và thân mời quý văn thi hữu và đồng hương tham gia ủng hộ thật đông đảo.

     

     

    * * * * *

    Từ “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” Gần đây, tôi được dịp đọc lại “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” trên trang SángTạo.org. Đọc công khai, đọc bao nhiêu lần tùy thích. Càng đọc, càng thích. Càng đọc, càng u ẩn niềm quê. Càng đọc, càng muốn khóc cho cái điêu linh của quê hương, dân tộc, cho cái nhục nhằn của sinh linh. Càng đọc, càng muốn đi tìm tác giả, để cám ơn ông đã cho tôi được sống với đất nước trong một giai đoạn trước khi tôi chào đời. Càng đọc, càng nhớ lại cái lần đầu tiên gặp Doãn Quốc Sỹ trong cái tủ kính khóa chặt của ông Ngoại tôi ở một vùng quê miền Tây Nam đất Việt. Tôi đọc lén. Lén cái chính quyền sau 1975. Lén cả ông Ngoại tôi, vì sách quý, con nít biết gì mà động vào. Tuy sau này tôi mới biết, ông tôi không hề cấm con cháu đọc sách của ông, dù ông quý sách hơn cả vàng (nên tôi oai hùng mượn ông quyển “Ba Sinh Hương Lửa” và vác về nhà đọc một cách hết sức chính quy). “Ngàn vàng dễ kiếm, lời tốt khó tìm.” Quý là đúng. Và quý nhất là cái thông điệp mà nhà văn, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã trân trọng gửi gắm cho độc giả ở cuối truyện. Với cái ngôn ngữ giản dị và một tâm hồn thuần Nho, ông nói lên một sự thật và một thực tế mấu chốt của thời đại chúng ta. “Ở thế giới thực dân tư bản, người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn. Ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.” “Tình thương yêu rộng rãi và chân thành.” Tình thương yêu ấy, nó có mùi vị gì, màu sắc ra sao, kích cỡ thế nào, hình dáng làm sao? Theo tôi, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã xuất sắc trong việc tề gia, để câu trả lời nằm chính ngay trong huyết mạch lưu truyền của ông. Đến “Niêu Cơm Quê Nhà” Con nhà tông, nên chắc chắn phải giống lông giống cánh. Doãn Quốc Vinh, hậu duệ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, đã được bú mớm cái dòng sữa của mẹ và cái dòng tư tưởng của cha từ trong nôi. Doãn Quốc Vinh được biết đến nhiều như một họa sỹ, qua các cuộc triển lãm “Ao Nhà Lung Linh” hay “Chuyện Trò Với Lá,” vừa xuất thần trong bản sắc dân tộc, vừa bật tung những sáng tạo hiện đại. Nhưng Doãn Quốc Vinh cũng dính líu với chữ nghĩa, có lẽ vì cái duyên nghiệp viết lách còn quá nồng nàn giữa hai thế hệ của Doãn gia. Tôi đặc biệt quan tâm đến “Niêu Cơm Quê Nhà,” một bài thơ Doãn Quốc Vinh viết tặng cho người thân ở xa, khi anh còn ở tại Sài Gòn, vào năm 2005.

    Bài thơ dung dị và dân dã như cái niêu cơm, như ý niệm quê nhà, như mối tình thôn quê thuần nông nghiệp. Bài thơ được ‘nấu’ như thế này: “…lạy trời , lạy đất , lạy mây lạy cho lúa chín trĩu đầy hạt thơm lạy cho xó bếp nhiều rơm để tôi thổi chín niêu cơm quê nhà mời anh , mời chị ở xa ghé chơi … xơi chén cơm cà với tôi bát canh bông bí ngọt chồi vại dưa , khoanh cá, khúc dồi … chân quê dăm năm thu vén bộn bề này anh, này chị đường về nhớ chăng?” Doãn Quốc Vinh đã thể hiện “tình thương yêu rộng rãi và chân thành” một cách thật cụ thể trong bài thơ này. Anh cầu khẩn cho có được những điều kiện cần thiết để nấu một bữa cơm nhà quê, để mời những anh những chị đang sống xa quê, vài năm “thu vén bộn bề” một lần, về lại. Anh mong họ được hưởng lại cái không gian quê nhà ngay trên đầu lưỡi. Không dưng anh làm cho tôi thèm mùi khói rơm quá! Nhưng cái sự chuyên cẩn trong từng cái lạy, cái chọn món, cái ‘thổi’ cơm (rất dân dã, và hầu như chỉ còn ở thôn quê Việt Nam vì sự bành trướng của bếp ga, bếp điện) – tất cả bày ra một mâm cỗ của yêu thương, thông cảm, chia sớt. Người-ở-lại Doãn Quốc Vinh đã “chân thành” và cũng rất “rộng rãi” với tâm sức của mình khi đi ngược dòng thời gian, thổi một “niêu cơm quê nhà” để làm ấm lòng người đi xa. Cho đến khi chính anh cũng là người đang đi xa, thì anh lại tiếp tục ‘thổi’ cơm để gửi về cho những đồng bào ở lại, nhất là những đồng bào nghèo khó. Dùng hội họa để “Cho Em Niềm Hy Vọng 9” Doãn Quốc Vinh đã ‘thổi’ cơm cho những người nghèo khổ trên quê hương bằng cách nào? Anh không lạy trời lạy mây nữa. Anh vẽ. Anh đã chọn những bức tranh ưng ý của mình để bán gây quỹ cho SAP-VN tại đêm dạ tiệc “Cho Em Niềm Hy Vọng 9,” sẽ được tổ chức vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011, tại nhà hàng Mon Amour, thuộc thành phố Anaheim. Nếu tình người bàng bạc trong văn chương chữ nghĩa của cha con họ Doãn, thì tình người là một nếp sống hằng ngày trong gia đình này. Doãn gia đã cưu mang bao người cơ bần, ngay giữa lúc họ Doãn cũng phải đối diện với khó khăn thời chiến. Họ Doãn đã dùng cái “tình thương yêu rộng rãi và chân thành” để sống và làm chủ đạo cho dòng tộc mình. Cho nên việc họa sĩ Doãn Quốc Vinh đưa cái “tình thương yêu rộng rãi” ấy đến góp tay với SAP-VN để phục vụ đồng bào trong cảnh khốn cùng, âu chỉ là một việc tất yếu. SAP-VN, với tất cả những thành quả trong hoạt động từ thiện gần hai thập niên qua, đã đón nhận sự giúp đỡ hết mình của biết bao nhân tài và mạnh thường quân. Nhưng sự giúp đỡ của Doãn Quốc Vinh lần này làm cho tôi xúc động theo lũy thừa đôi, có lẽ vì anh diễn đạt cái ‘tình quê’ một cách tự nhiên và sâu sắc, nhất là qua những bài thơ và phát biểu của anh. Trong thời gian chuẩn bị cho ngày gây quỹ, thân mẫu của anh, bà Doãn Quốc Sỹ, nhũ danh Hoàng Thị Thảo, đã hấp hối và qua đời đầu tháng Chín tại Houston, Texas. Có lẽ bà là một trong những người đàn bà hạnh phúc nhất, vì đã có một người phối ngẫu giàu lòng nhân ái như vị văn tài Doãn Quốc Sỹ, đã cùng bà nuôi nấng những người con có tấm lòng tha thiết với quê hương và với đồng bào như Doãn Quốc Vinh. Kính mời quý đồng hương cùng đến, thưởng lãm những “niêu cơm quê nhà” mà Doãn Quốc Vinh đã ‘thổi’ bằng óc sáng tạo và nét cọ tài ba, để cùng SAP-VN thắp sáng tình quê trên những vùng nhân sinh nghèo khổ của quê hương. Nếu không có quý vị, “niêu cơm quê nhà” của Doãn Quốc Vinh sẽ không “chín” nổi vì thiếu lửa. Quý đồng hương có thể mua vé trước tại Nhà Sách Tự Lực (714 531 5290, 714 531 5290), hoặc Tiệm Kính Optometry (714 418 0190, 714 418 0190), hay qua email tại (sapvntix@gmail.com). Nếu có thắc mắc về chương trình gây quỹ, xin quý vị gọi số điện thoại 714-901-1997, 714-901-1997. Xin hẹn cùng ‘ăn cơm quê nhà’ với quý vị lúc 4:30 chiều ngày 16 tháng Mười, 2011 tại Nhà hàng Mon Amour (Mon Cheri 2 cũ), tọa lạc tại 3150 W. Lincoln Ave, #134, Anaheim, CA 92801.

     

    Trangđài Glassey-Trầnguyễn

     

     

     

    (10/10/2011)
  • Ra Mắt Tuyển Tập VDDT 12 - Xuân Hy Vọng
    Ra Mắt Tuyển Tập VDDT 12 - Xuân Hy Vọng

     

                               

     

    Thư Mời

    Văn Đàn Đồng Tâm (VDDT) trân trọng kính mời quý văn nghệ sĩ và đồng hương thân hữu, vui lòng dành chút thời gian đến tham dự buổi liên hoan văn nghệ giới thiệu tuyển tập VDDT số 12, chủ đề Xuân Hy Vọng, được tổ chức tại nhà hàng Phố Núi, địa chỉ 8282 Bellaire Blvd. Houston TX 77072, vào chiều Chúa nhật, ngày 15 tháng 05 năm 2011, từ 4PM đến 9PM.

     

    Chương trình gồm nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc, hấp dẫn do nhiều nghệ sĩ tham gia trình diễn (Hoàng Kim Khánh, Sonny Phan, Lệ Ngọc, Nguyệt Khánh, J. Ngọc, Nhật Hạnh, Phan Thanh, v.v…)

     

    Vào Cửa Tự Do. Phục vụ Ẩm Thực Miễn Phí.

    Tặng Quà Lưu Niệm. Dạ Vũ Vui Nhộn.

     

    Sự hiện diện của quý vị là một vinh dự và niềm khích lệ lớn lao đối với VDDT.

    Trân trọng kính mời

     

    Thay mặt Ban Tổ Chức

     

    Cù Hoà Phong

    281-975-9782

     

    P.S. Vì chỗ ngồi có giới hạn, xin quý vị vui lòng sớm ghi danh tham dự qua email vandandongtam@gmail.com hay điện thoại cho Tạ Xuân Thạc (281-370-0233), Cù Hoà Phong (281-975-9782) để nhận vé mời.

    Xin chân thành cám ơn.

     

     

                            

     

     

     

     

     

     

    (12/05/2011)
Quảng cáo
Nguyen Phi Loi
Northside Domestic & Import
Nguyen Quoc Dung
Tofu
Mark D.Le M.D.,P.A
KS Bellaire
nicolasdetal
Nhan Hien
drmainguyen
TRỢ CẤP TÀN TẬT – SSI
PharmTrustPharmacy